Tên của đóa hồng - Phần II - Chương 8
Chương 8: ĐÊM
Cuối cùng lọt vào Mê Cung.
Những người xâm nhập thấy ảo giác lạ lùng
và cũng như trong các Mê cung,
họ lạc đường.
Lần này, thầy trò tôi leo trở lên
phòng thư tịch theo lối cầu thang phía đông dẫn đến lầu cấm. Giơ cao ngọn đèn
lên soi trước mặt, tôi nghĩ đến lời của cụ Alinardo về Mê cung, và đón chờ những
điều kinh khủng xảy ra.
Bước lên cấm địa, tôi ngạc nhiên
thấy mình lọt vào một gian phòng không lớn lắm, có bảy bức tường không cửa sổ,
nồng nặc mùi ẩm mốc, thứ mùi ấy lan tràn khắp tầng lầu. Chưa có gì đáng sợ cả.
Căn phòng có bảy bức tường, nhưng
chỉ có bốn bức có cửa dẫn ra lối đi, kê giữa hai hàng cột nhỏ sát tường. Lối ra
khá rộng, có vòm trên đầu. Kê sát ba bức tường không cửa sổ là những chiếc kệ
khổng lồ, chất đầy sách, được sắp xếp rất gọn gàng. Mỗi kệ, mỗi ngăn, đều có gắn
một bảng đánh số hình cuộn, các số này hẳn nhiên trùng với các số tôi đã thấy
trong thư mục. Ở giữa phòng là một chiếc bàn cũng chất đầy sách. Tất cả sách đều
phủ một lớp bụi mỏng, chứng tỏ ít khi được phủi sạch. Sàn nhà cũng phủ đầy bụi.
Trên một vòm cửa là một bảng hình cuộn, vẽ lên tường mang dòng chữ “Apocalypsis Iesu Christi”[1]. Hàng chữ
tuy cũ nhưng không phai mờ. Sau đó, chúng tôi nhận thấy trong các phòng khác,
các bảng hình cuộn này đều được khắc khá sâu vào trong đá, rồi được tô màu theo
kiểu các họa sĩ vẽ bích họa trong giáo đường.
[1] (La Tinh): Sách Khải huyền
của Chúa Kitô.
Chúng tôi bước qua một cánh cửa và lọt vào một gian phòng khác. Phòng này
có một cửa sổ không gắn khung kính mà gắn những phiến thạch cao mỏng, hai bức
tường không cửa sổ và một cánh cửa hình dáng giống như cửa chúng tôi vừa bước
qua. Cửa này dẫn vào một căn phòng khác, cũng có hai bức tường không cửa sổ, một
bức tường nữa có đục một cửa sổ, và một lối đi mở ra đối diện chúng tôi. Tại
hai phòng này cũng có hai bảng hình cuộn, hình dáng tương tự như bảng chúng tôi
đã nhìn thấy ban nãy, nhưng mang dòng chữ khác. Bảng ở phòng thứ nhất ghi: “Super thronos viginti quatuor”[2] ở
phòng thứ hai ghi: “Nomen illi mors”[3].
So kích thước thì hai phòng tứ giác này nhỏ hơn phòng bảy cạnh mà thầy trò tôi
vào đầu tiên, còn phần đồ đạc, kệ tủ thì cũng giống như nhau.
[2] Hai mươi bốn vị niên trưởng
ngồi trên ngai.
[3] Tên nó là sự chết.
Chúng tôi bước vào phòng thứ ba. Phòng này không có sách và cũng không có bảng
hình cuộn. Dưới cửa sổ có một bàn thờ bằng đá. Phòng có ba cửa ra vào: cửa thứ
nhất là cửa chúng tôi vừa mới vào, cửa thứ nhì dẫn vào phòng bảy cạnh mà chúng
tôi đã đi qua, và cửa thứ ba dẫn vào một phòng khác. Phòng này cũng giống các
phòng kia, ngoại trừ bảng hình cuộn mang dòng chữ “Obscuratus est sol et aer”[4], báo hiệu trời và đất trở nên tối sầm
lại. Từ đây, người ta đi vào một phòng mới, bảng khắc mang chữ “Facta est grando et ignis”[5], đe dọa sẽ
có lửa loạn. Phòng này không có lối ra vào nào khác: đã vào thì không tiến thêm
được nữa mà phải quay lại.
[4] Trời đất tối tăm.
[5] Lửa loạn xảy ra.
Thầy William nói: - Thử nghĩ xem
nào. Năm phòng tứ giác gần như hình thang, mỗi phòng có một cửa sổ. Những phòng
này xếp chung quanh một phòng bảy cạnh không cửa sổ, có cầu thang dẫn lên. Thầy
thấy có vẻ ấu trĩ quá. Chúng ta đang ở trong ngọn tháp phía đông. Từ ngoài nhìn
vào, thế là đúng. Phòng trống quay mặt về hướng đông, cùng một hướng với khu
hát kinh của giáo đường, ánh bình minh sẽ soi rạng bàn thờ, thầy thấy như thế
là phải cách và tôn nghiêm. Theo thầy, ở đây chỉ có duy nhất một ý hay, đó là
việc dùng những phiến thạch cao mỏng thay cho những khung kính. Ban ngày, nó nhận
ánh sáng dịu, còn ban đêm thì ngay một ánh trăng cũng không lọt vào được. Giờ
xem thử hai cửa ra vào của phòng bảy cạnh dẫn đến đâu.
Thầy tôi đã lầm. Những người xây thư
viện đã tinh khôn hơn chúng tôi tưởng. Tôi không thể giải thích rõ chuyện gì đã
xảy ra, vì khi chúng tôi rời phòng trong tháp thì trật tự của các phòng trở nên
hỗn loạn. Có phòng có hai cửa sổ, có phòng có ba. Mỗi một phòng đều có một cửa
sổ, cho nên từ phòng có cửa sổ đi vào, chúng tôi cứ ngỡ tiến vào bên trong của Đại
Dinh. Phòng nào cũng có cùng một loại bàn, loại kệ, sách được sắp xếp gọn gàng
trông giống nhau như đúc, cho nên thoạt nhìn không thể biết được mình đang ở
đâu. Chúng tôi cố gắng đọc những bảng hình cuộn để định hướng. Một lần, chúng
tôi băng qua một phòng mang bảng “In
diebus illis”[6], và sau khi đi lang thang một lát, chúng tôi ngỡ mình đã
quay trở lại phòng đó. Nhưng chúng tôi nhớ cánh cửa đối diện cửa sổ dẫn vào một
phòng có bảng ghi: “Primogenitus
mortuorum”[7] nào ngờ chúng tôi chợt lọt vào một phòng khác cũng mang bảng
ghi: “Apocalypsis Iesu Christi”[8],
nhưng đó lại không phải là phòng bảy cạnh, nơi chúng tôi khởi hành. Sự kiện này
cho thấy đôi khi có vài phòng mang bảng khắc chữ giống nhau. Chúng tôi đã gặp
hai phòng mang bảng “Apocalypsis” kế
liền nhau, và ngay sau chúng là một phòng với bảng chữ “Cecidit de coelo stella magna”[9].
[6] Trong những ngày ấy.
[7] Con đầu lòng của người chết.
[8] Sách Khải huyền của Chúa Kitô
[9] Một tinh tú từ trời rơi xuống.
Nguồn gốc của các dòng chữ khắc
trên bảng thật quá hiển nhiên, đó là những câu thơ trong sách Khải huyền của
Thánh John, nhưng quả thực chúng tôi mù tịt không biết tại sao lại vẽ chúng lên
tường và đằng sau cách sắp xếp chúng có ẩn giấu một lôgíc nào chăng. Chúng tôi
càng hoang mang khi phát hiện có vài bảng được sơn màu đỏ chớ không phải màu
đen.
Có lúc chúng tôi lại đi lạc lại
vào phòng bảy cạnh đầu tiên, điều này dễ nhận ra vì cầu thang dẫn lên phòng
này. Chúng tôi tôi tiếp tục đi về hướng phải, cố tình đi xuyên thẳng từ phòng này
sang phòng khác. Đi được ba phòng thì bị một bức tường trống chặn lại. Lối ra
duy nhất dẫn vào một phòng khác cũng chỉ có độc một lối ra. Chúng tôi đi ra bằng
lối này và qua được bốn phòng nữa thì bị một bức tường khác chặn lại. Chúng tôi
ngược trở về phòng trước – phòng này có hai cửa – theo cánh cửa ban nãy chưa đi
để sang một phòng khác và lại một lần nữa lọt vào chính cái phòng bảy cạnh của
điểm xuất phát.
Thầy William hỏi: - Phòng mới nãy
chúng ta đi ngược lại tên là gì?
Tôi vắt óc nhớ lại và trong đầu
hiện lên hình ảnh một con ngựa trắng, bèn đáp: - “Equus albus”[10].
- Tốt. Ta hãy quay lại tìm phòng
đó.
Thật là dễ. Từ đây, nếu chúng tôi
không muốn đi ngược lại như nãy, chúng tôi có thể xuyên qua căn phòng mang tên:
“Gratia vobis et pax”[11]. Từ phòng
này, phía bên phải, chúng tôi tìm ra một lối đi mới, không dẫn về chỗ cũ. Nhưng
nào ngờ chúng tôi đột nhiên quay lại phòng “In
diebus illis” và phòng “Primogenitus
mortuorum”. Phải chăng đây là phòng chúng tôi vừa mới tới cách đây vài phút
hay phòng nào khác? Cuối cùng chúng tôi đến một phòng hình như chưa đặt chân đến
bao giờ, mang tên “Tertia pars terae
combusta est”[12]. Nhưng cho dù có biết phần thứ ba của trái đất đã bị cháy
rụi, chúng tôi vẫn mù tịt không biết mình đang ở đâu so với ngọn tháp phía
đông.
[10] Bạch mã.
[11] Cầu chúc ơn huệ và bình
an.
[12] Phần thứ ba của trái đất
bị cháy rụi.
Giơ cao đèn lên, tôi mạnh dạn bước vào những phòng kế. Một hình hài khổng lồ
khủng khiếp, lắc lư run rẩy đi về phía tôi như một hồn ma.
- Quỷ sứ! – Tôi hét lên và suýt đánh rơi ngọn đèn khi quay phắt lại, chạy
trốn vào vòng tay của thầy William. Thầy giằng lấy cây đèn trong tay tôi, gạt
tôi sang một bên rồi kiên quyết bước tới khiến tôi vô cùng thán phục. Thầy cũng
trông thấy một cái gì đó, vì thầy giật bắn người lùi lại. Đoạn thầy chồm tới và
giơ cao đèn lên. Thầy phá lên cười.
- Tinh vi thật. Chẳng qua chỉ là một tấm gương!
- Tấm gương à?
- Đúng thế, chiến sĩ hiên ngang của ta. Mấy phút trước đây trong phòng thư
tịch, con đã can đảm phóng theo một kẻ thù bằng xương bằng thịt, mà nay lại sợ
chính bóng mình. Đó chỉ là một tấm gương phản ánh, phóng lớn và bóp méo hình
bóng con.
Thầy nắm tay tôi dắt đến bức tường đối diện cửa vào phòng. Trên một tấm
gương gợn sóng, dưới ánh đèn gần hơn, tôi thấy hiện lên hai hình thể thô kệch
và méo mó của thầy trò tôi, chúng thay hình đổi dạng mỗi khi chúng tôi tiến gần
hoặc lùi xa.
Thầy William thích thú nói: - Con nên đọc vài bài khảo cứu về quang học. Những
người xây dựng thư viện hẳn đã nghiên cứu nó. Những nhà quang học giỏi nhất là
những người Ả rập, Alhazen đã viết bài khảo luận “Luận về những hình bóng”[13], trong đó, dùng những chứng minh hình
học rất chính xác, ông đã nói đến mãnh lực của những tấm gương. Tùy thuộc vào
cách chế tạo mặt gương, vài loại có thể phóng to những vật li ti nhất. Thí dụ
như loại kính của thầy. Những loại khác làm đảo ngược hoặc làm xiên xẹo hình ảnh,
soi một vật thành hai, hai vật thành bốn. Còn những loại khác, chẳng hạn như tấm
gương này, biến tên lùn thành người khổng lồ hay ngược lại.
[13] “De
Aspectibus”
- Lạy Chúa tôi! Như thế có phải đây là những hình ảnh mà vài người bảo đã gặp
trong thư viện không?
- Có thể. Quả là một ý rất hay, - Thầy đọc bản khắc trên tường, phía trên
kính: - “Super thronos viginti quatuor”[14].
Chúng ta đã gặp bảng khắc chữ này rồi, nhưng trong một cái phòng không có
gương. Còn phòng này lại không có cửa sổ và không phải hình bảy cạnh. Chúng ta
đang ở đâu nhỉ? - Thầy nhìn quanh và đến một kệ sách – Adso ơi, không có cặp mắt
kì diệu đó, thầy không thể hình dung được những sách này viết gì. Con đọc cho
thầy nghe vài tựa sách đi.
[14] Hai mươi bốn vị niên
trưởng ngồi trên ngai.
Tôi vớ lấy một quyển sách. – Thưa thầy, sách này không có chữ!
- Con nói gì vậy? - Thầy thấy chữ mà - Vậy con đọc cái gì?
- Con không đọc. Những cái này không phải là mẫu tự, cũng không phải tiếng
Hy Lạp để con có thể nhận ra. Chúng trông giống như sâu bọ, rắn rít, ruồi, muỗi,
phẩn…
- À, đó là chữ Ả rập. Có những cuốn sách khác như thế không?
- Thưa, có vài (cuốn?). Tạ ơn trên, cuốn này bằng tiếng La tinh đây. Al…
Al–Kuwarizmi, “Tabulae”.
- Những bản thiên văn của Al-Kuwarizmi do Adelard xứ Bath dịch. Một tác phẩm
cực hiếm! Tiếp đi con.
- Isa Ibn – Ali “Luận về mắt”[15].
Alkindi, “Luận về những tinh tú sáng ngời”[16].
- Bây giờ nhìn trên bàn xem.
Tôi giở một quyển sách lớn ở trên bàn ra. “Luận về muôn thú”[17], tình cờ lật ra một trang sách vẽ một con kì
lân đẹp mắt bằng những màu sắc rạng rỡ ngoạn mục.
[15] “De
Oculis”
[16] “De Radiis Stellatis”
[17] ”De Bestiis”
- Đẹp quá, - thầy William nhận xét vì vẫn còn thấy rõ hình ảnh minh họa -
Còn quyển sách kia?
Tôi đọc: - “Cuốn sách về đủ loại quái
vật”[18]. Sách này cũng có hình ảnh đẹp, nhưng con thấy cũ hơn.
[18] “Liber Montrorum de
Diversis Generibus”
Thầy William cúi sát mặt xuống quyển sách. - Quyển này do các tu sĩ Ái Nhĩ
Lan minh họa cách đây ít nhất năm thế kỷ. Còn quyển sách có kì lân thì gần đây
hơn, dường như làm theo kiểu Pháp. - Lại một lần nữa, tôi thán phục tài uyên
thâm của thầy tôi.
Chúng tôi vào phòng kế và xuyên suốt bốn phòng nữa, phòng nào cũng có cửa sổ,
chất đầy sách viết bằng ngôn ngữ lạ lùng, kể cả những sách viết về khoa học huyền
bí. Rồi chúng tôi đụng đầu một bức tường, nên buộc phải quay lại, vì năm phòng
cuối này thông suốt với nhau và không có lối ra nào khác.
Thầy William nói: - Căn cứ vào góc cạnh của bức tường, thầy nghĩ chúng ta
đang ở trong khối ngũ giác của một ngọn tháp khác, nhưng lại không có phòng bảy
cạnh ở trung tâm. Có lẽ chúng ta đã nhầm.
- Thế còn cửa sổ thì sao? Sao có nhiều cửa sổ thế? Mọi căn phòng không thể
đều nhìn ra ngoài được.
- Con quên cái lồng cầu thang ở trung tâm, từ trên nhìn xuống như cái giếng.
Nhiều cửa sổ chúng ta đã thấy hướng vào lồng cầu thang hình bát giác này. Ban
ngày, nhờ ánh sáng, chúng ta sẽ phân biệt được cửa sổ nào hướng ra ngoài, cửa sổ
nào quay vào trong, nhờ đó chúng ta có thể biết vị trí của mỗi phòng theo hướng
mặt trời. Nhưng khi hoàng hôn xuống thì không phân biệt được. Thôi ta trở lại.
Chúng tôi trở về phòng có tấm gương và trực chỉ cửa thứ ba. Chúng tôi nghĩ
trước đây mình chưa qua lối này. Trước mắt chúng tôi hiện lên một dãy ba hay bốn
phòng, và hướng về phía phòng cuối có ánh đèn.
- Có người đàng đó! – Tôi nghẹn giọng nói.
- Nếu thế, hắn đã trông thấy ánh đèn của chúng ta – Thầy William nói, nhưng
vẫn lấy tay che đèn. Chúng tôi ngần ngừ một lát. Ánh đèn kia vẫn tiếp tục lung
linh, không tỏ hơn cũng không mờ hơn.
Thầy William bảo: - Có lẽ chỉ là một ngọn đèn được đặt ở đó để các tu sĩ
tin rằng thư viện bị ma ám. Nhưng ta phải tìm ra. Con đứng đây, cứ che đèn. Thầy
sẽ cẩn thận đi tới.
Vẫn còn xấu hổ vì sự việc xảy ra trước tấm gương ban nãy, tôi muốn phục hồi
danh dự bèn bảo: - Không, để con đi. Thầy ở đây. Con sẽ thận trọng tiến đến.
Con nhỏ người và nhẹ hơn. Khi nào con thấy không có gì nguy hiểm, con sẽ gọi thầy.
Thế rồi tôi bước tới. Ép mình sát tường, đi rón rén nhẹ như mèo, tôi đi
xuyên suốt ba phòng và đến ngưỡng căn phòng le lói ánh đèn. Tôi trườn theo bức
tường đến cột dọc rầm cửa bên mặt và ghé mắt nhìn vào phòng. Không một bóng người.
Có một ngọn đèn đặt trên bàn đang chập chờn bốc khói. Nó có vẻ giống một lư
hương không nắp. Nó không có lửa ngọn, nhưng có một thứ ánh sáng tro âm ỉ đốt một
thứ gì đó. Tôi thu hết can đảm bước vào. Trên bàn bên cạnh lư hương có một quyển
sách màu sắc sặc sỡ mở sẵn. Tôi đến gần và thấy trên trang giấy có bốn sọc màu
khác nhau: vàng, son, ngọc lam, đất nung và một con quái vật khủng khiếp. Đó là
một con rồng khổng lồ mười đầu, kéo theo sau nó sao trời và dùng đuôi đập chúng
xuống đất. Đột nhiên, tôi thấy con rồng lớn lên bội phần, vảy bên hông nó hóa
thành một khu rừng, lấp lánh bọn cánh cam ào ạt bay ra khỏi trang giấy, lượn
vòng quanh đầu tôi. Tôi hất đầu ngẩng lên thì nhìn thấy trần nhà ép sát xuống
thân tôi, rồi nghe thấy tiếng rít của hàng nghìn con rắn, không khủng khiếp mà
lại quyến rũ. Rồi một phụ nữ hiện ra, tắm mình trong ánh sáng, kề mặt nàng sát
mặt tôi, hơi thở nhè nhẹ. Tôi thẳng tay đẩy nàng ra, và tay tôi dường như chạm
vào những quyển sách trên kệ đối diện vì nó mọc dài ra quá khổ. Tôi không còn
biết trời đất gì nữa. Ở giữa phòng, tôi thấy Berengar trừng trừng mắt nhìn tôi
và nhếch mép cười căm phẫn, đầy nhục dục. Tôi lấy tay che mặt và tay tôi giống
như móng có màng nhầy nhụa của chân cóc. Tôi nghĩ mình đã khóc to vì trong miệng
có vị chua. Tôi lao mình vào vực đen thăm thẳm, dường như đang há rộng mãi đưới
chân tôi, và tôi không biết gì nữa.
Tôi tỉnh dậy, tưởng chừng như mình đã trải qua nhiều thế kỷ, nghe có ai vỗ
vào đầu. Tôi nằm dài trên sàn nhà, còn thầy William đang vả vào má tôi. Mở mắt
ra, tôi thấy mình đang ở trong một phòng khác có treo bảng tên “Requiescant a laborius suis”[19];
Thầy William thì thầm vào tai tôi: - Tỉnh dậy, tỉnh dậy nào, Adso, không có
gì…
Tôi nói trong mê sảng: - Có đủ thứ… Con quái vật đằng kia…
- Không có quái vật nào hết. Thầy thấy con lảm nhảm ở dưới chiếc bàn đặt
quyển sách Mặc khải của nhóm Mozarab[20]. Nhưng thầy ngửi mùi, biết ngay con đã
hít một chất gì đó nguy hiểm nên phải bồng con đi ngay. Đầu thầy hãy còn choáng
váng.
- Nhưng con đã thấy gì?
- Không thấy gì cả. Quả thật ai đó đã đốt một chất gì đó có khả năng gây ảo
giác. Thầy nghe mùi quen quen: đó là một chất của người Ả Rập. Vậy là chúng ta
đã giải thích được sự bí ẩn của ảo giác. Ai đó ban đêm đã bỏ các loại dược thảo
huyền ảo vào đấy để dọa khách không mời rằng có những hồn ma canh gác thư viện.
Thế con cảm thấy thế nào?
[19] Cầu mong họ yên nghỉ
sau khi lao động nhọc nhằn.
[20] Nhóm Mozarab: Nhóm
Thiên chúa giáo Tây Ban Nha đã cải cách đạo Thiên chúa trong người Moors đô hộ
nước họ.
Tuy vẫn còn hoang mang, tôi cố hết sức hồi tưởng ảo giác của mình và kể cho
thầy William nghe. Thầy cười bảo: - Phân nửa điều con kể xuất phát từ trí tưởng
tượng dựa trên những gì con thoáng thấy trong quyển sách, phần còn lại nói lên
ước vọng và nỗi sợ hãi của con. Đây là tác dụng do một số cây thuốc tạo ra. Mai
chúng ta sẽ nói chuyện này với Severinus. Thầy nghĩ Huynh ấy biết nhiều hơn
chúng ta tưởng. Chúng thuần túy chỉ là dược thảo, không cần đến sự pha chế quỷ
quái như Sư huynh ngành kính đã bảo ta. Dược thảo, gương soi… Nơi tàng trữ những
kiến thức cấm kỵ này được canh giữ bởi vô số công cụ xảo quyệt nhất. Người ta
dùng kiến thức để che đậy, chớ không phải để quảng bá. Thầy không thích thế. Một
tâm trí bệnh hoạn đã chế ngự việc canh giữ thư viện. Nhưng đêm nay vất vả quá rồi,
chúng ta phải đi thôi. Con đã bị thất thần, cần có nước và khí trời. Cố mở các
cửa sổ này cũng hoài công, vì chúng quá cao, và có lẽ đã đóng kín mấy chục năm
nay rồi. Sao người ta lại có thể nghĩ rằng Adelmo đã từ đây lao mình xuống vực
nhỉ?
Thầy William bảo “Đi”. Nghe thì dễ.
Chúng tôi biết chỉ có thể lên thư viện bằng tháp phía đông. Nhưng bây giờ chúng
tôi đang ở đâu? Chúng tôi đã hoàn toàn lạc hướng. Chúng tôi lang thang, sợ rằng
sẽ chẳng bao giờ thoát ra nơi này. Tôi vẫn lảo đảo và buồn nôn. Thầy William
hơi lo cho tôi và bực mình vì kiến thức của mình còn hạn chế. Nhưng việc đi
lang thang này giúp cho thầy nảy lên một sáng kiến cho ngày hôm sau: chúng tôi
sẽ trở lại thư viện - cứ cho rằng sẽ không bao giờ ra được - dùng một thanh củi
cháy dở hoặc vật gì đó có thể lưu lại dấu vết trên tường.
Thầy William ngâm nga: - Muốn tìm
đường ra khỏi Mê cung chỉ có một cách duy nhất. Tại mỗi giao điểm chưa hề qua,
ta sẽ vạch đường đi bằng ba dấu hiệu. Nếu thấy con đường dẫn đến giao điểm đã
đánh dấu rồi, mình phải hiểu rằng mình đã đi qua đó rồi, vậy mình chỉ vạch một
dấu lên con đường vừa đi qua. Nếu tất cả cửa đều được đánh dấu thì mình phải
lùi bước. Nhưng, nếu một trong hai lối ra của giao điểm chưa được đánh dấu,
mình sẽ chọn một và vạch hai dấu lên đó. Khi qua lối chỉ có một dấu, mình phải
vạch thêm hai dấu nữa để tạo thành ba. Khi đến một giao điểm mà không bao giờ
dùng lối đi có ba dấu, trừ khi tất cả các lối đi khác đều đã có đánh dấu, thì
biết rằng mình đã đi khắp Mê cung.
- Làm sao thầy biết thế? Thầy là
chuyên gia về các Mê cung à?
- Không, thầy ngâm lại một đoạn
sách xưa mà thầy đã đọc.
- Và nhờ áp dụng nguyên tắc này,
thầy sẽ ra được à?
- Theo thầy thì hầu như không bao
giờ. Dầu sao chúng ta phải cố. Vả lại, trong vòng mai hoặc mốt, thầy sẽ có mắt
kính và thời gian để nghiền ngẫm thêm sách. Nếu thứ tự các bảng hình cuộn còn
mơ hồ thì cách sắp xếp sách sẽ giúp chúng ta rút ra một nguyên tắc.
- Thầy sẽ có kính à? Làm sao thầy tìm ra chúng?
- Thầy sẽ đặt làm kính mới. Thầy biết Sư huynh ngành kính rất háo hức đợi một
dịp thế này để thử một cái gì mới. Miễn là Huynh ấy có đồ nghề thích hợp để mài
những mảnh kính. Còn nói về kính thì trong xưởng làm việc đó có rất nhiều.
Khi chúng tôi đi lang thang tìm đường ra thì bỗng nhiên ngay chính giữa một
căn phòng, tôi cảm thấy một bàn tay vô hình vuốt lên má tôi, trong khi đó, một
tiếng rên rỉ nửa người nửa thú, vang lên trong phòng đó và phòng bên, như thể một
hồn ma đang bay vất vưởng từ phòng này sang phòng khác. Lẽ ra, tôi phải chuẩn bị
đón nhận những điều kì quái trong thư viện, nhưng một lần nữa, tôi khiếp sợ và
nhảy lùi lại. Thầy William chắc hẳn đã gặp cùng cảnh ngộ như tôi, vì thầy cũng
sờ lên má khi giơ đèn lên cao nhìn quanh quất.
Thầy giơ một tay và xem xét ngọn lửa, bây giờ có vẻ sáng hơn, rồi liếm một
ngón tay đưa thẳng ra trước mặt.
- Rõ rồi! – Thầy nói và chỉ cho tôi hai điểm ngang đầu trên hai bức tường đối
diện, có hai kẽ nhỏ, và nếu người ta để tay gần đó, sẽ cảm thấy khí lạnh từ
ngoài luồn vào. Khi kề tai gần chúng, ta nghe tiếng xào xạc như tiếng gió thổi
bên ngoài.
- Dĩ nhiên, thư viện phải có hệ thống thông gió. Bằng không, bầu không khí
sẽ ngột ngạt, nhất là vào mùa hè. Ngoài ra, các kẽ hở đó cung cấp đủ độ ẩm, thế
nên các bản da sẽ không bị khô. Nhưng sự khôn ngoan của các nhà sáng lập thư viện
không chỉ có thế. Họ biết chắc rằng đục những kẽ hở theo một tọa độ nhất định
nào đó thì vào những đêm có gió, các luồng gió thổi qua những kẽ này sẽ gặp những
luồng khác rồi xoay vần suốt tất cả các phòng bên trong, tạo ra âm thanh ma
quái ban nãy chúng ta đã nghe. Cùng với gương và thuốc mê, điều này sẽ khiến
cho những kẻ liều lĩnh đột nhập vào đây thêm sợ hãi. Thế nên, chính chúng ta đã
có lúc tưởng ma thổi vào mặt. Giờ đây, nhờ gió mạnh nên chúng ta mới vỡ lẽ ra.
Vậy điều bí ẩn này giờ đây cũng đã sáng tỏ. Còn chúng ta thì vẫn không biết lối
nào ra!
Vừa nói chuyện, chúng tôi vừa hoang mang đi lung tung, không buồn đọc những
tấm bảng hình cuộn, cái nào cũng giống cái nấy. Chúng tôi đến một căn phòng bảy
cạnh khác, rồi xuyên qua các phòng kế cận, nhưng vẫn không thấy lối ra. Chúng
tôi lùi lại, đi gần một giờ đồng hồ, không chủ tâm định vị trí mình đang ở đâu.
Có lúc thầy William cho rằng chúng tôi đã thất bại, và chỉ có việc vào phòng
nào đó ngủ tạm rồi hi vọng sáng mai, Malachi sẽ tìm thấy chúng tôi. Đang còn
than thân trách phận đã dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm này thì chúng tôi
đột nhiên thấy lại căn phòng có cầu thang dẫn lối lên. Chúng tôi thành tâm tạ
ơn trên và hớn hở đi xuống.
Khi vừa đến nhà bếp, chúng tôi chạy ào đến cửa lò và chui vào hành lang
trong lò thiêu xương. Tôi thề rằng, bây giờ các đầu lâu đang nhe răng trông
cũng dễ thương như những nụ cười của các bạn thân. Chúng tôi vào lại giáo đường
và ra ngoài theo cửa bắc, rồi cuối cùng vui mừng ngồi lên những mộ bia. Không
khí trong lành ban đêm ngát hương thiêng. Sao trên trời chiếu sáng, và các hư ảnh
tôi nhìn thấy trong thư viện lùi xa mãi.
Tôi nhẹ nhõm nói: - Thế giới sao huy hoàng quá, còn Mê cung sao u ám lạ.
- Thế giới sẽ huy hoàng biết bao nếu mình biết cách đi lại trong Mê cung.
Chúng tôi men theo cánh trái của nhà thờ, đi qua một cửa lớn, băng ngang
nhà nguyện để đến nhà nghỉ của những người hành hương. Tu viện trưởng đã đợi sẵn
tại cửa, nghiêm khắc nhìn chúng tôi chằm chặp, và nói với thầy William:
- Cha đã kiếm con suốt đêm, không thấy con ở trong phòng, cũng không thấy
trong nhà thờ…
- Chúng con đuổi theo một dấu vết… - Thầy William nói một cách mơ hồ, lộ vẻ
bối rối.
Tu viện trưởng nhìn thầy một hồi lâu rồi chậm rãi và nghiêm nghị nói: - Cha
đã tìm con ngay sau Kinh Tối. Berengar không có trong khu hát kinh.
- Cha muốn nói chi? – Thầy William vui mừng hỏi. Giờ thầy đã biết rõ ai đã
phục kích chúng tôi trong phòng thư tịch.
Tu viện trưởng nhắc lại: - Huynh ấy không có trong khu hát kinh vào giờ
Kinh Tối, và giờ cũng chưa về phòng mình. Kinh Sớm sắp điểm, chúng ta sẽ thử
xem Huynh ấy có dự lễ không. Nếu không, Cha nghĩ sẽ có một tai ương mới.
Vào giờ Kinh Sớm, Berengar vẫn vắng mặt.

