Liêu Trai chí dị (Tập 2) - Quyển XIV - Chương 280 - 286

280. Tiền mưa[1]

[1] Vũ tiền.

Có một
người học trò ở huyện Tân Châu (tỉnh Sơn Đông) đang đọc sách trong phòng học
thì có tiếng gõ cửa, ra xem thì thấy một ông già tóc bạc phơ, dáng vẻ thoát tục,
bèn mời vào, hỏi họ tên. Ông già tự xưng họ Hồ tên Dương Chân, vốn là hồ tiên, vì
hâm mộ ông là người cao nhã nên tới xin được kết bạn hôm sớm. Người học trò vốn
tính khoáng đạt nên cũng không ngờ sợ, bèn cùng nhau bàn luận cổ kim. Ông già
học rộng biết nhiều, nghị luận văn hoa hùng hồn, phun châu nhả ngọc, nói về
kinh nghĩa thì lý luận sâu sắc, ý tứ lạ lùng. Người học trò rất khâm phục, giữ
ông già ở lại rất lâu. Một hôm, y khẩn cầu: “Ông thương ta hiền lành phúc hậu, nhưng vẫn
nghèo khổ thế này, mà ông chỉ trở tay một cái là có vàng bạc ngay, sao không
chu cấp cho đôi chút?” Ông già “hừ” một tiếng như thấy không được, nhưng lát
sau lại cười nói: “Việc đó rất dễ, nhưng phải có mười đồng tiền làm vốn.” Người
học trò đưa ra đủ số, ông già bèn cùng y vào phòng kín, giẫm chân đọc chú. Giây
lát hàng trăm vạn đồng tiền từ xà nhà loảng xoảng rơi xuống như mưa rào, trong
chớp mắt ngập tới đầu gối, rút chân lên lại ngập tới đùi, cả một căn nhà rộng
mà tiền ngập tới ba bốn thước. Ông già quay lại hỏi: “Ông vừa ý chưa?” Y đáp: “Đủ rồi.” Ông già vẫy
tay một cái, mưa tiền ngừng lại, rồi cùng đóng cửa cài then đi ra. Người học
trò mừng thầm, cho rằng đã trở nên giàu có, nhưng lát sau vào lấy ra dùng thì
gian phòng đầy tiền đã rỗng không, chỉ còn mười đồng làm vốn nằm trơ ra ở đó.
Người học trò thất vọng, tức tối chửi mắng ông già lừa dối. Ông già giận dữ nói:
“Ta vốn là bạn văn chương chữ nghĩa chứ không định làm giặc cùng với ông. Muốn
được như ý học trò nhà ông thì cứ kết bạn với bọn trèo tường khoét vách, chứ
lão phu không thể vâng mệnh,” rồi phẩy áo bỏ đi.

281. Hai ngọn đèn lồng[1]

[1] Song đăng.

Ngụy Vận
Vượng người Bàn Tuyền huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) vốn là con nhà đại gia thế
tộc, về sau sa sút không thể học hành, năm hơn hai mươi tuổi phải bỏ học, theo
cha vợ làm nghề bán rượu. Một đêm Ngụy ngủ một mình trên lầu trong quán rượu, chợt
nghe có tiếng bước chân, giật mình vùng dậy lắng tai nghe ngóng, tiếng bước
chân càng gần, kế lên cầu thang càng lúc càng mau. Không bao lâu thấy có hai tỳ
nữ cầm đèn lồng tới ngay đầu giường, phía sau là một thư sinh trẻ tuổi dắt một
cô gái tới cạnh giường cười khẽ. Ngụy vô cùng ngạc nhiên nhưng biết ngay là hồ,
toàn thân nổi gai ốc, cúi đầu không dám liếc lên. Thư sinh cười nói: “Ông đừng
đoán bậy, em gái ta với ông có tiền duyên, đêm nay nên thành thân.” Ngụy nhìn
thấy thư sinh mặt áo lông điêu rực rỡ lóa mắt, tự thẹn mình rách rưới nhơ bẩn, cúi
mặt không biết đối đáp thế nào, thư sinh dắt hai tỳ nữ cầm đèn bỏ đi.

Ngụy lén
nhìn cô gái, thấy lộng lẫy như tiên, trong lòng rất thích nhưng thẹn mình xấu
xí, không thể cất lời suồng sã. Cô gái cười nói: “Chàng không phải là bọn học
trò, cần gì phải làm như lối bọn có học,” Ngụy mới vui vẻ. Trời chưa sáng, hai
tỳ nữ lại tới đưa cô gái đi, hẹn tối lại tới. Tối hôm sau quả nhiên cô gái lại
tới, cười nói: “Anh chàng ngây này có phúc gì mà không tốn một đồng lại được
người vợ đẹp như thế này, tối tối tự tìm tới.” Ngụy bày rượu ra cùng uống, chơi
trò giấu vật trong tay đánh đố, mười lần thì cô gái thắng tới chín, bèn cười nói:
“Chẳng bằng để thiếp giấu cho chàng đoán, trúng thì thắng, thua thì phạt, chứ
để thiếp đoán thì chắc chắn là chàng thua.” Nguy theo lời, suốt đêm lấy đó làm
trò vui. Nửa năm sau Ngụy về nhà, đang đêm trăng nói chuyện với vợ cạnh cửa sổ,
chợt thấy cô gái ăn mặc đẹp đẽ ngồi trên đầu tường vẫy. Ngụy ra gặp, cô gái đưa
tay kéo cùng leo ra ngoài rồi cầm tay Ngụy nói: “Hôm nay vĩnh biệt chàng, xin
tiễn nhau vài bước, gọi là tình nghĩa quen nhau nửa năm.” Ngụy hoảng sợ hỏi lý
do, cô gái đáp: “Nhân duyên vốn có định số, cần gì phải nói.” Cùng nhau chuyện
trò, ra tới ngoài thôn thì hai tỳ nữ cầm đèn ngày trước đã đứng chờ, cùng nhau
lên núi Nam Sơn, tới chỗ cao lại từ biệt, Nguy giữ lại không được, ba người đi
luôn. Ngụy đứng thẫn thờ bàng hoàng, nhìn theo hai ngọn đèn lập loè xa dần đến
lúc không thấy gì nữa mới buồn rầu trở về. Đêm ấy trên đầu núi có ánh đèn lửa, người
trong thôn đều nhìn thấy.

282. Vợ lẽ đánh cướp[1]

[1] Thiếp kích tặc.

Anh Mỗ
nhà thế gia ở phía tây huyện thành Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) rất giàu có, có một
người thiếp rất xinh đẹp. Nhưng người vợ cả đối xử rất tàn tệ, đánh đập chửi
mắng cả ngày, người thiếp vẫn hầu hạ rất kính cẩn. Mỗ thương xót, thường lén an
ủi, người thiếp cũng không bao giờ tỏ lời oán hờn. Một đêm có mấy mươi tên cướp
trèo tường vào phá tan cửa vách, Mỗ và vợ kinh hồn táng đảm, run cầm cập không
biết làm sao. Người thiếp vùng dậy, lặng lẽ không nói một tiếng, rón rén mò
trong phòng tìm được một cái đòn gánh, tung cửa xông ra. Bọn cướp dạt cả ra, người
thiếp múa đòn gánh vù vù đánh ngã năm sáu tên, chúng hoảng sợ chạy tan, quýnh
quáng không kịp trèo qua tường, chỉ bò lê bò càng trợn mắt há miệng, hồn phi
phách tán. Người thiếp chống đòn gánh xuống đất, nhìn khắp mặt chúng cười nói:
“Các ngươi không đáng cho ta đánh mà cũng học làm ăn cướp, ta không giết các
ngươi đâu, giết thì mang tiếng ta,” rồi tha cho cả bọn về.

Mỗ cả sợ,
hỏi sao biết võ nghệ, người thiếp đáp: “Cha thiếp là thầy dạy võ, thiếp học
được hết tài nghệ của cha, cho dù trăm người cũng địch được.” Vợ Mỗ rất sợ, lại
hối hận ngày thường mê muội không biết người, từ đó lúc nào cũng hòa nhã với
người thiếp, nhưng người thiếp vẫn kính cẩn như cũ. Đàn bà láng giềng có người hỏi:
“Bà chị đánh lũ cướp như đánh heo đánh chó, sao trước đây lại cam cúi đầu chịu
roi vọt?” Người thiếp đáp:
“Đó là số phận của ta, chuyện khác làm sao dám nói.” Người nghe chuyện đều khen
là hiền đức.

Dị Sử thị
nói: Thân mang võ nghệ cao cường mà suốt mấy năm không ai biết, sau cùng lại
đánh cướp ngăn họa, biến chim ưng thành chim cưu. Than ôi! Kẻ bắn trúng chim
trĩ mới thấy vợ nhà cười, người đánh bạc thắng nên công chúa mới cùng về[2], giỏi mà không thể cậy tài tự cho là mình
giỏi cũng như thế chăng?

[2] Biến chim ưng thành chim cưu là chữ
trong Lễ ký, Nguyệt lệnh, nói chim cưu ưng có thể biến hóa, lúc giết mồi kiếm
ăn bình thường thì hóa thành chim cưu, lúc phải giết đối phương để tự vệ mới
hóa thành chim ưng, dùng ví với người nhân đức, đây chỉ việc người thiếp tha
chết cho bọn cướp. Kẻ bắn trúng chim trĩ lấy tích Giả Đại phu nước Lỗ thời Xuân
thu xấu trai mà cưới vợ đẹp, ba năm liền nàng không cười không nói, Giả Đại phu
dong xe đưa nàng tới đất Như Cao, bắn được con chim trĩ, lúc ấy nàng mới tươi
cười. Người đánh bạc thắng lấy tích Tiết Vạn Triệt cưới Đơn Dương công chúa con
Đường Thái Tông, nhưng là người rất ngây ngốc nên công chúa hổ thẹn, mấy tháng
liền không chịu ngủ chung. Thái Tông nghe biết phì cười, đặt tiệc gọi tất cả
các con rể tới sai cùng đánh bạc, rồi giả thua rút thanh bội đao đeo ở lưng ra “gán”
cho Vạn Triệt, lúc ấy công chúa mới vui mừng bảo Vạn Triệt lên ngồi cùng xe về
nhà.

Phụ: Một truyện trong Trì Bắc Ngẫu Đàm[3]

[3] Trì Bắc Ngẫu Đàm nhất tắc.

Anh Mỗ ở
phía tây huyện thành Ích Đô có người thiếp rất đẹp nhưng gặp vợ cả tàn ác, ngày
nào cũng đánh đập chửi mắng, người thiếp chịu đựng không hề oán thán. Một đêm
bọn cướp vào nhà, vợ chồng hoảng sợ không biết làm sao, người thiếp ngầm tìm
được một cây gậy, mở cửa xông ra, múa gậy đánh ngã mấy tên, bọn còn lại bỏ chạy,
hết. Người thiếp lớn tiếng quát: “Bọn chuột không đáng làm bẩn gậy của ta, tha
cho chúng bay đấy, lần sau đừng tới tìm cái chết.” Bọn cướp chạy rồi, người
chồng hỏi học võ ở đâu, mới biết rằng cha người thiếp học võ ở chùa Thiếu Lâm, dạy
lại cho con gái, hàng trăm người cũng không địch nổi. Hỏi tại sao chịu im lặng
để vợ cả đày đọa, đáp: “Đó là số phận, đâu dám nói gì!” Từ đó vợ chồng đều yêu
thương nàng, hàng xóm láng giềng càng thêm kính trọng. Nay vẫn còn sống.

283. Bắt hồ bắn quỷ[1]

[1] Tróc hồ xạ quỷ.

Ông Lý
Trứ Minh là con tiên sinh Khâm Trác, Tri huyện Tuy Ninh (tỉnh Giang Tô), tính
hào sảng can đảm, có anh rể là tiên sinh Vương Quý Lượng ở huyện Tân Thành
(tỉnh Sơn Đông). Nhà Vương tiên sinh có nhiều lầu gác, vẫn thường thấy chuyện
quái dị. Có lần mùa hè ông tới đó chơi, ưa thích trên gác mát mẻ. Chủ nhân kể
cho nghe chuyện quái dị để can, ông cười không tin, cứ bắt dọn giường trên gác.
Chủ nhân chiều ý, sai đầy tớ tới ngủ cùng, ông từ chối nói chỉ thích ngủ một
mình, mà bình sinh chẳng sợ chuyện quái dị. Chủ nhân bèn sai đốt hương trong lò,
sắp xếp đâu đấy mới tắt đèn đóng cửa đi.

Ông nằm
hồi lâu dưới ánh trăng, chợt thấy ấm trà trên bàn cứ lắc lư xoay vòng, không
rơi xuống đất mà cũng không dừng lại. Ông quát lớn thì nó lạch cạch dừng lại, nhưng
lại như có người rút mớ hương trong lò ra khua lên, ánh lửa như hoa bay tán
loạn. Ông vùng dậy quát: “Đồ yêu quái nào hỗn láo thế?” rồi cởi trần nhảy xuống
giường định ra đuổi bắt. Nhưng lấy chân khua dưới giường chỉ được có một chiếc
giày, ông cũng không tìm nữa, chạy chân không ra chỗ mớ hương đang khua khoắng.
Mớ hương lại cắm trở lại vào lò, yên ắng như cũ không có gì lạ. Ông khom người
mò tìm chiếc giày trong gầm giường, chợt bị một vật ném trúng giữa trán, thấy
như là chiếc giày song bò ra đất tìm mà không thấy đâu. Bèn mở cửa xuống lầu, gọi
người hầu đốt củi làm đuốc lên tìm vẫn không thấy, lại lên nằm ngủ lại.

Đến sáng,
sai mấy người đi tìm chiếc giày, giở nệm kéo giường ra cũng không thấy, chủ
nhân phải đưa giày cho ông mang. Hôm sau tình cờ ngẩng đầu nhìn thì thấy có
chiếc giày dính trên xà nhà, khều xuống thì là giày của ông. Ông là người huyện
Ích Đô, tới ngụ ở nhà họ Tôn trong huyện Truy (tỉnh Sơn Đông). Nhà rất rộng
nhưng đều bỏ không, ông chỉ ở có một phía. Phía kia là gác cao, chỉ cách một
bức tường, thỉnh thoảng lại thấy cửa gác tự mở ra đóng lại, ông cũng không để
tâm. Một hôm tình cờ đang nói chuyện với đám người nhà ở sân, cửa gác chợt mở
ra, có một người bé nhỏ ngồi quay mặt nhìn ra ngoài, cao chưa đầy ba thước, áo
xanh quần trắng, mọi người chỉ trỏ nhìn ngó cũng không động đậy. Ông nói: “Đây
là hồ rồi,” vội lấy cung tên chĩa vào gác định bắn. Người bé nhỏ ấy nhìn thấy, cười
khành khạch mấy tiếng rồi biến mất. Ông cầm đao leo lên gác, vừa mắng vừa tìm
nhưng không thấy đâu bèn trở xuống. Từ đó trong gác không còn sự quái dị nữa, ông
ở mấy năm yên ổn không có chuyện gì. Con trưởng của ông là Hữu Tam, là thông
gia với ta chính mắt thấy chuyện này.

Dị Sử thị
nói: Ta sinh sau đẻ muộn không được theo hầu ông, nhưng nghe các bậc phụ lão kể
lại thì rõ ràng là bậc trượng phu khảng khái cương nghị, xem hai chuyện trên
đây có thể thấy được đại khái. Giữ được cái khí hạo nhiên thì hồ quỷ có làm gì
được.

284. Ma mời tiệc[1]

[1] Quỷ tác diên.

Tú tài Đỗ
Cửu Uyển có vợ bị bệnh, gặp ngày tiết Trùng Dương bạn bè rủ cùng đi chơi. Đỗ
dậy sớm rửa mặt, nói rõ với vợ sẽ đi tới đâu rồi mặc áo đội mũ định ra đi, chợt
thấy vợ ngất đi, lẩm bẩm như nói chuyện với ai khác. Đỗ lấy làm lạ, tới cạnh
giường hỏi, vợ gọi Đỗ là con, người nhà đều lạ lùng. Lúc ấy quan tài của mẹ Đỗ
còn quàn chưa chôn, Đỗ ngờ rằng hồn mẹ không vừa ý bèn khấn: “Có phải là mẹ
không?” Vợ mắng: “Đồ súc sinh, không nhận ra cha ngươi à?” Đỗ nói: “Nếu là cha,
sao lại ám vợ con?” Vợ gọi tên Đỗ lúc còn nhỏ, nói: “Ta chỉ vì vợ ngươi mà tới
đây, sao lại oán hờn hả? Lẽ ra vợ ngươi phải chết rồi, đã có bốn người tới bắt.
Người đứng đầu bọn họ là Trương Hoài Ngọc, ta phải hết sức năn nỉ mới được họ
bỏ qua. Ta hứa là biếu họ chút ít, ngươi phải lo đấy.” Đỗ theo lời, ra cổng đốt
giấy tiền vàng bạc, vợ lại nói: “Bốn người đi rồi, họ không nỡ làm ta mất mặt, sau
ba ngày phải mở tiệc mời mới được. Mẹ ngươi già nua chậm chạp, không thể lo
việc bếp núc, đến hôm ấy lại phải làm phiền vợ ngươi đi cho một chuyến.” Đỗ nói:
“Âm dương hai nẻo khác nhau, làm sao mà nấu nướng thay được, xin cha miễn cho.”
Vợ nói: “Ngươi đừng sợ, đi rồi lại về thôi, đây là việc lớn, đừng ngại vất vả.”
Nói xong im bặt, hồi lâu mới tỉnh.

Đỗ hỏi
thì vợ không nhớ vừa rồi nói gì, chỉ đáp: “Vừa rồi có bốn người tới bắt ta, may
có cha năn nỉ xin, lại dốc hết vàng bạc trong túi ra biếu, họ mới đi. Ta thấy
trong túi cha còn sót hai nén vàng, định ăn cắp một nén để chi dùng, cha nhìn
thấy quát: ‘Ngươi
định làm gì đấy? Vàng này mà ngươi dùng được à?’ Ta rút tay lại không dám nhúc nhích.”
Đỗ vì vợ bệnh nặng nên nghe thế nửa tin nửa ngờ. Ba hôm sau đang chuyện trò với
nhau, vợ Đỗ chợt trợn mắt hồi lâu rồi nói: “Vợ ngươi tham lắm, hôm trước thấy
vàng của ta lại định ăn cắp. Nhưng vì nghèo quá nên làm như thế, cũng không
trách được. Bây giờ ta đưa vợ ngươi đi nấu nướng giúp, đừng lo gì cả.” Nói xong
thì nhắm mắt đứt hơi, được nửa ngày mới sống lại, nói với Đỗ rằng: “Mới rồi cha
gọi ta đi, nói: ‘Chẳng
cần con đích thân làm lụng, ta đã có người nấu nướng rồi, chỉ cần con ngồi đó
sai bảo là được. Cha ở dưới may mà cũng giàu có, mọi vật dùng đưa ra tiếp khách
ngươi phải để ý giữ gìn.’ Ta vâng dạ, xuống tới nhà bếp thấy hai người đàn bà cầm đao chặt thịt,
ăn mặc đẹp đẽ gọi ta là chị dâu. Món nào sắp bưng lên đều mời ta tới xem qua
trước. Bốn người hôm nọ đều ngồi trên tiệc, ăn uống xong rồi, chén bát rửa sạch
cất hết, cha mới bảo ta về.” Đỗ lấy làm lạ, thường kể cho bạn bè nghe.

285. Diêm Vương[1]

[1] Diêm la.

Tú tài Lý
Trung Chi ở Lai Vu (thuộc tỉnh Sơn Đông) tính ngay thẳng thành thật, cứ vài
ngày lại chết đi nằm cứng đơ như cái xác, ba bốn ngày mới tỉnh lại. Có người
hỏi lúc chết đi gặp những gì, Lý đều giấu kín không nói ra. Lúc ấy có Trương
sinh cũng vài ngày lại chết đi một lần, nói với người ta rằng: “Lý Trung Chi là
Diêm Vương đấy. Ta xuống âm ty cũng làm thuộc lại của ông ta,” lại kể rõ cả
biển ngạch câu đối trong cung điện dưới đó. Có người hỏi vừa rồi Lý xuống âm ty
làm gì, Trương đáp: “Không nói rõ được, nhưng có việc là ông đi khám ngục Tào
Tháo, lại phạt đánh hai mươi trượng.”

Dị Sử thị
nói: Một cái án của A Man[2] nghĩ chắc trải qua vài mươi đời Diêm Vương
rồi. Ở dưới đó thì lại đầu thai làm súc
vật hay quăng vào vạc dầu núi kiếm cũng đâu thiếu cách, tội nào lại chẳng trị
được, cần gì phải giam lâu, mà mấy ngàn năm vẫn chưa xử được, vì sao thế nhỉ?
Hay là kẻ tù nhân chịu hình phạt rồi thì án đã quyết, nên làm thế để y có muốn
chết cũng không được chăng? Lạ thật?

[2] A Man: tên tự của Tào Tháo, Thừa
tướng cuối thời Đông Hán, sử sách xưa coi là kẻ gian hùng lấn hiếp Thiên tử.

286. Hoa sen mùa lạnh[1]

[1] Hàn nguyệt phù dung.

Ở Tế Nam
(tỉnh thành Sơn Đông) có một đạo nhân, không biết quê quán ở đâu, cũng không rõ
tên họ là gì. Mùa đông mùa hè đều chỉ mặc một chiếc áo đơn, thắt dây lưng màu
vàng, chẳng có áo quần gì khác, vẫn dùng nửa cái lược chải tóc, chải xong thì
giắt luôn vào búi tóc như đội mũ. Ban ngày đi chân không ra chợ, tối thì ngủ ở
đầu đường, băng tuyết cách người mấy thước đều chảy tan thành nước. Buối đầu
mới tới vẫn làm phép thuật cho người ta xem, người trong chợ tranh nhau cho
tiền.

Trong chợ
có tên vô lại đem rượu tới xin truyền phép cho, nhưng đạo nhân không chịu. Gặp
lúc đạo nhân tắm ở bến sông, y tới vơ hết quần áo để bắt ép. Đạo nhân chắp tay
vái, nói: “Xin trả lại áo quần, ta không tiếc gì mà không truyền phép thuật.”
Tên vô lại sợ ông nói dối, không chịu đưa trả. Đạo nhân hỏi: “Thật không chịu
trả phải không?” Y đáp: “Đúng
thế!” Đạo nhân im lặng không nói gì nữa, chợt thấy chiếc dây lưng màu vàng biến
thành con rắn to vài gang tay, quấn quanh sáu bảy vòng, trừng mắt cất đầu thè
lưỡi nhìn y. Y hoảng sợ ngã khuỵu xuống đất, tái mặt đứt hơi xin tha mạng. Đạo
nhân cầm lấy thì chiếc thắt lưng vẫn là thắt lưng, không phải là rắn, chỉ có
một con rắn khác ngoằn ngoèo bò vào thành. Vì thế đạo nhân càng nổi tiếng, các
nhà quyền quý nghe chuyện lạ đều mời mọc giao du.

Từ đó đạo
nhân thường qua lại nhà các bậc tai mắt, quan lại trong hạt nghe danh, mỗi khi
hội họp yến tiệc cũng mời đi cùng. Một hôm, đạo nhân mời các quan ăn tiệc ở
thủy đình để đáp lễ. Đến ngày hẹn, người nào cũng nhận được thư mời đặt trên
bàn, nhưng không biết từ đâu tới. Khách khứa tới nơi hẹn, đạo nhân cung kính ra
đón, nhưng vào trong, thấy thủy đình trống không vắng vẻ, bàn ghế cũng chưa kê,
có người ngờ là dối trá. Đạo nhân nói với các quan rằng: “Bần đạo không có
người hầu, xin các ông cho mượn vài vị tùy tùng giúp đỡ chút việc,” các quan
đều ưng thuận. Đạo nhân vẽ hai cánh cửa lên vách rồi lấy tay gõ bên trong có
tiếng người đáp, bèn mở then nâng cửa lên. Mọi người chen lên nhìn ngó, thấy
bên trong nườm nượp người đi lại ghế bàn màn trướng đều đầy đủ, kế có người
chuyển tất cả ra ngoài cửa. Đạo nhân sai bọn người hầu của các quan đón lấy bày
ra trong đình, lại dặn đừng nói chuyện với những người bên trong, bên trao bên
nhận, chỉ nhìn nhau cười mà thôi. Giây lát mọi thứ bày ra khắp đình, vô cùng xa
hoa lộng lẫy.

Kế đó là
rượu ngon thơm phức, chả nướng nóng bỏng đều từ trong vách đưa ra, khách không
ai không ngạc nhiên hoảng sợ. Ngôi thủy đình vốn kề bên hồ, cứ đến tháng sáu
hàng năm thì hoa sen trải khắp vài mươi khoảnh, nhìn không thấy bờ. Nhưng bấy
giờ đang giữa mùa đông, ngoài cửa sổ chỉ có khói xanh mịt mờ. Một viên quan
chợt thở dài nói: “Hôm nay vui vẻ thế này, mà tiếc là không có hoa sen tô điểm?” Mọi người cùng ồ lên tán đồng. Giây
lát một người hầu chạy vào bẩm lá sen đã mọc đầy hồ rồi. Cả tiệc đều kinh ngạc,
đẩy cửa sổ nhìn, quả thấy màu xanh ngút mắt, trong có những nụ sen chen lẫn.
Trong chớp mắt, muôn cành ngàn đóa nhất tề nở rộ, gió bấc thổi tới, hương sen
thấm vào tới tận tim óc, mọi người đều lấy làm lạ lùng. Sai một người lại dịch
chèo thuyền ra hái sen, xa xa nhìn thấy thuyền vào sâu trong đám hoa, giây lát
lại thấy chèo thuyền trở ra, tay không lên đình. Quan hỏi, người lại dịch thưa rằng:
“Tiểu nhân cưỡi thuyền tới, thấy hoa sen ở xa, gần tới bờ bắc ngoảnh lại lại
thấy hoa sen xa xa phía nam.” Đạo nhân cười nói: “Đó chỉ là hoa giả trong ảo
mộng thôi!” Không bao lâu tiệc tàn, gió bấc nổi mạnh thổi gãy hết cọng sen không còn sót cây
nào.

Quan quan sát sứ Tế Đông thích lắm, đưa
đạo sĩ về dinh, hàng ngày trò chuyện vui chơi với nhau. Một hôm, quan cùng
khách uống rượu. Quan vốn có thứ rượu ngon gia truyền, mỗi lần chỉ lấy ra một
đấu. Hôm ấy khách uống thấy ngon, nài nỉ dốc vò uống cho hết, quan nhất định
không nghe, chối từ là hết rồi. Đạo nhân cười nói với khách: “Các ông muốn uống cho đã
thèm, cứ hỏi bần đạo là được.” Khách xin đưa ra. Đạo nhân cầm cái bầu bỏ vào
tay áo, giây lát lấy ra rót cho tất cả khách khứa, so với rượu của quan thì
không có gì khác. Quan ngờ vực, vào xem lại vò rượu, thì dấu niêm phong vẫn như
cũ mà bên trong không còn gì. Trong lòng vừa thẹn vừa giận, bắt đạo sĩ cho là
yêu quái, sai đánh đòn. Trượng vừa đập xuống, quan cảm thấy đùi chợt đau buốt, lại
đánh trượng nữa, mông như rách toác ra. Tuy đạo nhân kêu la dưới thềm, mà Quan
sát tóe máu trên ghế. Bèn thôi đánh trượng, đuổi đạo nhân đi. Đạo nhân bèn rời
khỏi đất Tế, không biết là đi đâu. Sau có người gặp ở Kim Lăng, vẫn ăn mặc như
xưa, hỏi thăm chỉ cười mà không đáp.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.