Liêu Trai chí dị (Tập 2) - Quyển XV - Chương 368 - 375

368.
Lâm
thị

Thích An
Kỳ ở huyện Tế Nam (tỉnh Sơn Đông) vốn là người phóng túng dông dài, thích lui
tới chơi bời ở kỹ viện, vợ năn nỉ khuyên can nhiều lần vẫn không nghe. Vợ là
Lâm thị, xinh đẹp mà hiền thục, gặp lúc quân Bắc vào cướp bị bắt đi, đêm ngủ
lại trên đường, tên lính muốn cưỡng hiếp, Lâm thị giả ưng thuận. Tên lính tháo
đao để lên đầu giường, nàng chụp dao cắt cổ tự tử, tên lính vác xác ném ra đồng,
hôm sau nhổ trại rút đi. Có người nói là Lâm thị đã chết, Thích đau xót tìm tới,
thấy nàng còn khẽ thở, bèn vác về. Qua ngày sau thì cựa mình, dần dần rên rỉ.
Thích đỡ lấy cổ, đút ống tre nhỏ nước cho uống, vẫn nuốt xuống được. Thích vỗ
về nói: “Nếu nàng sống được, ta mà phụ sẽ bị chết chém.”

Nửa năm
Lâm thị bình phục như cũ, nhưng đầu bị niễng vì cổ có vết sẹo. Thích vẫn không
cho là xấu, yêu mến còn hơn xưa, từ đó không bao giờ chơi bời đi ngang về tắt
nữa. Lâm thị tự cho là mình xấu, định mua thiếp cho chồng nhưng Thích nhất định
không chịu. Được mấy năm, Lâm thị không sinh nở, lại khuyên chồng cưới thêm tỳ
thiếp. Thích đáp: “Đã thề không phụ nhau, chẳng lẽ quỷ thần không nghe thấy
sao? Cho dù không có con nối dõi thì đó cũng là số phận của ta, còn nếu chưa
tới nỗi thế, thì chẳng lẽ từ nay đến già nàng không sinh con được à?” Lâm thị
bèn thác cớ có bệnh, để Thích ngủ một mình, sai tỳ nữ là Hải Đường tới ngủ dưới
giường, lâu sau ngầm hỏi, người tỳ nữ đáp không có chuyện gì. Lâm không tin, đến
đêm bảo người tỳ nữ đừng đi, rồi tới nằm vào chỗ ấy.

Giây lát,
nghe trên giường có tiếng ngáy, rón rén trở dậy, leo lên giường mò mẫm. Thích
tỉnh giấc hỏi ai, Lâm thị nói khẽ: “Ta là Hải Đường mà.” Thích đẩy ra nói: “Ta
đã có lời thề rồi nên không dám thay đổi, chứ như năm trước thì cần gì cô phải
tự tới đây?” Lâm thị bèn xuống giường đi ra. Thích từ đó cứ ngủ một mình, Lâm
thị sai người tỳ nữ giả làm mình mò vào, Thích nghe vợ xưa nay không bao giờ tự
tìm tới với chồng, ngờ vực sờ lên cổ không thấy vết sẹo, biết là người tỳ nữ, lại
đuổi đi, người tỳ nữ thẹn lui ra. Đến sáng, Thích đem chuyện kể lại, bảo Lâm
thị mau gả chồng cho người tỳ nữ, Lâm thị cười nói: “Chàng không cần cố chấp
như vậy, nếu nó lấy được một người chồng như chàng thì cũng may lắm.” Thích nói:
“Nếu phụ lời thề thì quỷ thần phạt ngay, lại còn mong có con nối dõi được à?”

Hôm sau
Lâm thị cười nói với Thích rằng: “Phàm nhà nông thì có gặt được gì hay không
không biết, chỉ biết là đến mùa thì phải cày cấy gieo trồng, đêm nay là tới kỳ
cày cuốc rồi đấy?” Thích hiểu ý cười. Đêm tới, Lâm thị tắt đèn, bảo người tỳ nữ
vào nằm ở giường mình. Thích vào còn đùa nói: “Người cày tới rồi đây!” Xong rồi,
người tỳ nữ giả trở dậy đi rửa ráy, để Lâm thị vào nằm. Từ đó cứ thế làm mà
Thích vẫn không biết. Không bao lâu người tỳ nữ có mang, Lâm thị cứ sai nghỉ
ngơi, không cho qua lại làm việc trước mặt Thích. Rồi giả hỏi rằng: “Thiếp
khuyên lấy tỳ thiếp, mà chàng không nghe, nếu mai đây cho giả mạo thiếp lừa
chàng, đến khi có mang thì làm sao?” Thích đáp: “Giữ con bán mẹ,” Lâm thị im
lặng.

Không bao
lâu, người tỳ nữ sinh được một con trai, Lâm thị ngầm thuê vú nuôi, bế về nuôi
ở nhà mẹ. Được bốn năm năm, lại sinh thêm một trai một gái. Con trai lớn tên
Trường Sinh, được bảy tuổi, theo học ở nhà ông ngoại[1]. Lâm thị
cứ nửa tháng một lần nói thác về thăm cha mẹ để chăm sóc. Người tỳ nữ càng lớn
tuổi, Thích vẫn giục gả chồng đi, Lâm thị cứ ậm ừ. Người tỳ nữ hàng ngày nhớ
thương con, Lâm thị theo ý, làm như gả bán, đưa về nhà mẹ, nói với Thích rằng:
“Chàng cứ nói thiếp không chịu gả Hải Đường, nay mẹ thiếp có con trai nuôi, nên
cho cưới nó.”

[1] Ông ngoại: tức cha Lâm thị, vì ngày
xưa con vợ lẽ cũng phải coi vợ lớn của cha hơn mẹ ruột.

Lại vài
năm sau, con trai con gái đều lớn. Sắp tới ngày sinh nhật của Thích, Lâm thị
chuẩn bị yến tiệc để mời bạn bè khách khứa, Thích than rằng: “Năm tháng qua mau,
chợt đã nửa đời rồi, may mà còn khỏe mạnh, trong nhà cũng không tới nỗi đói rét,
chỉ thiếu một đứa con trai dưới gối mà thôi.” Lâm thị nói: “Chàng cứ cố chấp
không nghe lời thiếp, bây giờ còn oán hờn ai? Có điều muốn có con trai thì hai
đứa cũng chẳng khó, huống chi là một?” Thích cười nói: “Nếu nói không khó, thì
ngày mai xin mừng cho hai đứa con trai.” Lâm thị nói dễ mà. Sáng dậy sớm, sai
đem kiệu về nhà cha mẹ, cho các con ăn mặc chỉnh tề đưa hết cả về. Vào nhà, sai
đứng xếp hàng gọi cha, cúi đầu chúc thọ, lạy xong đứng dậy, nhìn nhau cười hì
hì.

Thích
kinh ngạc chẳng hiểu gì, Lâm thị nói: “Chàng đòi mừng hai con trai, thiếp còn
thêm một con gái đấy,” rồi mới kể hết đầu đuôi. Thích mừng rỡ hỏi: “Sao không
nói sớm?” Lâm thị đáp: “Nói sớm thì sợ chàng bỏ mẹ chúng. Nay con trai đã lớn, có
bỏ mẹ chúng mà được à?” Thích xúc động rơi nước mắt, bèn đón người tỳ nữ về, cùng
sống với nhau đến già. Ngày xưa mà có người vợ hiền như Lâm thị, thì đã gọi là
thánh rồi.

369.
Chuột
lớn[1]

[1] Đại thử.

Trong
niên hiệu Vạn Lịch thời Minh (1573-1619) trong cung có con chuột to bằng con
mèo, cắn phá rất dữ. Sai tìm những mèo giỏi trong dân gian về để trị, đều bị nó
ăn thịt. Gặp lúc nước ngoài tới cống con mèo sư tư, lông trắng như tuyết, bèn
thả vào gian phòng có chuột, đóng cửa lại núp bên ngoài xem. Mèo ngồi hồi lâu
thì chuột từ trong hang lắc lư bò ra, thấy mèo bèn giận dữ xông tới. Mèo nhảy
tránh lên ghế, chuột cũng đuổi theo lên, mèo lại nhảy xuống đất, cứ như thế mãi
không biết mấy trăm lần. Mọi người bên ngoài có kẻ nói mèo nhát sợ, cho rằng
không sao trừ được chuột. Kế đó chuột đuổi chậm dần, phệ bụng ra thở dốc, ngồi
xuống đất tạm nghỉ. Mèo lập tức phóng nhanh xuống, vả vào cổ, cắn vào đầu
chuột. Vật lộn một lúc, nghe tiếng mèo vang vang, tiếng chuột khò khè, mọi
người mở cửa vào xem, thì đầu chuột rách nát ra rồi. Mới biết trước đó mèo né
tránh không phải là nhát sợ, mà là chờ cho chuột mệt mỏi vậy. Nó ra thì vào, nó
vào thì ra, khôn ngoan như thế mà thôi. Ôi, kẻ thất phu cậy sức mạnh có khác gì
con chuột kia đâu!

370.
Hai hồ[1]

[1] Hồ đại .

Nhà Nhạc
U Cửu ở huyện Ích Đô (tỉnh Tứ Xuyên) bị hồ quấy phá, quần áo vật dùng cứ bị ném
qua nhà hàng xóm. Nhà có cuộn vải mịn lấy ra định may quần áo, thấy dây buộc
vẫn như cũ mà mở ra thì bên ngoài còn nguyên nhưng ở trong nát bét, bị xé vụn
ra từng mảnh từng mảnh, đại khái cứ phá phách như thế. Người nhà chịu không nổi
chửi rủa ầm lên, Nhạc ngăn lại, nói coi chừng hồ nghe. Hồ ở trên xà nhà lên tiếng: “Ta đã nghe thấy rồi,” từ
đó lại phá phách tệ hại hơn. Một hôm hai vợ chồng Nhạc ngủ chưa dậy, hồ vào vơ
ráo cả quần áo đi. Hai người cứ trần truồng ngồi co ro trên giường nhìn lên
trời khấn khứa thảm thiết. Chợt có cô gái từ cửa sổ chui vào ném trả quần áo
lên giường, nhìn thấy không cao lớn lắm, mặc quần áo đỏ. Nhạc mặc xong quần áo
chắp tay nói: “Thượng tiên có lòng giáng lâm, xin đừng quấy phá, hãy làm con
nuôi của ta được không?” Hồ đáp: “Tuổi ta còn lớn hơn ngươi, sao dám láo lếu tự
Tôn như vậy hả?” Nhạc lại xin làm chị em gái, hồ ưng thuận, từ đó sai gia nhân
gọi là cô Hai hồ.

Lúc ấy
công tử họ Trương thứ tám ở Nhan Trấn có hồ ở trên lầu, thường chuyện trò với
người. Nhạc hỏi có quen biết không, hồ đáp: “Đó là chị dâu của ta, sao lại
không quen biết?” Nhạc nói: “Chị dâu ngươi không quấy phá người, sao ngươi
không học theo như thế?” Hồ không nghe, vẫn phá phách như cũ, nhưng không phá
ai khác mà chỉ phá con dâu của Nhạc. Giày tất trâm vòng cứ đem vứt ra đường, tới
bữa ăn thì cứ thấy trong chén có chuột hoặc cứt đái, người con dâu của Nhạc cứ
ném bát chửi con đĩ hồ chứ không khấn khứa cầu xin gì cả. Nhạc khấn: “Các cháu
trong nhà đều gọi là cô sao ngươi lại cư xử không ra bậc Tôn trưởng như vậy?” Hồ nói: “Ngươi bảo con trai ngươi
bỏ vợ, để ta làm dâu ngươi thì mới ở yên được.” Người con dâu chửi: “Con đĩ hồ
không biết xấu hổ, định giành chồng của người ta à?” Lúc ấy người con dâu đang
ngồi trên cái rương quần áo, chợt thấy khói dày đặc từ dưới bốc lên nóng bỏng
như lửa, mở ra xem thì quần áo trong rương đều đã cháy hết, còn sót lại một hai
cái đều là quần áo của mẹ chồng. Nhạc bảo con bỏ vợ, đứa con không chịu, qua
mấy hôm lại thúc giục, đứa con cũng vẫn không chịu. Hồ tức giận lấy đá ném vỡ
trán đứa con, máu chảy đầm đìa suýt ngất, Nhạc càng lo sợ.

Thời bấy
giờ ở Tây Sơn có Lý Thành Hào giỏi bùa chú, Nhạc đem lễ vật tới mời về. Lý lấy
bột vàng vẽ lên vải đỏ làm bùa, ba ngày mới xong. Lại lấy kính buộc lên đầu lá
bùa, ghép cán vào đem soi khắp nhà, sai đồng nam nhìn theo, bảo thấy gì thì nói
ngay. Tới một chỗ, đứa nhỏ nói trên tường như có con chó nằm, Lý chỉ tay vào
chỗ ấy vẽ bùa, kế bước ra sân niệm thần chú một lúc, lập tức chó heo trong nhà
kéo tới cụp tai vẫy đuôi như chờ nghe lệnh. Lý xua tay bảo đi, chúng lại nhao
nhao xếp hàng trở ra. Lý lại niệm thần chú, bầy vịt lập tức kéo tới, Lý lại xua
ra. Kế tới bầy gà, Lý chỉ vào một con quát lớn, cả bầy tan đi chỉ riêng con gà
ấy nằm lại, xếp cánh kêu lớn: “Ta không dám thế nữa!” Lý nói: “Có con vật này là vì trong nhà bện
hình Tử Cô[2] đây.”
Người nhà đều nói là không có làm. Lý nói: “Tử Cô đang còn trong nhà mà.” Mọi
người cùng nhớ lại, sực nghĩ ra ba năm trước có chơi đùa bện hình Tử Cô, mọi
việc quái dị bắt đầu xảy ra từ hôm ấy.

[2] Tử Cô: Nữ thần trong truyền thuyết nhân gian Trung Hoa, ngày
xưa đêm rằm tháng giêng người ta thường chơi đùa lấy vải vụn hay rơm cỏ bện
hình Tử Cô đưa lên cúng với bánh trái, trà rượu.

Tìm kiếm
khắp nhà thì thấy hình nộm bằng cỏ vẫn còn trên rường. Lý đem đốt đi rồi lấy
một cái vò khấn khứa ba lần, quát lớn ba tiếng, con gà đứng dậy chui vào. Mọi
người nghe trong vò có tiếng nói: “Họ Nhạc ác lắm, vài năm nữa sẽ gặp lại nhau.”
Nhạc xin đốt cái vò, Lý không cho, mang đi. Có người thấy trong nhà Lý có treo
mấy mươi cái vò nút miệng trên tường, đều là nhốt hồ bên trong, nói rằng Lý cứ
lần lượt thả ra cho chúng quấy phá thiên hạ rồi bắt lấy tiền, như là món hàng
lạ vậy.

371. Ba chuyện sói[1]

[1] Lang tam tắc.

I

Có người
đồ tể bán thịt về, trời đã xế chiều, một con sói theo sát, hít hít giỏ thịt
chảy cả nước dãi. Cứ từng bước từng bước lẽo đẽo theo suốt mấy dặm, y sợ rút
dao ra thì nó sẽ làm dữ, nhưng đã rảo chân chạy mà nó vẫn đuổi theo. Y không
biết làm sao, nhưng nghĩ thầm con sói muốn ăn thịt, chẳng bằng cứ treo giỏ thịt
lên cây rồi mai ra lấy. Bèn lấy móc sắt móc giỏ thịt nhón chân máng lên cành
cây. Thấy y không còn mang giỏ thịt, sói bèn dừng lại, y vội đi tắt về nhà.
Sáng sớm ra lấy thịt, thấy trên cây có một vật lớn lơ lửng giống hệt người chết
treo, y cả sợ rón rén tới gần nhìn thì ra là con sói đã chết. Ngẩng lên nhìn kỹ,
thấy trong miệng nó còn ngậm thịt mà bị cái móc sắt móc vào hàm trên như cá mắc
câu. Lúc ấy da sói đang có giá, y bán được hơn mười đồng vàng, gia cảnh trở nên
dư dật. Đúng là chuyện bắt cá trên cây, câu được con sói kể cũng buồn cười.

II

Một người
đồ tể buổi chiều bán thịt về, trong giỏ không còn thịt mà chỉ có mớ xương thừa,
trên đường gặp hai con sói cứ theo sát. Y sợ, ném lại một cục xương, một con
dừng lại ăn còn con kia cứ bám theo. Lại ném thêm cục xương, con này dừng lại
ăn thì con kia đã ăn xong, lại tới sát, cứ thế một hồi, mớ xương trong giỏ đã
hết sạch mà hai con sói vẫn đuổi theo. Y sợ quá, lại lo hai con từ hai phía tấn
công, thấy trên đồng có sân phơi lúa, trong sân có rơm cỏ chất thành đống, bèn
chạy mau tới dựa lưng vào đó, rút dao ra, hai con sói không dám xông vào, cứ
đứng gầm ghè nhìn. Giây lát một con sói bỏ đi, một con vẫn ngồi trước mặt y, hồi
lâu thì nhắm mắt thiu thiu ngủ như là vô sự. Y vọt mau ra chém đầu nó, bồi thêm
mấy nhát giết chết luôn. Đang định đi tiếp, vòng ra phía sau đống rơm cỏ thì
con sói kia đang đào một cái hang định tấn công phía sau, đã lọt hết vào hang
chỉ còn ló khúc đuôi. Y chém đứt chân nó, giết chết luôn. Lúc ấy mới hiểu rằng
con sói phía trước vờ ngủ là để dụ địch, loài sói cũng giảo quyệt thật. Nhưng
trong chớp mắt cả hai con đều bị giết, cầm thú gian giảo thì được bao lăm, chỉ
làm trò cười mà thôi!

III

Một người
đồ tể đi đường lúc sẩm tối, bị sói đuổi, thấy bên đường có cái chòi của người
cày ruộng dùng để nghỉ trưa, bèn chạy vào núp. Con sói thò chân qua vách lá quờ
quờ, y vội chụp lấy giữ chặt song nhìn quanh không có vật gì để giết chết nó.
Mò được con dao ngắn không đầy một tấc, bèn cắt hết lớp da dưới bàn chân con
sói, rồi ra sức thổi theo như lối thổi heo quay. Lát sau thấy con sói không
vùng vẫy cử động gì nữa, y mới cởi thắt lưng buộc chân nó vào vách rồi ra nhìn,
thì con sói đã phình to như con bò, chân thẳng đuột ra không co lại được, miệng
cứ há hốc, bèn vác nó về. Thật nếu không phải là người làm nghề đồ tể thì không
sao nghĩ ra cách ấy được.

Ba chuyện
trên đều là chuyện của đồ tể thì sự tàn nhẫn của kẻ đồ tể cũng đắc dụng trong
việc giết sói vậy.

372.
Nhà
bán thuốc[1]

[1] Dược tăng.

Mỗ người
huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông) ngẫu nhiên đi chơi tới một ngôi chùa ngoài đồng, gặp
một nhà sư vân du đang ngồi ngoài nắng bắt rận, trên đầu thiển trượng treo cái
hồ lô như người bán thuốc. Mỗ đùa hỏi: “Hòa thượng có bán thuốc dùng vào việc
trong phòng không?” Nhà sư đáp: “Có loại thuốc làm yếu hóa mạnh, nhỏ hóa to, công
hiệu lập tức khỏi chờ qua đêm.” Mỗ mừng rỡ nài mua, nhà sư tháo vạt áo lấy ra
một viên thuốc to bằng hạt ngô bảo nuốt. Chờ khoảng nấu sôi nồi cơm thì Mỗ thấy
vật kín đột nhiên to hẳn lên, mò xem thấy đã to gấp ba lúc trước. Lòng vẫn chưa
thỏa, bèn rình lúc nhà sư đi tiểu lén mở vạt chiếc áo lấy hai ba viên nữa nuốt
hết. Trong khoảnh khắc thấy trong bụng đau như xé, gân thịt co cả lại, cổ rút
lưng khòm, mà vật kín cứ dài to ra mãi không thôi, kinh hoàng nhưng không biết
làm sao. Nhà sư quay lại trông thấy bộ dạng Mỗ phát hoảng nói: “Chắc ông đã uống
trộm thuốc của ta rồi?” Vội đưa một viên thuốc cho uống, Mỗ mới thấy vật kín
không dài ra thêm nữa. Cởi áo ra xem thì thấy đã to suýt soát bằng hai đùi, như
ba cái chân vạc vậy. Bèn rụt cổ khệ nệ lặc lè trở về, cha mẹ đều không nhận ra,
từ đó trở thành kẻ vứt đi, lê la ăn xin ngoài đường, rất nhiều người trông
thấy.

373.
Quan
ngự y[1]

[1] Thái y.

Trong
niên hiệu Vạn Lịch thời Minh (1573-1619) có Bình sự họ Tôn mồ côi cha từ nhỏ, mẹ
mới mười chín tuổi ở vậy nuôi con. Lúc Tôn đỗ Tiến sĩ thì mẹ đã mất, thường nói
với mọi người rằng: “Thế nào ta cũng phải xin được cáo mệnh[2] để làm rạng rỡ cho người dưới suối vàng, mới có thể đền đáp được công
lao vất vả của mẫu thân.” Chợt Tôn mắc bạo bệnh ngày càng nặng. Tôn vốn chơi
thân với quan Ngự y nên sai người qua mời, người đi mời vừa ra khỏi cửa thì
bệnh Tôn đã nguy kịch, trợn mắt nói: “Sống mà không nêu cao được thanh danh để
làm rỡ ràng cha mẹ, còn mặt mũi nào nhìn thấy mẹ già ở suối vàng?” Rồi tắt thở, mắt vẫn mở to. Không
bao lâu quan Ngự y tới, nghe tiếng khóc lóc vội vào thăm hỏi, thấy tình trạng
Tôn như thế lấy làm lạ. Người nhà kể lại, Ngự y nói: “Muốn cha mẹ được phong
tặng cũng không phải là khó. Hiện nay Hoàng hậu sắp lâm bồn, chỉ cần sống thêm
mười ngày nữa thì có thể được ban cáo mệnh”[3]. Rồi lập tức lấy ngải đốt vào
mười tám huyệt trên cái xác, lửa vừa tàn thì Tôn rên lên, vội đổ thuốc cho uống,
Tôn liền sống lại. Ngự y dặn: “Phải nhớ kỹ là không được ăn thịt cọp thịt gấu, người
nhà cũng đừng quên.” Nhưng Tôn lại cho rằng những thức ấy hiếm khi có, nên cũng
không để ý lắm. Ba ngày sau thì bình phục, lại vào triều làm việc. Qua sáu bảy
ngày nữa, quả nhiên Hoàng hậu sinh được Thái tử, vua triệu các quan vào cho ăn
tiệc mừng. Nhà bếp nấu món ăn lạ đưa lên, vua sai ban cho các quan văn võ theo
thứ tự trên dưới, món ăn trắng tươi như khối mỡ có chỉ đỏ chạy bên trong, thơm
ngon không gì sánh bằng, Tôn ăn mà không biết là thứ gì. Hôm sau hỏi bạn đồng
liêu, họ đáp: “Đó là tay gấu.” Tôn cả kinh thất sắc, bệnh cũ lại phát, về tới nhà thì chết.

[2] Cáo mệnh: ngày xưa quan lại có
công hay giữ chức lớn thường được triều đình phong tặng chức hàm cho cha mẹ, văn
bản phong tặng ấy gọi là cáo mệnh.

[3] Cả câu ý nói có thể hoàng hậu sẽ
sinh con trai, nhân dịp vui mừng này của hoàng gia có thể triều đình sẽ phong
tặng cho cha mẹ các quan.

374.
Người
đàn nhà quê[1]

[1] Nông phụ.

Làng Từ
Diêu phía tây huyện có người đàn bà nhà quê khỏe mạnh như đàn ông, thường cứu
giúp kẻ hoạn nạn, can ngăn chuyện xích mích trong làng, ở khác huyện với chồng.
Chồng là người huyện Cao Uyển (tỉnh Sơn Đông), thỉnh thoảng mới ghé, ngủ một
đêm rồi đi. Người đàn bà tự làm lụng kiếm ăn, làm nghề thồ đồ gốm đi bán, nếu
có hôm dư dật thì cho đám ăn xin. Một đêm đang ngồi chơi nói chuyện với hàng
xóm, chợt đứng dậy nói: “Thấy bụng hơi đau, chắc sắp sinh rồi,” rồi chào về.
Trời sáng, người đàn bà hàng xóm qua thăm, thấy nàng vác hai cái khạp đụng rượu
lớn đang bước vào cửa, theo vào tới phòng trong thì có đứa bé mới sinh nằm trên
giường, hoảng sợ hỏi thì nàng vừa sinh xong đã mang vật nặng đi hàng trăm dặm.
Người đàn bà vốn thân thiết với người cô ở am bắc, kết nghĩa làm chị em với
nhau. Sau nghe người cô làm điều xấu xa, giận dữ vác gậy qua định đánh cho một
trận, mọi người xúm vào năn nỉ hết lời mới thôi. Một hôm gặp người cô trên
đường, người cô dè bỉu hỏi ta có tội gì? Nàng cũng không đáp, cứ đánh đá như
mưa, đến khi người cô không kêu được nữa mới tha cho bỏ đi.

Dị Sử thị nói: Những
người mà đời gọi là nữ trượng phu còn tự biết là không phải trượng phu, song
người đàn bà này đã quên mình là kẻ khăn yếm vậy. Hào sảng tự vui, có khác gì
bậc kiếm tiên thời cổ đâu. Hay chồng nàng cũng là loại người mài gươm chăng?

Phụ: Truyện nữ hiệp Khách Ẩn nương[2]

[2] Kiếm hiệp nữ Ẩn nương truyện.

Nhiếp Ẩn
nương là con gái Đại tướng Ngụy Bác Nhiếp Phong trong niên hiệu Trinh Nguyên
thời Đường (785-804). Năm nàng mười tuổi có người người cô khất thực ở nhà
Phong, nhìn thấy Ẩn nương rất thích, hỏi xin Phong. Phong tức giận, người cô nói:
“Cho dù có cất kín trong hòm sắt ta cũng bắt trộm được.” Đến đêm thì Ẩn nương
mất tích. Năm năm sau người cô đưa Ẩn nương về gia đình hỏi được dạy gì, nàng đáp:
“Đầu tiên sư phụ cho con uống một viên thuốc, sai cầm kiếm đuổi chém khỉ vượn
cọp beo, đều chặt đứt đầu. Được ba năm thì đâm chim cắt, chim ưng, nhát nào
cũng trúng. Được bốn năm thì có đâm người trong chợ giữa ban ngày cũng không ai
trông thấy ánh kiếm. Được năm năm thì sư phụ mở cho một cái hốc sau đầu, giấu
lưỡi chủy thủ vào đó, lúc nào dùng thì tuốt ra. Nhân đó lại nói với con rằng: “Kiếm
thuật của ngươi đã thành tựu rồi, nên trở về nhà, rồi đưa con về. Lại dặn rằng
về tới nhà, gặp chàng trẻ tuổi làm nghề mài gươm thì lấy làm chồng.” Trong niên
hiệu Nguyên Hòa (806- 828), Thống súy Ngụy Bác có hiềm khích với Tiết độ sứ
Trần Hứa là Lưu Xương Duệ, sai Ẩn nương tới giết Lưu. Lưu biết trước là Ẩn
nương sẽ tới bèn ra đón, Ẩn nương nói: “Quan Bộc xạ ở đây tả hữu không có người,
ta xin bỏ bên kia theo ông,” đại khái nàng biết Thống súy Ngụy Bác không bằng
Lưu vậy. Kế Lưu từ đất Hứa về kinh bái kiến Thiên tử, Ẩn nương không chịu theo,
về sau không biết là đi đâu.

375.
Quách An

Tôn Ngũ
Lạp có đứa tiểu đồng đêm ngủ một mình, chập chờn thấy có người tới bắt đi. Tới
một cung điện, thấy Diêm Vương ở trên nhìn nó nói: “Lầm rồi, không phải người
này,” bèn sai đưa về. Nó tỉnh dậy sợ quá, dời sang ngủ chỗ khác. Lại có người
đầy tớ là Quách An thấy giường trống bèn lên nằm ngủ. Có một người đầy tớ khác
là Lý Lộc vốn ghét đứa tiểu đồng bèn chém chết. Cha Quách An lên kêu khóc với
quan huyện, lúc ấy Trần Kỳ Thiện làm Tri huyện lại cứ thản nhiên như không, cha
Quách kêu gào thảm thiết nói: “Nửa đời mới có được một thằng con trai, bây giờ
ta biết làm sao để sống?” Trần bèn phán vậy thì nhận Lý làm con để nó nuôi, cha
Quách đành ngậm đắng nuốt cay trở về. Chuyện đứa tiểu đồng thấy ma thật không
lạ, lối họ Trần xử án mới thật là lạ.

Vương Ngư
Dương nói Tri huyện Tân Thành Trần Đoan Am Ngưng tính nhân từ nhu nhược không
quyết đoán. Có Vương sinh tên Dự Triết cho người ta thuê nhà, lâu ngày không
được trả tiền, bèn kiện lên quan. Trần không xử được, chỉ nói: “Kinh Thi có câu
“Chim thước có tổ, chim cưu vào ở”, ngươi cứ làm chim thước là được.”

Huyện Tây
đất Tế (tỉnh Sơn Đông) có kẻ giết người, vợ người chết kiện lên quan. Huyện
lệnh tức giận, lập tức bắt hung phạm tới, đập bàn mắng: “Người ta vợ chồng yên
vui, ngươi lại làm chị ta góa chồng à? Phải lập tức cưới chị ta, cho vợ ngươi
góa chồng,” rồi bắt hai người lấy nhau. Lối xử án sáng suốt ấy đều là việc các
bậc Tiến sĩ đầu bảng làm, chứ kẻ xuất thân đường khác thì không sao làm được.
Trần cũng lè nhè như thế, ai không có tài năng chứ?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.