Hẹn hò với châu Âu - Chương 01
Chương 1: Cairo - Nỗi thương nhớ khôn
nguôi
Cairo là nơi luôn để lại ấn tượng mạnh mẽ, sâu đậm nhất
trong tôi, vừa thương nhớ vô vàn vừa hờn giận trách cứ. Cũng
chính Cairo thôi thúc tôi viết ký sự đầu tiên, bởi tôi biết rằng nếu không viết
lại, tôi sẽ nợ tôi, nợ Cairo, nợ gia đình bạn bè mình.
Cairo không phải là nơi đầu tiên tôi đến,
tôi cũng chỉ ở Cairo vỏn vẹn tám ngày nhưng tôi chọn Cairo để mở đầu cho hành
trình tình yêu của mình, bởi đây là mảnh đất đã để lại cho tôi nhiều cảm xúc hỗn
độn và thăng hoa nhất, mảnh đất khiến tôi phải thức mấy đêm trong cái lạnh mùa
tuyết tan châu Âu để ghi chép lại cẩn thận từng chữ một về nó. Khi viết xong,
tôi tưởng mình đã kiệt sức bởi ăm ắp những sự kiện, những cung bậc cảm xúc khiến
tâm trí tôi xáo động vô cùng.
Trước khi khởi hành đến Cairo, Mohammad
–người bạn thân gốc Palestine và Anne –
người gắn bó với tôi trong rất nhiều chuyến đi đã khẳng định chắc chắn rằng:
“Em sẽ yêu Cairo lắm cho mà xem”. Tôi đã bướng bỉnh không tin. Thậm chí, nhiều lúc quá căng thẳng mệt mỏi, tôi đã nghĩ
rằng mình sẽ không bao giờ quay lại Cairo nữa. Tôi đã lầm. Với tôi, tám ngày ở
Cairo là tám ngày đáng nhớ với rất nhiều sự kiện, rất nhiều cảm xúc, lúc yêu
lúc ghét, lúc thư giãn, xúc động tột cùng, lúc căng thẳng, lo lắng đến hoảng sợ,
lúc cười giòn tan bên sa mạc hoang cát, lúc ngậm ngùi trước nỗi khổ cực của con
người. Và cuối cùng, thì ra có cả những lúc rơi lệ vì giờ phút chia xa.
Cảm nhận của tôi về Cairo sẽ không giống
như người anh mới quen đã sống sáu năm nơi đất này, không giống như Anne - người
quay trở lại Cairo lần thứ hai với tất cả sự háo hức và tình yêu có được từ lần
đến đầu tiên. Cairo của tôi hiện lên như một giấc mơ đủ để khi tỉnh lại, người
ta cười vì hạnh phúc và khóc vì tiếc nuối.
Những
giấc mơ ở Cairo
Giấc mơ đầu tiên của tôi là về Kim Tự Tháp.
Tôi đến Giza huyền thoại lần đầu vào một đêm sa mạc lung linh trong buổi trình
diễn có hiệu ứng âm thanh ánh sáng mang tên Light And Sound. Tôi không nhìn rõ
Giza lắm từ khoảng cách khá xa, nhưng bầu trời sa mạc trong veo đầy sao cùng những
âm thanh hiệu ứng khiến tôi chợt tan vào giấc mơ có tiếng ngựa hí từ ngàn xưa vọng
về, tiếng những đoàn người rầm rập, tiếng trở mình mùa lũ của sông Nile để đưa
những tảng đá lên đúng vị trí đã định xây thành Kim Tự Tháp. Ánh sáng chiếu lên
Kim Tự Tháp mô tả lại công việc xây dựng hàng nghìn năm về trước, hơn hai triệu
khối đá nặng cỡ một tấn rưỡi được ghép thành những hình khối chính xác đến chuẩn
mực. Tôi vừa xem vừa nhớ bài học của thầy Sắn, thầy giáo dạy hình học nổi tiếng
trường Bách Khoa khi xưa, người gợi cho
tôi giấc mơ Ai Cập từ gần mười năm trước. Thầy nói với lũ học trò chúng tôi rằng:
“Các đỉnh của Kim Tự Tháp nối thẳng với những chòm sao”. Qua nghìn năm vận đổi
nhưng sao chẳng dời, vị trí những vì sao lấp lánh trên cao kia chắc không hề
thay đổi, cuộc sống thì đã có bao biến động. Đêm ấy, quanh tôi khá đông người
nhưng bầu trời đêm sa mạc cao rộng và gió cát bao la khiến tôi cảm thấy mình
quá nhỏ bé trước thiên nhiên và lịch sử. Tấm áo khoác mỏng manh không đủ để che
chở tôi khỏi run lên trước cảm xúc của chính mình. Tối hôm đó, tôi thực sự đắm
chìm trong không gian nguyên sơ ấy một cách ngây thơ và mộng cảm nhất. Mấy ngày
sau, tôi trở lại Kim Tự Tháp vào buổi chiều. Tôi còn nhớ rõ khi ấy tôi đã sững
sờ thế nào. Trong ánh tà dương, nắng thong thả rót xuống đỉnh hình khối sừng sững
và uy nghi ấy như đang múa vũ điệu lộng lẫy mà tĩnh lặng. Tượng nhân sư huyền
thoại, những khối đá to lớn với đầy bề dày lịch sử khiến tôi choáng ngợp. Khả
năng và sức sáng tạo của một nền văn minh cổ đại huy hoàng thật đáng ngưỡng mộ.
Giấc mơ thứ hai của tôi là cưỡi lạc đà trên
sa mạc. Dân ở đây thường cưỡi ngựa nhưng du khách thì đa phần cưỡi lạc đà để hiện
thực hóa những gì họ từng tưởng tượng. Và tôi cũng không là ngoại lệ. Trước đó
tôi đã được dặn dò rất cẩn thận nên cũng hơi lo lắng, nhưng cảm giác đó tan biến
ngay lập tức khi tôi ngồi lên lưng một
con lạc đà cao cỡ hai mét có điệu đi đu đưa giật nhịp rất đặc trưng. Nhận ra là
tôi không sợ nên chỉ một lúc sau, ông chủ
con lạc đà đã đưa cho tôi cầm cương nó. Do
không biết đường đến Kim Tự Tháp nên cả quãng đường chinh phục sa mạc của
tôi gắn liền với tiếng nhắc nhở: “Dear Mai, right, left, right, left” (Mai, đi
trái, phải, trái, phải) của ông chủ lạc đà, tôi thì luống cuống giật dây miệng
hét liên tục: “left, right...” (tên tôi ở Ai Cập là Mai vì không một người Ả Rập
nào gọi được cái tên Hương trúc trắc của tôi cả). Suốt quãng đường chỉ có một
“tai nạn” nho nhỏ, con gái muôn đời vẫn là con gái. Nửa chừng thấy tóc tai rối bời vì gió cát,
tôi buông dây cương để buộc tóc, nhân cơ hội chú lạc đà bướng bỉnh tận hưởng tự
do, quay tít mấy vòng và còn định lấy đà phi nhanh. May mà ngọn roi của ông chủ
đã ghìm nó lại. Hú vía!
Một giấc mơ nữa của tôi trên đất nước này
cũng đã được thực hiện, đó là chạm tay vào làn nước biển của thủ phủ nơi có huyền
thoại bất tử về Alexander Đại Đế. Chuyến đi Alexandria ngắn ngủi sau nhiều lần
lỗi hẹn, nhưng bù lại, tôi được chiêm ngưỡng một buổi bình minh không thể quên
với những ngôi nhà, những con thuyền soi bóng trên mặt nước. Chúng tĩnh lặng đến
nỗi dù lướt đi mà dường như không chuyển động. Pháo đài cổ đại thấp thoáng phía
xa khiến khung cảnh càng đẫm chất sử thi. Tôi cũng đặt chân đến thư viện
Alexandria nổi tiếng nhất thế giới. Dù dấu tích của thư viện cổ không còn gì
nhưng kiến trúc thư viện mới rất đẹp và quy củ. Bên trong thư viện, những cô
gái đạo Hồi trùm khăn kín mít ngồi đọc sách và lướt internet. Bên ngoài, em nhỏ
ngây ngô chưa biết ngại ngùng tránh ống kính máy ảnh mang lại cho tôi những nụ
cười hồn nhiên nhất. Kỉ niệm đáng nhớ nhất của tôi ở đây là khi chuẩn bị chụp ảnh
với bức tượng Alexander Đại Đế (Alexander the Great) thì cô bạn Anne của tôi dí
dỏm trêu chọc: “Alexander the Great… and Huong the small” (Alexander vĩ đại và
Hương nhỏ bé).
Ở Cairo, những giấc mơ có từ thời thơ ấu của
tôi dường như được kéo dài vô tận. Chúng tiếp nối nhau như thể một ngày nào đó
sẽ đưa tôi tới các vì sao từ đỉnh của Kim Tự Tháp.
Tình cảm tôi dành cho mảnh đất này không chỉ
bắt nguồn từ những huyền thoại được truyền tụng mà còn từ những căn nhà lụp xụp,
xác xơ ngay gần Kim Tự Tháp, những góc phố bụi bặm, những con số kỳ quặc mà mất
mấy ngày tôi mới học thuộc được, những ngọn đèn đường xiêu vẹo đổ nát trong đêm, đẹp như một khoảnh
khắc thời gian, những ánh mắt châu Phi ám ảnh nét cổ xưa và cả những đêm mất ngủ
triền miên.
Đằng
sau những giấc mơ
Tám ngày ở Cairo là tám ngày tôi sống với
ngập tràn cảm xúc. Thành phố này hấp dẫn như một tình yêu thời thơ bé, không để
tôi tĩnh tại với một cảm xúc nào quá lâu. Tôi chưa kịp hết kinh ngạc với dấu
tích của một nền văn minh cổ đại phát triển rực rỡ thì đã ngơ ngác khi so sánh
với sự hỗn độn, nghèo nàn của Ai Cập hiện tại. Tôi chưa hết choáng ngợp vì sự
giàu sang tột cùng của khu trung tâm thành phố thì đã phải nghẹn lòng trước những
mảnh đời cơ cực quá sức tưởng tượng. Tôi chưa kịp sung sướng với một món đồ lưu niệm đẹp đẽ mới mua được
thì đã phải bực bội vì biết mình bị hớ với
cái giá gấp đôi, gấp ba. Và khi tôi chưa kịp hân hoan với bức ảnh chụp cảng biển
Alexandria thì đã hoảng hốt vì đợt tắc đường kéo dài hàng tiếng đồng hồ làm lỡ
chuyến tàu quay lại Cairo.
Nếu chỉ ở khách sạn sang trọng và khám phá
sông Nile bằng thuyền du lịch năm sao, tôi chắc đã thấy một Cairo rực rỡ sắc
màu mà không biết rằng, ngoài kia, em bé đánh giày bên bờ sông Nile đang lần mò
trong đêm trên những vỉa hè đầy khách du lịch, những khu nhà ổ chuột thiếu điện,
thiếu nước, những niềm tự hào đang chìm vào quá khứ dưới bóng của những chứng
tích bị xói mòn bởi thời gian... Sau ba ngày, tôi đã không uống suất nước cam
buổi sáng của tôi nữa mà cố tình để lại trên bàn. Hôm trước, tôi vô tình nhìn
thấy người phục vụ nam lặng lẽ cúi đầu uống chỗ nước cam còn thừa lại của tôi.
Anne tóc vàng cao lớn và tôi - cô gái châu
Á bé nhỏ với lỉnh kỉnh đồ đạc trong đó có cả máy ảnh đã vô tình được xếp vào
hàng khách du lịch giàu có. Và thế là chúng tôi được các chàng trai tán tỉnh mọi
chỗ để mời chào mua hàng và vòi tiền. Không ít lần tôi muốn than trời vì bị quấy
rầy. Tôi quá mệt mỏi khi mỗi lần ra đường là mỗi lần chiến đấu với các cuộc mặc
cả taxi mà tôi luôn luôn là người thua cuộc. Nhưng rồi, tôi lại động lòng. Tôi
thấy mình có phần “nhẫn tâm” khi biết rằng “cuộc chiến” của tôi với ông lái
taxi già chỉ đáng giá mười euro cent - số tiền không đủ để tôi mua bất cứ thứ
gì ở Áo, nơi tôi sống lúc đó.
Cairo cứ thế len lỏi vào trong trái tim rối
bời cảm xúc của tôi.
Những đôi mắt phụ nữ ám ảnh luôn theo tôi
trên mọi ngõ ngách, theo tôi cả vào những giấc mơ. Lần đầu đến đây, tôi cứ thắc
mắc: ở đâu cũng thấy bán váy ngắn mà không hiểu bán cho ai khi các cô gái ra đường
đều kín bưng trong những tấm khăn choàng Hồi giáo rộng thùng thình. Để ý kỹ tôi
mới biết họ mặc váy ngắn với quần jean hoặc quần dài bên trong. Trên cơ thể họ,
thứ duy nhất họ có thể khoe ra là đôi mắt nên chúng thường được trang điểm rất
kỹ và ấn tượng. Lúc ấy tôi mới hiểu tại sao trước đó và mãi về sau nữa, tôi
luôn nhớ đến Cairo trước tiên là hình ảnh những đôi mắt ấn tượng ấy. Chúng vừa
hoang dại, vừa bí ẩn lại đầy khát vọng. Tôi tôn trọng mọi tôn giáo, phong tục
nhưng trong lòng luôn cảm thấy gợn buồn khi nhìn những người phụ nữ trong bộ đồ
đen bịt bùng ấy. Với tôi, vẻ đẹp cơ thể của
phụ nữ luôn là tài sản của tạo
hóa, không phải là của riêng ai. Tuy nhiên ở một đất nước mà cứ đến giờ cầu
nguyện là tiếng loa lại vang khắp nơi giục giã hàng ngàn người cúi rạp đầu, bất
kể lúc nào bật TV cũng thấy các giáo chủ cầu nguyện thì tôn giáo mới chính là
thước đo của cái đẹp. Thế mới biết cuộc sống thật bao la.
Khách sạn cũng là một vấn đề đáng phải lưu
tâm ở Cairo. Trước khi đến đây, tôi không thể đặt được khách sạn trực tuyến vì
không tìm đâu ra hostel hay khách sạn ba sao. Không hiểu vì lý do gì mà ở Cairo
chỉ toàn các resort bốn đến năm sao. Suy đi tính lại, tôi đành phải nhờ một người
bạn sống ở Cairo đặt giúp phòng trong một nhà nghỉ ọp ẹp. Cái thang máy cơ
trong nhà nghỉ này long ra như xương cốt người già, nhìn rõ cả xích và ròng rọc.
Phòng tắm có bình nước nóng dùng gas to
đùng như quả bom và vô vàn muỗi đêm vo ve. Khách sạn ở Alexandria cũng chẳng
khá hơn ở Cairo bao nhiêu với cánh cửa chỉ có thể chốt từ bên ngoài khiến tôi cả
đêm thấp thỏm, dù cuối cùng mọi thứ khá ổn. Tôi vô cùng hoang mang về “quyền
làm việc hay xuất hiện ở nơi công cộng” của phụ nữ nơi đây khi tiếp tân, phục vụ
phòng, đầu bếp đều là nam giới. Đến bán hàng ở chợ cũng hầu như toàn là đàn
ông. Tìm đỏ mắt, cuối cùng tôi cũng gặp
được một người phụ nữ hiếm hoi mặc đồ Âu, làm việc ở trung tâm nghiên cứu quốc
gia Cairo, nơi tôi đến tham dự hội thảo. Lúc đó, tôi mới cảm nhận được rằng xã
hội Cairo cũng chia làm nhiều tầng lớp, có tầng lớp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của
văn hóa châu Âu và đa phần còn lại giữ
nguyên nề nếp của một quốc gia Hồi giáo khắt khe.
Một vấn đề khác làm tôi bối rối là hệ thống
giao thông chằng chịt và hỗn độn ở đây. Là người Việt Nam, quen với hệ thống
giao thông nhiều bất cập vậy mà tôi cũng phải tái mặt mỗi khi sang đường ở
Cairo. Mỗi lần xuống đường ở Cairo là một thử thách. Tôi thậm chí không biết phải
theo chỉ dẫn của ai vì không thể phân biệt nổi
công an, cảnh sát giao thông hay trật tự. Sau này tôi mới biết ở đây có
đến hơn hai mươi lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ điều khiển giao thông trong nội
thành. Tuy khá mệt mỏi nhưng hơn ai hết tôi biết rằng, đó là một đặc điểm rất
riêng của Cairo, sự quyến rũ khác biệt của thành phố nghìn năm này. Phải chăng
vì Cairo không dành cho bạn quyền được buồn tẻ? Vậy nên khi ở Cairo, hãy xác định
bạn lúc nào cũng ở trong tình trạng mọi việc đều có thể xảy ra nhé. Tuy nhiên,
vấn đề an ninh ở Cairo làm tôi khá thích thú và ấn tượng. Dù tôi mang theo nhiều
đồ đạc cầm tay nhưng chưa bao giờ cảm thấy lo lắng. Chuyện ăn cắp, cướp giật dường như
quá hiếm ở quốc gia đạo Hồi này.
Nghe nói đó là một tội nặng đến mức có thể bị bêu riếu công khai hoặc chặt tay.
Cuộc sống
đời thường ở Cairo
Người ta vẫn nói muốn hiểu cuộc sống ở một
thành phố thì hãy đến chợ. Ở Cairo, chợ nổi tiếng nhất là Khan Khalili. Chợ này
bán nhiều đồ trang sức lóng lánh, lương thực, vải vóc, quần áo và nhiều thứ
khác nữa. Bông Ai Cập bày bán khắp nơi. Các cửa hàng gia vị có đủ thứ gia vị,
thậm chí có cả những thứ tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Khác với nơi khác, tất cả
gia vị ở đây đều đựng trong những thùng
gỗ nho nhỏ. Cũng ở khu chợ này, lần đầu tiên tôi mua được vanilla khô, mùi thơm
đậm đà, mặc dù từ bé đã ăn biết bao món có mùi vani. Ở đây, tôi lại bắt gặp nhiều
ánh mắt ám ảnh của những người phụ nữ bán bánh, một bóng lưng còng của cụ già
chở hàng, một cái nhìn tựa cửa của hai người đàn bà sống nơi ngõ nhỏ. Tất cả họ
đều có gương mặt buồn bã, khắc khổ, hiếm khi thấy những nụ cười.
Chúng tôi hẹn nhau ở quán cà phê El Fishawy
– cái quán trứ danh đã hơn hai trăm năm
tuổi của Cairo. Nghe tiểu sử vẻ vang là thế mà El Fishawy chỉ nằm lọt trong ngoằn ngoèo ngõ phố chằng chịt
của khu chợ này. Đây cũng là lần đầu tiên tôi uống trà đen có thả vài lá bạc hà
tươi và thử shisha. Cảm giác ngồi ở El Fishawy thật thú vị. Một chút tĩnh lặng
giữa sôi động, một chút cũ kỹ, một chút nhếch nhác. Tất cả đều tỏa ra thứ cảm
giác gần gũi khó tả. Sự thích thú lạ lẫm này khiến tôi “cả gan” để một người phụ
nữ xa lạ vẽ hoa văn henna lên tay mình dù tôi chưa bao giờ thích xăm hình hay
những thứ đại loại thế. Hình vẽ này như để tôi lưu lại một dấu ấn nhỏ của Cairo
đa sắc màu trên cơ thể mình. Cairo làm tôi tò mò đến mức, dù có chút e ngại,
tôi vẫn cùng mấy người bạn lang thang
Cairo về đêm. Trong đêm, nhiều cảm giác được dung hòa khiến tôi thấy mình như
cô gái nhỏ lang thang giữa sa mạc để hưởng thụ tự do một cách tuyệt đối nhất.
Cairo với tôi là thành phố không ngủ. Suốt
thời gian ở Cairo, mỗi ngày tôi chỉ ngủ khoảng bốn tiếng. Những đêm đầu là do
tôi không quen với tiếng động ồn ã và muỗi, đêm sau nữa là do Anne và Yahya, một
anh bạn của Mohammed, thuyết phục tôi đi chơi để thấy một Cairo khác, và đêm cuối
thì tôi chính là người đòi được đi lang thang vòng quanh Cairo bằng được.
Tôi và Anne đã được chứng kiến “Cairo by
night” (Cairo về đêm) khi theo Yahya đến một quán vỉa hè trong một ngõ nhỏ ngoắt
ngoéo. Ở đây mỗi khách đến phải tự kéo ghế nhựa ra ngồi như giống như ở Việt
Nam. Cái quán nhìn đơn giản vô cùng nhưng trà pha rất đậm vị và âm nhạc thì dù
không hiểu tiếng, tôi vẫn tin lời Mohammad nói: “Anh đã được sinh ra từ bài hát
ấy”. Rồi Yahya đưa chúng tôi đi tiếp tới một quán bia xập xệ khác nằm ở cuối phố
để thưởng thức vị bia Stella đặc trưng. Vị Stella này chỉ duy nhất Ai Cập mới
có. Rời khỏi quán bia, chúng tôi tiếp tục ghé vào một quán bar đêm dưới tầng hầm
một căn nhà cổ. Ngay khi Yahya bước vào, từ chủ quán đến nhân viên phục vụ và
các cô gái múa bụng đều đồng thanh hô tên anh. Là bạn anh, chúng tôi được đón
tiếp như khách ruột. Ngay đến bây giờ khi đã rời xa Cairo một thời gian rất
dài, mỗi khi một điệu nhạc Ả Rập nổi lên, tôi lại nhớ cái dáng cao gầy lòng
khòng của Yahya dậm chân xoay theo tiếng nhạc với ánh mắt say mê ngút lửa đắm
đuối nhìn các cô gái múa bụng đang hòa nhịp cùng anh. Họ thật gần mà thật xa.
Tôi nghe nói có một quy tắc là dù có gần đến mấy, hai vũ công cũng không được
chạm vào nhau. Có lẽ giới hạn mong manh mà thiêng liêng này làm điệu nhảy trở
nên vô cùng bí ẩn và quyến rũ.
Cairo không của Kim Tự Tháp và lạc đà là thế
đấy! Tôi vừa sợ sệt không dám đến gần, vừa tò mò muốn hòa vào dòng chảy phức tạp
của cuộc sống dường như vận hành theo những quy luật ngầm khó hiểu nơi đây. Tôi
vừa giận những phiền phức mà cái hệ thống không ổn định của thành phố ấy mang lại,
vừa thương cái giàu nghèo pha trộn thật thà hiển hiện khắp nơi trên đất Cairo.
Những nẻo
đường kết bạn
Trước khi đặt chân đến sân bay Cairo, tôi
và Anne chưa từng quen biết một ai ở đây ngoài vài thông tin ngắn ngủi của
Mohammed. Tôi không thể tưởng tượng rằng ở Cairo, mình lại được ăn cơm với hơn
hai mươi người Brazil - đồng hương của Anne và uống cà phê cũng với chừng ấy
anh em bạn bè Việt Nam của tôi. Đúng là mọi chuyện đều có thể xảy ra ở Cairo!
Suốt
thời gian ở đây, tôi được sống trong sự quan tâm chu đáo của cả những người mới
quen và không quen, được nói tiếng Việt nhiều chưa từng thấy trong ba năm xa xứ
với những câu chuyện thú vị bất tận, những cuộc điện thoại tưởng chừng không thể
dứt. Anne cũng thế. Tình cờ trong một lần ngồi uống cà phê, nghe thấy bên cạnh
vang lên tiếng Bồ Đào Nha giọng Brazil, Anne sung sướng đứng bật dậy đến chào
hai người phụ nữ gần đó và thế là câu chuyện nối dài không dứt. Một người là
phu nhân đại sứ, một người lấy chồng Ai Cập. Điều đầu tiên mà cả hai muốn nói
và thuyết phục chúng tôi, đó là tình yêu Cairo trong họ cũng có thể trong trái
tim nhiều người khác, trong đó nhất định có chúng tôi: “You should see it as it
is,then you will love it” (Hãy nhìn Cairo như nó vốn thế rồi em sẽ yêu thành phố
này). Không ngần ngại, chúng tôi đến thăm nhà họ trong một khu chung cư yên tĩnh
và trong lành, khác hẳn không khí Cairo ồn ã ngoài kia. Chúng tôi nghe họ giới
thiệu về một góc khác, yên bình và khuất nẻo của Cairo, nghe họ kể về những
sáng thong dong cưỡi ngựa ngắm bình minh sa mạc và họ đãi chúng tôi ăn bữa cơm
vội vàng nhưng thú vị với những món ăn Brazil.
Anne hào hứng đến nỗi không ngớt lời giới thiệu cho tôi về các món ăn với
ánh mắt xanh biếc lấp lánh mà lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy ở chị.
Cả Yahya cũng vậy! Suy cho cùng, anh chỉ là
bạn của Mohammad - bạn của tôi, nhưng anh đã giới thiệu Cairo của anh cho tôi với
những tình cảm thân thương và trìu mến nhất. Chưa kể còn bao nhiêu cái tên mới
quen mà tôi chưa kịp thuộc. Có thể vì thế, cả tôi và Anne đã khóc khi rời Cairo
phút cuối - điều mà cuộc sống bận rộn với
mật độ hai tháng lên máy bay đi xa một lần khiến chúng tôi ngỡ rằng mình đã
chai sạn, rằng không còn chỗ cho những giọt nước mắt khi chia tay. Cairo đã trả
lại cho chúng tôi những cảm xúc của cuộc sống, cảm xúc của tình người. Chúng
tôi mang món nợ tình cảm với Cairo.
Mohammad gọi tôi quay trở lại với công việc
ở Áo. Sau khi nghe tôi huyên thuyên một hồi về những kỷ niệm “tích lũy” sau tám
ngày, anh bảo tôi: “Now, you are back to your reality” (Giờ thì em quay lại với
hiện thực nhé). Có thể anh nói đúng, tôi phải chia tay giấc mơ Cairo để trở về
với cuộc sống thực tại của mình nhưng tôi biết mình đã, đang và sẽ nhớ Cairo,
dù dấu vẽ henna trên tay tôi đã mờ chỉ sau vài ngày và cuộc sống lại rồi sẽ đưa
tôi đến với những hành trình mới mẻ khác.
Tôi luôn biết rằng, mình còn lỡ hẹn với
Cairo nhiều lắm, còn bao nơi chưa ghé thăm, còn bao dự định vẫn dang dở, còn
bao điều muốn nói. Nhưng thôi, như tôi tự an ủi mình, sự thiếu sót sẽ làm nên
cái đủ đầy. Những vết khuyết trên hành trình đó sẽ khiến nỗi nhớ Cairo của tôi
trở nên trọn vẹn hơn.
Cho đến giờ, sau nhiều năm xa cách, nếu hỏi
vì sao tôi yêu quý Cairo, tôi cam đoan rằng mình sẽ không trả lời hết được.
Tình cảm đó là sự pha trộn của Cairo văn hóa và huyền bí, của Cairo bụi bặm hỗn
độn và thử thách, của những điệu nhạc say đắm, bùng lên vỡ òa sau bao ẩn ức và
dồn nén, của những tình cảm xây đắp trên hành trình mang tên Cairo của tôi.

