Tâm Lý Đám Đông Và Phân Tích Cái Tôi - Chương 04 - 05
Giáo hội và quân đội: Hai đám đông nhân tạo
Như chúng ta còn
nhớ, về mặt hình thái học có thể chia ra rất nhiều loại đám đông khác nhau và
có những xu hướng hoàn toàn trái ngược nhau trong nguyên tắc phân loại đám
đông. Có những đám đông tồn tại trong một thời gian ngắn, có đám đông tồn tại
trong một thời gian dài; có những đám đông gồm những thành viên tương đồng, có
đám đông gồm những thành viên tương dị; có đám đông tự nhiên, có những đám đông
nhân tạo chỉ tụ tập vì bị thúc bách; có những đám đông đơn giản, có những đám
đông đã được phân công, có tổ chức cao. Vì những lí do sẽ được đề cập sau,
chúng tôi muốn nhấn mạnh một điểm mà các tác giả khác ít chú ý: đám đông không
có người cầm đầu và đám đông có người cầm đầu. Ngược lại với thói thường,
nghiên cứu của chúng tôi không bắt đầu bằng một đám đông đơn giản mà bắt đầu từ
những đám đông có tổ chức cao, tồn tại lâu dài, tụ tập do bị thúc bách. Hai
nhóm đáng chú ý hơn cả là giáo hội, tập hợp của các tín đồ, và quân đội.
Giáo hội và quân
đội thực chất là những đám đông nhân tạo, hình thành do bị thúc bách; để bảo
đảm cho chúng không bị tan rã và ngăn chặn những thay đổi trong tổ chức của
chúng người ta phải áp dụng một số cưỡng bách từ bên ngoài. Người ta không được
hỏi và cũng không được tự ý gia nhập những tổ chức như thế. Việc rút ra khỏi tổ
chức như thế thường bị đàn áp hoặc phải có một số điều kiện nhất định. Hiện
thời chúng ta không quan tâm đến việc là tại sao các tổ chức xã hội ấy lại cần
các biện pháp đảm bảo như vậy. Chúng ta chỉ quan tâm đến một tình tiết: trong
những đám đông có tổ chức cao như thế, những đám đông được bảo vệ khỏi tan rã
như vậy ta có thể dễ dàng nhận ra một số đặc điểm mà ở những đám đông khác khó
nhận ra hơn.
Trong giáo hội (tốt
nhất nên chọn giáo hội Công giáo làm mẫu) cũng như trong quân đội (mặc dù hai
tổ chức này khác nhau) vẫn tồn tại một niềm tin sai lầm (ảo tưởng) rằng người
cầm đầu - trong giáo hội là Jesus-Christ, còn trong quân đội là vị Tổng tư lệnh
- yêu thương tất cả các thành viên trong đoàn thể như nhau. Mọi điều khác phụ
thuộc vào ảo tưởng này, nếu ảo tưởng này biến mất thì cả quân đội và giáo hội
đều tan rã, hoàn cảnh bên ngoài chỉ làm cho việc tan rã xảy ra lâu hay mau hơn
mà thôi. Jesus-Christ yêu thương tất cả mọi người như nhau, ý ấy diễn đạt rõ
ràng trong câu sau đây: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm
việc đó cho một người trong những anh em ta, dầu là kẻ nhỏ mọn hơn hết, tức là
làm cho chính ta vậy.” [10] Ngài là một người anh nhân từ, người đóng vai trò
người cha của mọi tín hữu. Mọi yêu cầu đối với các đạo hữu đều phát sinh nhân
danh tình yêu này. Giáo hội khác với các tổ chức khác ở tính dân chủ chính vì
trước Jesus-Christ mọi người đều bình đẳng, mọi người đều được Ngài yêu thương
như nhau. Không phải là không có lí khi người ta so sánh sự tương đồng của cộng
đồng Công giáo với một gia đình, và các tín đồ gọi nhau là anh em trong Thiên
Chúa, nghĩa là anh em trong tình thương yêu mà Jesus-Christ dành cho họ. Không
nghi ngờ gì rằng mối liên hệ của mỗi người với Jesus-Christ cũng là nguyên nhân
ràng buộc giữa họ với nhau. Trong quân đội cũng như vậy, Tổng tư lệnh là người
cha yêu thương tất cả các chiến sĩ như nhau và vì vậy mà mọi quân nhân ràng
buộc với nhau trong tình đồng đội. Về cơ cấu, quân đội khác giáo hội ở điểm
đẳng cấp, mỗi vị chỉ huy là thủ trưởng và cha của đơn vị mình. Thực ra các cấp
bậc như thế được thiết lập cả trong giáo hội nữa, nhưng thang bậc không đóng
vai trò như trong quân đội vì người ta gán cho Jesus-Christ nhiều sự cảm thông
và quan tâm đến từng cá nhân hơn là một vị tư lệnh có thật dưới trần gian.
[10] Tin lành theo Ma-thi-ơ (25:40), bản
dịch của Hội Ghi-Đê-Ôn. (Ghi chú của người dịch.)
Quan niệm một cơ
cấu quân đội trên nền tảng dục tính (libido) như vậy có thể bị chỉ trích, người
ta có thể chỉ trích rằng chúng tôi không kể đến những khái niệm như tổ quốc,
lòng tự hào dân tộc,… là những nhân tố cố kết quan trọng đối với một đội quân.
Nhưng đây là trường hợp khác, không phải trường hợp đám đông đơn thuần và nếu
xét đến các đạo binh của Cesar, Wallenstein hay Napoleon thì ta sẽ thấy những
nhân tố ấy không cần thiết cho sự thiết lập và duy trì quân đội. Sau này chúng
tôi sẽ xét khả năng thay thế lãnh tụ bằng một lý tưởng chủ đạo và quan hệ giữa
lãnh tụ và lý tưởng.
Việc coi thường yếu
tố libido trong quân đội (ngay cả trong trường hợp nó không phải là yếu tố duy
nhất đóng vai trò tổ chức) không chỉ là sai lầm có tính lí thuyết mà còn nguy
hiểm trong thực tiễn. Khoa học Đức cũng như chủ nghĩa quân phiệt Phổ không biết
đến khía cạnh tâm lí chắc chắn đã học được bài học trong cuộc thế chiến vừa qua
(Thế chiến I - ND). Như ta biết bệnh suy nhược thần kinh của binh sĩ làm tan rã
quân đội Đức chính là lời phản kháng của từng cá nhân đối với vai trò của họ
trong quân ngũ và theo báo cáo của E. Simmel [11] thì ta có thể khẳng định rằng
nguyên nhân bệnh hoạn chủ yếu của binh sĩ chính là thái độ nhẫn tâm của các cấp
chỉ huy. Nếu người ta đánh giá cao hơn hấp lực libido đó thì có thể là những
lời hứa viển vông mười bốn điểm của Tổng thống Mỹ đã không giành được sự tin
cậy dễ dàng như thế và các nhà chiến lược Đức đã không bị đánh bật khỏi tay một
công cụ đáng tin cậy như thế.
[11] Kriegsneurosen und psychisches Trauma,
München 1918.
Chúng ta phải ghi
nhận rằng trong cả hai loại đám đông nhân tạo ấy mỗi cá nhân đều có mối liên hệ
libido, một mặt với lãnh tụ (Jesus-Christ, Tổng tư lệnh) và mặt khác với những
người khác trong đám đông. Hai mối liên hệ ấy có quan hệ với nhau ra sao, chúng
có tương đồng về bản chất và cùng giá trị hay không, về mặt tâm lí chúng phải
được mô tả ra sao, tất cả những điều đó sẽ được nghiên cứu sau. Nhưng ngay từ
bây giờ ta đã có thể trách cứ các tác giả đi trước là họ không đánh giá đúng
mức vai trò của lãnh tụ đối với tâm lí quần chúng trong khi chúng tôi chọn nó
làm đối tượng nghiên cứu đầu tiên và vì vậy mà giành được vị trí thuận lợi.
Chúng tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi đã đi đúng hướng trong việc cắt nghĩa
hiện tượng nền tảng của tâm lí đám đông, đó là: sự gắn bó của cá nhân trong đám
đông. Nếu mỗi cá nhân đều cảm thấy một mối liên kết tình cảm mạnh mẽ như vậy
trong cả hai hướng thì từ quan hệ đó sẽ dễ dàng giải thích những thay đổi và
hạn chế của cá nhân trong đám đông mà ta quan sát được.
Bản chất của đám đông
nằm trong các mối liên kết libido hiện hữu bên trong nó có thể được tìm thấy
trong hiện tượng hoảng loạn trong quân đội là hiện tượng có lẽ đã được nghiên
cứu kĩ nhất. Sự hoảng loạn phát sinh khi có sự tan rã. Đặc điểm chủ yếu của nó
là người ta không còn tuân theo mệnh lệnh của cấp chỉ huy nữa, ai cũng chỉ lo
cho mình, bỏ mặc người khác. Không còn mối ràng buộc nào nữa, một nỗi hoảng
loạn khủng khiếp và vô nghĩa xâm chiếm lòng người. Dĩ nhiên ở đây người ta cũng
có thể cãi rằng: ngược lại, chính vì nỗi sợ hãi quá lớn, nó đè bẹp mọi suy luận
và ràng buộc. Mc Dougall (trang 24) còn coi hoảng loạn (tuy không phải là quân
đội) là thí dụ về phóng đại khích động là do cảm ứng nguyên thuỷ (primary
induction). Nhưng sự giải thích thuần lí đó hoàn toàn sai. Chúng ta phải giải
thích tại sao nỗi hoảng loạn lại khủng khiếp đến như thế. Mức độ hiểm nguy
không phải là nguyên nhân vì chính đạo quân đang hoảng loạn đó đã từng đương
đầu được với những mối hiểm nguy như vậy mà có thể là còn hiểm nguy hơn, và đối
với nỗi hoảng loạn thì điều đặc biệt là nó không nằm trong mối tương quan nào
với hiểm nguy đang đe dọa cả, thường khi nó xuất hiện chỉ vì những lí do chẳng
đáng kể gì. Khi một cá nhân hoảng loạn thì hắn chỉ lo cho bản thân, điều đó
chứng tỏ rằng mọi mối liên hệ tình cảm của hắn, những mối liên hệ từng giúp
giảm thiểu nỗi sợ hãi, đã chấm dứt. Vì hắn phải một mình, đơn độc, đối diện với
hiểm nguy thì dĩ nhiên là hắn phóng đại thêm mối nguy hiểm. Như vậy nghĩa là
hoảng loạn xảy ra do sự tan rã cơ cấu libido của đám đông và là phản ứng phải
có đối với sự tan rã ấy, chứ không phải ngược lại là những liên hệ libido của
đám đông bị tan ra là do hoảng loạn trước hiểm nguy.
Nhận định trên đây
không mâu thuẫn với khẳng định rằng trong đám đông do cảm ứng nguyên thủy
(truyền nhiễm) mà hoảng loạn trở thành khủng khiếp hơn. Lí giải của Mc Dougall
hoàn toàn đúng cho những trường hợp khi mối nguy hiểm quả thật là to lớn cũng
như khi trong đám đông không có những mối liên kết tình cảm sâu sắc. Đấy là khi
trong rạp hát hay rạp xiếc xảy ra hỏa hoạn chẳng hạn. Nhưng trường hợp đáng
quan tâm và có ích cho mục đích của chúng ta là sự hoảng loạn trong một đạo
quân khi mà mối nguy hiểm không vượt quá mức bình thường, mức mà trước đây
không hề gây ra nỗi hoảng loạn nào. Vả chăng từ “hoảng loạn” không có một nghĩa
chuẩn xác và nhất định. Trong một số trường hợp thì nó dùng để chỉ mọi sự sợ
hãi của đám đông, trong một số trường hợp khác thì của một người, nếu nỗi sợ đó
là quá lớn, nhiều khi nó được dùng để chỉ sự bùng phát sợ hãi do những lí do
không đáng kể. Nếu chúng ta dùng từ “hoảng loạn” theo nghĩa nỗi sợ hãi của đám
đông thì ta có thể tiến hành so sánh. Cá nhân sợ hãi là do có nguy hiểm lớn hay
do bị mất các liên hệ libido; trường hợp sau là do suy nhược thần kinh (xin xem
Phân tâm học nhập môn, chương 25, Freud). Hoảng loạn xảy ra khi có mối nguy
hiểm to lớn đe doạ mọi người hay khi những mối dây liên kết tình cảm của đám
đông không còn, trường hợp sau cũng tương tự như sợ hãi do suy nhược thần kinh.
Nếu mô tả sự hoảng
loạn (như Mc Dougal làm) như là biểu hiện rõ rệt của tâm lí đám đông thì sẽ có
nghịch lí sau đây: tâm lí đám đông tự hủy diệt ngay trong một biểu hiện rõ rệt
nhất của mình. Không còn nghi ngờ gì rằng hoảng loạn là sự tan rã đám đông, kết
quả của sự tan ra đó là sự tiêu vong mọi ràng buộc giữa các cá nhân làm thành
đám đông.
Nguyên cớ điển hình
cho việc xuất hiện hoảng loạn rất giống với điều được mô tả trong đoạn văn của
Nestroy nhại vở kịch của Hebbel (Judith và Holopherne). Trong đoạn văn này một
người lính hô: “Chủ tướng bị chặt đầu rồi”, thế là toàn bộ quân lính Assyrie bỏ
chạy. Việc mất người cầm đầu trong bất cứ ý nghĩa nào của từ này, hay sự thất
vọng đối với ông ta cũng đều tạo ra hoảng loạn dù rằng nguy hiểm không tăng.
Liên kết hỗ tương giữa những cá nhân lập thành đám đông sẽ tan rã cùng với sự
tan rã liên kết với người chỉ huy. Đám đông tan rã như tuyết gặp ánh nắng mặt
trời.
Sự tan rã của đám
đông tôn giáo khó thấy hơn. Mới đây tôi có được đọc một cuốn tiểu thuyết của
Anh về đề tài Công giáo nhan đề Đêm đen (When it was dark) do một giám mục địa
hạt London giới thiệu. Theo tôi cuốn tiểu thuyết đã mô tả rất hay và
rất đúng khả năng và những hậu quả của sự tan rã của đám đông tôn giáo. Tác giả
tưởng tượng ra một hành động dường như xảy ra trong thời hiện tại: có một âm
mưu chống lại Jesus-Christ và những lời rao giảng của Ngài. Những kẻ âm mưu
phao tin chúng đã tìm thấy ở Jesusalem một hầm mộ, trong đó có một tấm bia nói
rằng một người tên là Arimathie thú nhận là ông ta, vì lòng kính Chúa, đã bí
mật lấy trộm xác Ngài sau khi Ngài chết được ba ngày và đem giấu ở cái hầm ấy.
Bằng cách đó, những kẻ âm mưu đã làm sụp đổ niềm tin vào sự tái sinh và nguồn
gốc thần thánh của Jesus-Christ. Vụ phát hiện khảo cổ học ấy đã làm rung chuyển
cả nền văn hóa Âu Châu và hậu quả là tội ác và bạo hành gia tăng đến mức báo
động. Tình trạng gia tăng tội ác chỉ chấm dứt khi người ta khám phá ra âm mưu
của những kẻ giả mạo.
Sự kiện bộc lộ
trước tiên trong vụ tan rã tôn giáo giả định nói tới ở đây không phải là nỗi sợ
hãi (không có lí do nào cả) mà là các xung lực ích kỉ và thù địch đối với tha
nhân. Những xung lực này trước đây không thể biểu lộ ra được chính vì tình yêu
đồng đều mà Jesus-Christ dành cho mọi người [12]. Ngay thời Chúa còn tại thế
vẫn có những cá nhân nằm ngoài mối liên kết tình cảm ấy; đó là những người
không thuộc cộng đồng Công giáo, họ không yêu Chúa mà Chúa cũng không yêu họ;
vì thế một tôn giáo - dù nó có tự gọi là tôn giáo của tình thương đi nữa - cũng
phải tàn bạo và không nương tay với kẻ ngoại đạo. Tại căn để, mọi tôn giáo đều
là tôn giáo của tình thương đối với những người cùng bổn đạo, và tôn giáo nào
cũng tàn ác và không khoan dung với người không chịu theo nó. Vì vậy dù có bị
tổn thương đến đâu ta cũng chớ nên nặng lời với những người sùng tín. Xét về
mặt tâm lí thì những người vô thần và những kẻ thờ ơ là những người gặp may mắn
hơn. Nếu lòng hẹp hòi, cố chấp ngày nay không còn mãnh liệt như xưa thì ta cũng
không thể nói rằng đấy là do tính khí người ta nay đã dịu hơn xưa. Nguyên do là
việc giảm sút không chối cãi được của tình cảm tôn giáo và cùng với nó là những
liên kết libido. Nếu có một đám đông khác thay thế cho đám đông tôn giáo (hiện
nay dường như đám đông theo học thuyết xã hội chủ nghĩa đã làm được như thế)
thì kết quả cũng vẫn là lòng hẹp hòi, cố chấp như thế với người không thuộc
đoàn thể ấy như thời các cuộc chiến tôn giáo mà thôi và nếu những khác biệt về
quan điểm khoa học có ý nghĩa lớn với quần chúng thì kết quả tương tự cũng xảy
ra ngay cả trong lĩnh vực này nữa.
[12]Trong cuốn Die vaterlose Gesellschaft
của Federn, Vienne 1919, có giải thích những hiện tượng tương tự xảy ra khi sụp
đổ quyền tộc trưởng.
Những vấn đề mới và những hướng tìm tòi mới
Chúng ta đã nghiên
cứu hai đám đông nhân tạo và thấy rằng có những ràng buộc tình cảm lưỡng phân
ngự trị trong các đám đông đó, một mặt là ràng buộc với lãnh tụ, có tính quyết
định hơn và mặt khác là với những cá nhân tham gia đám đông.
Nhiều vấn đề về cơ
cấu đám đông vẫn chưa được khảo sát và mô tả. Cần phải xuất phát từ luận điểm
là nếu trong một nhóm người tụ tập mà chưa hình thành các ràng buộc nêu trên
thì nhóm người đó chưa phải là đám đông, đồng thời phải công nhận rằng trong
bất kì nhóm người tụ hội nào cũng rất dễ xuất hiện xu hướng tạo lập một đám
đông tâm lí. Phải xem xét các đám đông tự tụ hội ít nhiều có tính cách thường
kì, theo nguyện vọng của mình; cần phải nghiên cứu điều kiện hình thành và tan
rã của chúng. Trước hết chúng ta quan tâm đến sự khác nhau của đám đông có
người cầm đầu và không có người cầm đầu. Liệu có phải là đám đông có người cầm
đầu là cổ xưa hơn và hoàn thiện hơn hay không? Liệu người cầm đầu có thể được
thay thế bằng một lý tưởng, bằng một cái gì đó trừu tượng là bước chuyển tiếp
mà các đám đông tôn giáo tạo nên cùng với người cầm đầu vô hình hay không? Liệu
một xu hướng, một ước vọng chung có thể thay thế vai trò người cầm đầu hay
không? Cái giá trị trừu tượng đó có thể thể nhập vào một cá nhân đóng vai trò
lãnh tụ thứ hai và từ quan hệ của người cầm đầu và lý tưởng có thể xuất hiện
những biến tướng đáng quan tâm. Người cầm đầu hay tư tưởng chủ đạo cũng có thể
thành tiêu cực, lòng căm thù một người nào đó hay thể chế nào đó có thể có khả
năng tập hợp và tạo ra những mối liên kết tình cảm giống như những cảm xúc tích
cực vậy. Sau đó có thể hỏi rằng có thực sự cần người cầm đầu để tạo ra đám đông
hay không,…
Nhưng tất cả những
câu hỏi đó, một phần đã được thảo luận trong sách báo về tâm lí đám đông, không
thể làm chúng ta sao lãng khỏi những vấn đề tâm lí mà chúng ta cho là cơ bản
trong cơ cấu đám đông. Trước hết chúng ta xem xét luận cứ chỉ cho ta con đường
ngắn nhất dẫn đến việc chứng minh rằng những mối liên kết đặc trưng cho đám
đông có nguồn gốc libido.
Chúng ta hãy nhớ
lại xem người đời đối xử với nhau như thế nào trong lĩnh vực tình cảm.
Schopenhauer đã có một so sánh nổi tiếng với những con nhím mùa đông để gợi
rằng không một người nào có thể chịu nổi sự gần gũi quá mức của người khác.
“Mùa đông lạnh giá, đàn nhím ép sát vào nhau cho ấm. Nhưng ngay lúc ấy chúng
cảm thấy đau vì lông con nọ chọc vào con kia, chúng phải lùi xa nhau ra. Thấy
rét chúng lại xích vào nhau và cứ thế chúng luẩn quẩn giữa hai nghịch cảnh đó
cho đến khi tìm được một khoảng cách vừa phải thoải mái nhất.” [13]. Phân tâm
học khẳng định rằng mọi liên hệ tình cảm gần gũi trong khoảng thời gian đủ lâu
nào đó (quan hệ vợ chồng, tình bạn, cha con) [14] đều để lại cảm giác khó chịu
mang tính thù nghịch chỉ có thể được loại bỏ bằng cách đẩy nhau đi. Ta thấy rõ
điều đó khi hai bên thường gây gổ với nhau hay khi thấy các nhân viên ta thán
chống lại cấp trên. Khi người ta tụ tập thành đám đông hơn thì cũng xảy ra
những chuyện hệt như vậy. Khi có hai gia đình thông gia với nhau thì bên nào
cũng cho rằng mình tốt hơn và cao quí hơn bên kia. Hai tỉnh cạnh nhau ghen tị
với nhau, tổng nọ khinh thường tổng kia. Giống người cùng nguồn gốc ganh ghét
nhau: người Đức miền Nam không chịu nổi người Đức miền Bắc, người Anh ghét
người Scotland, người Tây Ban Nha khinh người Bồ Đào Nha. Còn sự khác biệt lớn
gây ra mối căm thù: người Pháp thù người Đức, người Arien ghét dân Do Thái, da
trắng thù da đen; chuyện đó đã từ lâu chẳng làm ta ngạc nhiên nữa.
[13] Parerga und Paralipomena, II. Teil,
XXXI, Gleichnisse und Parabeln.
[14] Có thể loại trừ quan hệ giữa mẹ và con
trai, vốn được đặt nền tảng trên sự ngã ái, sẽ không bị phá vỡ do sự tương
tranh về sau mà sẽ được tăng cường do tham gia vào việc lựa chọn đối tượng tình
dục.
Nếu xuất hiện sự ác
cảm chống lại người mà ta từng yêu mến thì ta gọi đó là thái độ nước đôi
(ambivalent) và ta tự giải thích một cách quá duy lí bằng những lí do dẫn đến
xung đột về quyền lợi, những lí do luôn luôn hiện hữu trong các quan hệ thân
tình kiểu đó. Trong trường hợp khi sự ác cảm, thù địch biểu lộ công khai với
tha nhân thì ta có thể nhận thấy đấy là biểu hiện của tính ích kỉ, ngã ái, cái
ngã ái muốn tự khẳng định, cái ngã ái hành động theo kiểu dường như sự hiện hữu
những gì khác với đặc điểm cá nhân của nó đều kèm theo sự chỉ trích và đòi hỏi
phải biến cải. Chúng ta không biết vì sao người ta lại nhậy cảm với những tiểu
tiết đến như thế, nhưng chắc chắn rằng trong hành vi đó hiển lộ rõ ràng tính dễ
xung đột, dễ gây hấn mà chúng ta không rõ nguồn gốc và chúng ta coi là đặc điểm
nguyên thủy. Trong cuốn sách Vượt qua nguyên tắc khoái lạc xuất bản năm 1920,
tôi đã thử qui hai thái cực yêu ghét với sự đối lập giữa bản năng sống và bản
năng chết và coi khuynh hướng tính dục như là một thứ thay thế thuần khiết nhất
của cái thứ nhất, nghĩa là bản năng sống. Nhưng toàn bộ sự bất dung sẽ biến mất
tạm thời hay lâu dài khi xuất hiện đám đông hay ngay trong đám đông. Khi còn
đám đông thì cá nhân hành động trong khuôn khổ của nó như những người giống
nhau hoàn toàn, họ chấp nhận cá tính của tha nhân, coi mình ngang hàng với tha
nhân và không thấy có sự căm ghét nào.
Sự hạn chế ngã ái
đó, theo lí luận của chúng tôi, là do một một yếu tố duy nhất: liên kết libido
với người khác. Tính ích kỉ chỉ bị hạn chế khi có tình yêu đối với người khác,
khi có tình yêu với các đối tượng [15]. Một câu hỏi lập tức xuất hiện, tự thân
quyền lợi chung mà không cần bất cứ liên kết libido nào thì có dẫn đến sự khoan
dung và tôn trọng đối tác hay không? Có thể đáp rằng sự hạn chế ngã ái trong
trường hợp này không bền vững vì sự khoan dung sẽ mất ngay khi mối lợi do sự
cùng tham gia của tha nhân không còn. Nhưng giá trị thực tế của vấn đề đang tranh
luận này nhỏ hơn người ta nghĩ lúc đầu vì kinh nghiệm dạy chúng ta rằng trong
quá trình cộng tác thì giữa các đối tác sẽ phát sinh các điều kiện libido giúp
củng cố quan hệ của họ kể cả sau khi lợi lộc đã hết.
[15] Zur Einführung des Narzißmus. 1914
Trong quan hệ xã
hội của con người cũng xảy ra hiện tượng giống hệt như vậy mà phân tâm học phát
hiện ra khi nghiên cứu quá trình phát triển libido của cá nhân. Libido hướng
vào việc đáp ứng các nhu cầu sống còn và lựa chọn những người có thể đáp ứng
những nhu cầu đó làm những đối tượng đầu tiên. Trong quá trình tiến hóa của
nhân loại cũng như của cá nhân, chỉ có tình yêu mới có thể đóng vai trò như là
nhân tố văn hóa trong quá trình chuyển từ chủ nghĩa vị kỉ sang chủ nghĩa vị
tha. Và thực tế là vì tình yêu với một người đàn bà, cho dù nó có gây ra những
hạn chế, ta sẵn sàng chịu đựng mọi thứ miễn là người yêu ta được hạnh phúc;
tương tự như vậy khi có một tình yêu đồng giới thăng hoa, phi dục tính sinh ra
trong quá trình cộng tác với một người đàn ông. Như vậy là nếu trong đám đông
có sự giới hạn lòng ích kỉ ngã ái thì đấy là bằng chứng không thể chối cãi rằng
thực chất của đám đông chính là những liên kết mới được xác lập giữa các thành
viên của nó với nhau.
Nhưng bây giờ chúng
ta lại phải hỏi rằng những mối liên kết trong đám đông ấy là loại liên kết gì?
Trong lí thuyết phân tâm học về bệnh tâm thần cho đến nay chúng tôi mới chỉ
nghiên cứu về các khát khao yêu đương với các đối tượng nhằm mục đích dục tính
trực tiếp. Trong đám đông thì hiển nhiên không thể nói đến chuyện dục tính rồi.
Ở đây chúng ta gặp phải khát khao yêu đương tuy đã rẽ khỏi mục đích ban đầu
nhưng vẫn giữ nguyên ảnh hưởng đối với đám đông. Trong khuôn khổ của sự chiếm
đoạt đối tượng về mặt dục tính chúng tôi cũng đã nhận thấy những biểu hiện của
sự chuyển hướng ham muốn khỏi mục đích dục tính. Chúng tôi đã mô tả chúng như
là một mức độ yêu đương nhất định và nhận xét rằng chúng đã hạn chế một phần
cái “Tôi”. Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu kĩ lưỡng những biểu hiện tình ái đó
với hy vọng rằng chúng ta sẽ tìm ra các quan hệ có thể đem áp dụng vào trường
hợp các mối liên kết trong đám đông. Ngoài ra chúng ta còn muốn biết liệu
phương pháp chiếm đoạt đối tượng, như chúng ta đã biết trong đời sống tình dục,
có phải là hình thức liên kết tình cảm duy nhất đối với người khác hay chúng ta
còn phải lưu ý đến những cơ chế khác nữa. Phân tâm học cho chúng ta biết rằng
còn có những cơ chế liên kết tình cảm khác nữa: đó là hiện tượng đồng nhất hóa,
một hiện tượng chưa được nghiên cứu kĩ, rất khó mô tả, chúng ta hãy tạm gác vấn
đề tâm lí đám đông để xem xét vấn đề đồng nhất hoá.

