Tâm Lý Đám Đông Và Phân Tích Cái Tôi - Chương 10
Các thang bậc của cái Tôi
Nếu chúng ta có ý
định làm một bản tổng quan về đời sống tinh thần của con người ngày nay trên cơ
sở các tài liệu bổ xung lẫn nhau về tâm lí đám đông do nhiều tác giả đưa ra thì
ta sẽ dễ dàng bị mất phương hướng và có khi mất luôn cả hy vọng tạo ra một tác
phẩm hoàn bị. Mỗi một cá thể là thành viên của nhiều đám đông khác nhau; hắn
chịu những mối ràng buộc đủ mọi loại sinh ra do đồng nhất hóa; hắn xây dựng cho
mình những cái “Tôi” - lý tưởng theo những nguyên mẫu hoàn toàn khác nhau. Như
vậy là mỗi cá nhân tham gia vào nhiều đám đông tâm lí khác nhau, tâm lí của
chủng tộc, của đẳng cấp, của tôn giáo, của quốc gia,… Ngoài ra, ở một mức độ
nào đó hắn còn là người tự chủ và có cá tính riêng. Những đoàn thể ổn định và
vững chắc nêu trên do ít thay đổi nên không thu hút nhiều sự chú ý như những
đám đông tụ hội nhất thời mà dựa vào đó Le Bon đã ghi lại được cái đặc trưng
nổi bật nhất của linh hồn đám đông và cũng trong đám đông ồn ào, mau tan rã đó,
có thể nói trong cái đám đông bao trùm lên các đám đông khác đó đã xảy ra một
hiện tượng lạ lùng: cái mà chúng ta vẫn gọi là cá tính đã biến mất (dù là tạm
thời) không để lại chút dấu vết nào. Chúng ta cho đó là do cá nhân đã từ bỏ lý
tưởng của mình và chấp nhận lý tưởng của đám đông, thể hiện trong người cầm
đầu. Đúng ra phải nói rằng không phải trong mọi trường hợp điều lạ lùng đó đều
xảy ra với cùng một mức độ như nhau. Sự chia tách cái “Tôi” khỏi “Tôi” - lý
tưởng ở một số cá nhân chưa đủ rõ; cả hai còn dễ dàng cùng hiện diện, “Tôi” vẫn
còn giữ được một phần ngã ái của mình. Nhờ đó mà sự lựa chọn người cầm đầu sẽ
dễ dàng hơn nhiều. Thường thường thì người cầm đầu chỉ cần có những tính cách
điển hình nhưng thể hiện được một cách rõ ràng và sắc nét của các cá nhân hợp
thành đám đông, hắn ta phải tạo được cảm giác có uy và không bị ràng buộc về
mặt tình cảm (libido), nhu cầu về một thủ trưởng đầy sức mạnh sẽ tự tìm đến với
hắn, cái nhu cầu đó sẽ trao cho hắn một siêu quyền lực mà trước đó có thể hắn
cũng không hề kì vọng tới. Bằng cách tự điều chỉnh, “Tôi” - lý tưởng của các cá
nhân khác sẽ thể nhập vào bản ngã của hắn và các cá nhân đó do ám thị, nghĩa là
đồng nhất hóa, mà cuốn hút theo hắn.
Tóm lại, lời giải
thích mà chúng tôi đưa ra về cơ cấu libido của đám đông có thể rút gọn vào
trong sự chia tách cái “Tôi” khỏi “Tôi” - lý tưởng và vì vậy mà có hai loại
ràng buộc: đồng nhất hóa và thay thế “Tôi” - lý tưởng bằng đối tượng. Giả thiết
về thang bậc đó trong cái “Tôi” như là bước đầu trong việc phân tích cái “Tôi”
của con người phải dần dần tìm thấy sự khẳng định trong các lĩnh vực khác của
tâm lí học. Trong bài báo Zur Einführung des Narzißmus [30] tôi đã thu thập tất
cả các dữ kiện về mặt bệnh lí học làm cơ sở cho việc phân biệt đó. Chắc chắn là
khi nghiên cứu sâu vào tâm lí học của bệnh loạn thần kinh (Psychose) ta sẽ thấy
vai trò lớn hơn của ngã ái. Chúng ta phải nhớ rằng cái “Tôi” đóng vai trò của
đối tượng trong quan hệ với “Tôi” - lý tưởng và có thể toàn bộ những quan hệ mà
chúng tôi đã nghiên cứu trong lí thuyết về bệnh suy nhược thần kinh giữa đối
tượng bên ngoài và toàn thể cái “Tôi” cũng sẽ lặp lại trên bình diện mới này
trong cái “Tôi”.
[30] Jahrbuch der Psychoanalyse, VI 1914 -
Sammlung kleiner Schriften zur Neurosenlehre, IV.
Tôi muốn từ quan
điểm ấy tiếp tục thảo luận một trong những hậu quả có thể xảy ra và như vậy là
thảo luận một vấn đề mà tôi chưa giải quyết ở một chỗ khác [31]. Mỗi một sự
phân hóa tâm thần mà ta đã làm quen lại gây thêm khó khăn cho chức năng tâm
thần, làm nó thêm mất ổn định và có thể là khởi điểm của sự đình chỉ hoạt động,
của bệnh tật. Chúng ta khi vừa sinh ra là ngay lập tức bước từ tình trạng ngã
ái tự túc tụ mãn sang tình trạng tri giác thế giới luôn luôn biến đổi bên ngoài
và bắt đầu quá trình tìm kiếm đối tượng; và kết quả là chúng ta không thể ở
trong trạng thái này trong một thời gian lâu, chúng ta phải thường xuyên rời bỏ
nó và trở về tình trạng không có kích thích như trước đây và lẩn tránh đối
tượng trong giấc ngủ. Tất nhiên là chúng ta tuân theo chỉ dẫn của thế giới bên
ngoài, cái thế giới tạm thời giải phóng chúng ta khỏi nhiều tác nhân bằng cách
thay đổi theo chu kì ngày và đêm.
[31] Trauer und Melancholie, Internat.
Zeischr. f. Psychoanalyse, IV 1916 - 1918, Sammlung kleiner Schriffen zur
Neurosenlehre, IV.
Trong quá trình
phát triển từ bé tới lớn chúng ta chia toàn bộ thế giới nội tâm của ta thành
cái “Tôi” nhất quán và cái vô thức nằm ngoài “Tôi”, bị chèn ép và chúng ta biết
rằng sự ổn định của những thành phần mới được thiết lập này luôn luôn bị đe
dọa. Trong giấc mơ và trong bệnh suy nhược thần kinh cái tôi vô thức vốn bị đẩy
ra khỏi nhận thức của chúng ta tìm mọi cách phá cánh cửa được bảo vệ cẩn thận
để đi vào tâm thức, còn trong khi tỉnh táo thì chúng ta sử dụng nhiều biện
pháp, đánh lừa sức kháng cự để đưa phần bị dồn nén vào “Tôi” và giành được
khoan khoái. Sự hóm hỉnh, hài hước và phần nào nghệ thuật khôi hài nói chung
phải được xem xét từ quan điểm này. Những người có hiểu biết về tâm lí bệnh suy
nhược thần kinh đều có thể tìm được những thí dụ tương tự dù rằng ở mức độ nhỏ
hơn, nhưng tôi xin phép quay trở lại mục đích của chúng ta.
Chúng ta có thể
tưởng tượng rằng sự phân li “Tôi” - lý tưởng khỏi “Tôi” không thể nào kéo dài
lâu được mà đôi khi nhất định phải xảy ra quá trình ngược lại. Dù có đủ loại
cấm đoán và hạn chế áp đặt lên “Tôi”, theo chu kì thường vẫn xảy ra sự chọc
thủng những điều cấm đoán, các buổi hội hè lúc đầu chỉ là sự hỗn loạn mà pháp
luật cấm và nhờ tính chất vui vẻ của ngày hội mà người ta tạm thời được giải
phóng khỏi những cấm đoán thường nhật [32]. Những ngày hội của người La mã cổ
cũng như những hội hóa trang ngày nay giống với hội hè của người tiền sử ở điểm
chính yếu ở chỗ kết hợp giữa những chuyện trụy lạc và vi phạm những điều cấm kị
thiêng liêng nhất. Nhưng “Tôi” - lý tưởng là tổng thể tất cả những hạn chế mà
“Tôi” phải tuân theo vì vậy hủy bỏ lý tưởng là ngày hội lớn nhất của “Tôi” và
khi đó “Tôi” sẽ cảm thấy tự hài lòng với chính mình.
[32]Vật tổ và cấm kị, Sigmund Freud
Khi nào trong “Tôi”
có một điều gì đó trùng với “Tôi” - lý tưởng thì ta có được cảm giác đắc thắng.
Cảm giác tội lỗi (hay tự ti) có thể hiểu là sự thiếu nhất trí giữa “Tôi” với
“Tôi” - lý tưởng. Trotter cho rằng dồn nén là sản phẩm của bản năng bầy đàn.
Cũng một ý đó nhưng thể hiện hơi khác đi chứ hoàn toàn không mâu thuẫn khi tôi
nói: thành lập lý tưởng là điều kiện thuận lợi cho dồn nén (Einführung des
Narzißmus).
Như chúng ta đã
biết, có những người mà tâm trạng dao động theo chu kì từ trầm cảm quá độ qua
mức vừa phải rồi sang vui vẻ thái quá và trong thực tế thì sự dao động ấy lúc
mạnh lúc yếu, có khi không rõ rệt nhưng có lúc lại quá mạnh; thể hiện dưới dạng
trầm uất hay cuồng điên gây đau khổ và tàn phá cuộc đời người bệnh. Trong những
trường hợp điển hình của hiện tượng rối loạn theo chu kì như thế dường như các
nguyên cớ bên ngoài không đóng vai trò quan trọng, những nguyên nhân bên trong
cũng không có gì khác biệt với những người khác. Bởi vậy người ta cho rằng đấy
không phải là bệnh tâm thần. Những trường hợp rối loạn theo chu kì có thể dễ
dàng qui cho có nguyên nhân thương tổn thần kinh sẽ được nói đến sau. Chúng ta
chưa biết căn nguyên của những dao động tâm trạng bộc phát đó. Chúng ta không
biết cơ chế chuyển từ trầm uất sang cuồng điên. Đối với những người này có thể
giả thiết của chúng tôi về việc “Tôi” - lý tưởng tan vào “Tôi” trong khi trước
đó nó lại quá khắt khe với “Tôi” có thể được áp dụng.
Để tránh mọi sự mơ
hồ xin nhớ: trên cơ sở phân tích cái “Tôi” không còn nghi ngờ gì rằng ở người
điên (maniaque) “Tôi” nhập làm một với “Tôi” - lý tưởng, người đó cảm thấy sung
sướng vì không còn gì ngăn cản, e ngại, tự trách cứ và người đó ở trong trạng
thái đắc thắng, tự thỏa mãn mà không bị bất kì sự tự chỉ trích nào phá quấy cả.
Tuy không rõ như vậy nhưng hoàn toàn có thể là sự đau khổ của người trầm cảm là
do sự chống đối kịch lệt giữa hai phần của cái “Tôi”. Trong sự chống đối này
phần lý tưởng nhậy cảm lên án một cách quá khắt khe cái “Tôi” làm cho người
bệnh tự hạ mình và tự hạ nhục. Chỉ còn một vấn đề chưa được giải quyết, đấy là
có cần tìm nguyên nhân thay đổi quan hệ giữa “Tôi” - lý tưởng trong những phản
kháng chu kì nêu trên hay là nguyên nhân nằm ở chỗ khác.
Việc chuyển sang
tình trạng điên cuồng không phải là triệu chứng bắt buộc trong quá trình phát
triển bệnh trầm cảm. Có những trường hợp trầm cảm đơn giản, một lần, cũng như
có những trường hợp lặp lại theo chu kì nhưng không chuyển thành điên cuồng.
Mặt khác có những trường hợp trầm cảm mà nguyên nhân bên ngoài là lí do gây ra
bệnh. Đấy là những trường hợp trầm cảm do mất người thân, do bị chết hay do
hoàn cảnh mà xảy ra quá trình thu hồi lại libido đã dành cho đối tượng. Các
chứng trầm cảm tâm thần ấy cũng có thể chuyển thành điên cuồng và chu kì ấy lặp
lại nhiều lần giống như tình trạng trầm cảm tự phát vậy. Như vậy là tình hình
còn chưa rõ, hơn nữa cho đến nay phân tâm học mới chỉ phân tích một vài hình
thức và một vài trường hợp trầm cảm [33].
[33]Abraham: Ansätze zur pychoanalytischen
Erforschung und Behandlung des manisch-depressiven Irreseins, 1912 trong
“Klinische Beiträge zur Psychoanalyse”, 1921.
Cho đến nay chúng
tôi mới hiểu rõ những trường hợp mà đối tượng bị từ bỏ vì tỏ ra không xứng đáng
với tình yêu, sau đó cái “Tôi” tái tạo lại nó bằng cách đồng hóa còn “Tôi” - lý
tưởng thì lại lên án gay gắt đối tượng. Những lời chỉ trích và thái độ thù địch
với đối tượng được thể hiện dưới dạng tự chỉ trích theo kiểu trầm cảm. Nói đúng
hơn: những lời chỉ trích ẩn sau sự chỉ trích chính cái “Tôi” của mình làm cho
những chỉ trích ấy thành ra dai dẳng, không thể chối cãi và đấy là đặc trưng sự
tự chỉ trích của người mắc bệnh trầm cảm. Hiện tượng chuyển sang điên cuồng có
thể xảy ra ngay sau trạng thái trầm cảm đó, cho nên sự chuyển hóa này là dấu
hiệu độc lập với những đặc trưng chủ yếu khác của căn bệnh.
Nhưng tôi không
thấy có trở ngại gì khi chú ý đến chu kì phản kháng của cái “Tôi” chống lại cái
“Tôi” - lý tưởng cho cả hai trường hợp trầm cảm, trầm cảm tâm thần và tự phát.
Trong trường hợp trầm cảm tự phát có thể giả định rằng “Tôi” - lý tưởng quá
nghiêm khắc với “Tôi”, kết quả là sau đó nó bị tạm thời thủ tiêu một cách tự
động. Trong trường hợp trầm cảm tâm thần thì “Tôi” nổi loạn vì “Tôi” - lý tưởng
coi thường nó, mà sự coi thường này là kết quả của việc đồng nhất hóa “Tôi” với
đối tượng đã bị phủ nhận.

