Tâm lý học đám đông - Tập 1 - Chương 2 - Phần 1
Chương 2: Tình cảm và đạo đức của đám đông
Sau khi đã giới thiệu chung về những đặc tính tiêu biểu của đám đông, bây
giờ chúng ta sẽ đi vào xem xét từng tính chất cụ thể.
Nhiều tính chất đặc biệt của đám đông như, tính bốc đồng (impulsivité),
tính dễ bị kích thích (irritabilité), không thể tư duy một cách lôgic, thiếu
khả năng phán quyết và đầu óc suy luận, tính thái quá của tình cảm (exagération
des sentiments) và nhiều thứ khác nữa, là những biểu hiện của một thể chất đang
ở giai đoạn phát triển thấp, giống như ta quan sát thấy ở dã thú hoặc trẻ nhỏ.
Tôi chỉ lướt qua một chút về sự giống nhau này, bởi nếu trình bày kỹ nó sẽ vượt
ra khỏi khuôn khổ của quyển sách. Nó cũng không cần thiết đối với tất cả những
ai có hiểu biết tốt trong lĩnh vực tâm lý học về người nguyên thủy và cũng
không cần thiết với những ai, không biết một chút gì về lĩnh vực đó, và thực sự
không muốn tin. Bây giờ tôi sẽ lần lượt đi vào những tính chất dễ nhận thấy ở
phần lớn các đám đông.
§1. Tính bốc đồng, tính dễ thay đổi, tính dễ bị kích thích của đám đông
Khi nghiên cứu những tính chất cơ bản của đám đông, chúng tôi đã nhận xét
rằng, đám đông hầu như chủ yếu bị điều khiển bởi sự vô thức. Hành động của họ
bị điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật nhiều hơn là bởi não bộ. Những hành
động được thực hiện xét về mặt trọn vẹn có thể là hoàn hảo, nhưng do bởi chúng
không được điều khiển bởi não bộ cho nên mỗi cá nhân hành động tùy theo những
kích thích ngẫu nhiên. Đám đông là quả bóng chơi bởi tất cả những kích thích từ
ngoài vào, sự biến đổi không ngừng của nó đã phản ánh lên điều này. Thế cho nên
đám đông chính là nô lệ của những kích động mà nó thụ nhận. Một người độc lập
cũng có thể phải chịu cùng những tác động giống như đám đông, nhưng được bộ não
của nó chỉ cho thấy những hậu quả bất lợi nếu phục tùng những sự kích động này
nên nó đã không tuân theo. Tâm lý học giải thích điều này như sau, người độc
lập có khả năng chế ngự những cảm tính của nó, đám đông thì không có khả năng
như vậy.
Những loại thèm khát có dạng khác nhau mà đám đông tuân theo tùy vào mức độ
kích thích của nó sẽ có thể là tàn bạo, anh dũng, hèn nhát hoặc cao quý, là
những cái thường không thể nào tránh được bởi ý thức tự kiềm chế đã nhường bước
cho chúng.
Do bởi những kích thích tác động vào đám đông thay đổi liên tục và họ luôn
tuân theo chúng, vì thế bản thân đám đông dĩ nhiên cũng sẽ rất dễ biến đổi.
Chính vì vậy ta thấy họ trong phút chốc có thể chuyển từ chỗ tàn bạo đẫm máu
nhất sang anh dũng hoặc can đảm nhất. Đám đông dễ trở thành đao phủ nhưng cũng
dễ trở thành kẻ tử vì đạo. Trong tim họ tràn đầy nhiệt huyết rất cần cho sự
chiến thắng của mỗi một niềm tin. Người ta không cần phải quay trở lại cái thời
của những anh hùng để có thể nhận ra được đám đông có khả năng gì. Không bao
giờ họ mặc cả sinh mạng của mình trong một cuộc khởi nghĩa; mới chỉ vài năm
cách đây không lâu, một ông tướng (tướng Boulanger) bỗng nhiên được nhân dân
yêu mến, một khi ông ta đòi hỏi, dễ dàng có hàng ngàn người sẵn sàng chém giết
vì sự nghiệp của ông ta.
Đám đông chẳng suy tính bất cứ cái gì. Dưới ảnh hưởng của những kích động
trong giây phút họ có thể trải qua hàng loạt các trạng thái tình cảm trái ngược
nhau. Nó giống như những tàn lá trước gió, chúng chao đảo mọi phương và rơi
rụng. Nghiên cứu những đám đông cách mạng nào đó sẽ cho phép ta có được những
ví dụ về sự biến đổi trong tình cảm của họ.
Những sự biến đổi này làm cho sự lãnh đạo họ trở nên khó khăn, đặc biệt khi
nếu như một phần của công quyền nằm trong tay họ. Giả như những đòi hỏi của
cuộc sống hàng ngày không phải là một dạng luật lệ vô hình đối với các tình
huống, thì những chính thể dân chủ cũng sẽ không tồn tại được. Cho dù đám đông
rất thèm muốn nhiều thứ, tuy nhiên họ cũng không muốn giữ chúng thật lâu. Giống
như việc không có khả năng tư duy, đám đông không thể có một ý chí bền bỉ.
Đám đông không chỉ bốc đồng và hay biến đổi. Giống như những con thú hoang
dã, họ không cho phép bất cứ một vật cản nào nằm giữa sự thèm muốn và việc thỏa
mãn sự thèm muốn đó, và họ càng ít cho phép hơn, khi cái sự đa số của họ đảm
bảo cho họ một cảm giác quyền lực không gì chống lại nổi. Đối với một người
trong đám đông cái khái niệm “không có thể” hoàn toàn biến mất. Một người độc
lập sẽ ý thức được rằng một mình nó không thể châm lửa đốt cháy một cung điện,
không thể trấn lột các quán hàng, ngay cả trong ý nghĩ nó cũng không hề có một
chút ham muốn làm những điều như vậy. Là thành viên của đám đông nó ý thức được
cái quyền lực mà đám đông đã trao cho nó, và trong giây lát nó sẽ nghe theo sự
kích động để rồi chém giết và cướp phá. Một vật cản vô tình nào đó sẽ bị đập
tan trong giận dữ. Nếu cơ quan trong cơ thể con người liên tục tiếp nhận sự
giận dữ, như thế ta có thể coi giận dữ là trạng thái bình thường của đám đông
bị dồn nén.
Tính dễ bị kích thích, tính bốc đồng, và dễ thay đổi của đám đông cũng như
ý thức của cả một dân tộc, những cái chúng ta cần nghiên cứu, luôn bị biến đổi
bởi những tính cách chủng tộc cơ bản. Chúng tạo nên những cái nền vững chắc cho
sự hình thành mọi tình cảm của chúng ta. Rõ ràng rằng đám đông dễ bị kích
thích, dễ bốc đồng, tuy nhiên chúng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Ví dụ,
sự khác nhau giữa giống người thuộc nhóm La tinh và giống người thuộc nhóm
Anglo-Saxon quả thật rõ ràng. Những sự kiện gần đây trong lịch sử của chúng ta
là bằng chứng sống động về điều này. Năm 1870, chỉ việc công bố bức điện tín
tường trình về việc một vị đại sứ hình như bị sỉ nhục đã làm bùng phát một cơn
tức giận là nguyên nhân trực tiếp của một cuộc chiến khủng khiếp. Một vài năm
sau cũng vì một bức điện tín tố cáo một thất bại nhỏ bé tại Langson đã lại tạo
nên một cơn tức giận dẫn tới việc giải tán ngay lập tức chính phủ. Cùng thời
gian, sự thất bại nặng nề của đoàn quân viễn chinh Anh tại Khatum chỉ gây nên
một xáo động nhỏ ở nước Anh, và chẳng có bộ nào từ chức. Ở khắp nơi đám đông
đều đàn bà (ẻo lả) và đàn bà nhất là đám đông thuộc nhóm Latinh. Những ai dựa vào
đám đông sẽ leo lên rất nhanh, tuy nhiên họ lúc nào cũng như kẻ đứng bên bờ vực
trên núi Tarpeji, với một điều chắc chắn rằng một ngày nào đó sẽ bị rơi xuống
dưới.
§2. Tính dễ bị tác động và tính nhẹ dạ của đám đông
Một trong những đặc tính của đám đông đó là tính đặc biệt dễ bị tác động và
chúng tôi cũng chứng minh rằng tính chất này lây lan rất mạnh ở mọi chỗ có đông
người tụ tập; nguyên nhân của nó được giải thích bởi sự định hướng cực nhanh
của tâm tư tình cảm theo một chiều nào đó. Ngay cả lúc người ta tưởng rằng giữa
đám đông không hề có một thứ liên kết nào, thường cũng là lúc nó đang ở trong
tình trạng căng thẳng chờ đợi, thuận lợi cho việc tiếp nhận một tác động nào đó
vào nó. Tác động cụ thể đầu tiên sẽ được thông báo đến tất cả các bộ não qua đường
lây nhiễm và xác định lập tức hướng tình cảm của đám đông. Trong nội tâm của
những người bị tác động xuất hiện một sự thúc dục phải biến nhanh ý tưởng thành
hành động. Bất kể mục đích hành động là gì, hoặc thiêu hủy một lâu đài, hoặc hy
sinh chính bản thân mình, đám đông cũng sẵn sàng một cách dễ dàng. Tất cả phụ
thuộc vào kiểu kích thích, không còn như trong trường hợp của một người độc lập
- tùy thuộc vào những mối quan hệ giữa hành động bị thúc ép và chuẩn mực của lý
trí nó có thể cưỡng lại việc thực thi hành động đó. Đám đông, luôn bị lạc trong
các ranh giới của sự vô thức, luôn ngả theo mọi ảnh hưởng, bị những tình cảm
mãnh liệt của họ kích thích, tình cảm mức độ này là đặc tính của tất cả sinh
vật không có khả năng sử dụng lý trí, miễn dịch với tất cả các kiểu phê phán,
phải có một sự cả tin quá mức bình thường. Chẳng có gì đối với nó là không có
thể, và người ta không được phép quên điều này, nếu như muồn hiểu, vì sao các
huyền thoại và những câu chuyện vô lý nhất lại có thể dễ hình thành và lan truyền
đến như vậy[3].
[3] Ai đã từng tham gia vụ vây chiếm Paris
chắc hẳn phải được chứng kiến nhiều trường hợp cả tin của đám đông vào những
thứ cực kỳ vô lý. Một ánh nến cháy sáng trên một tầng nhà cao lập tức được coi
là một tín hiệu báo cho những kẻ bao vây. Sau hai giây suy nghĩ người ta nhận
ngay ra không thể nào nhìn thấy ánh sáng của một ngọn nến ở cách xa đến nhiều
dặm như vậy.
Sự xuất hiện các huyền thoại dễ lan truyền trong đám đông không chỉ hoàn
toàn do sự cả tin mà còn do sự bóp méo khủng khiếp các sự kiện trong trí tưởng
tượng của đám người tụ tập lại với nhau. Một sự kiện đơn giản, đám đông chợt
nhìn thấy, lập tức sẽ trở thành một sự kiện bị bóp méo. Đám đông tư duy bằng các
hình ảnh, và khi một hình ảnh hiện lên sẽ kéo theo một chuỗi các hình ảnh khác,
không hề có một mối liên hệ logic với hình ảnh đầu tiên. Chúng ta dễ dàng hiểu
ra trạng thái này, một khi chúng ta ngẫm nghĩ xem chuỗi các liên tưởng đặc biệt
nào lúc đó đã tạo nên một ấn tượng trong ta. Lý trí chỉ cho thấy sự không mạch
lạc của những hình ảnh đó, nhưng đám đông không để ý đến điều này và đã trộn
thêm gia giảm có được từ những tưởng tượng méo mó của họ vào trong sự kiện. Đám
đông không có khả năng phân biệt được giữa cái chủ quan và cái khách quan. Nó
luôn coi những hình ảnh xuất hiện trong tâm thức của nó, thường chẳng giống gì
với thực tại quan sát được, là sự thực.
Những sự bóp méo một sự kiện bởi đám đông mà chính nó là người chứng kiến
có vẻ như rất nhiều và với các dạng khác nhau, bởi những con người trong đám
đông đó họ có những tính khí rất khác nhau. Thế nhưng không phải như vậy. Tất
cả những sự bóp méo bởi các thành viên riêng lẻ của một tập thể do lây nhiễm
đều trở nên giống nhau về kiểu cách và bản chất. Sự bóp méo đầu tiên bởi một
thành viên nào đó sẽ là hạt nhân của tác động lây nhiễm. Trước khi thánh Georg
hiển linh trên tường thành Jerusalem trước mặt đoàn quân thập tự chinh, chắc
chắn ban đầu chỉ có một người trong số họ nhận ra ông ta. Qua tác động và lây
nhiễm, điều nhiệm màu được loan truyền và tất cả mọi người đều tiếp nhận.
Quá trình hình thành các ảo giác đã xảy ra như vậy, chúng có mặt thường
xuyên trong lịch sử và dường như có tất cả những đặc điểm cổ điển của tính xác
thực, bởi vì nó là những hiện tượng được chứng nhận bởi hàng ngàn con người.
Năng lực tinh thần của từng con người trong đám đông không hề mâu thuẫn với
nguyên lý cơ bản này. Bởi vì những năng lực đó chẳng có ý nghĩa gì. Trong
khoảnh khắc, khi mà họ trở thành thành viên của đám đông thì người có học cũng
như người không có học đều mất đi khả năng quan sát.
Lập luận này nghe chừng có vẻ vô lý. Để chứng minh nó, người ta phải lục
lại rất nhiều những hiện tượng lịch sử và như thế không biết bao nhiêu tập sách
cho đủ.
Bởi vì tôi không muốn để độc giả phải hứng chịu cái ấn tượng về những lập
luận không được chứng minh, cho nên tôi sẽ cung cấp một số ví dụ mà tôi may mắn
tìm ra được trong vô số các tài liệu mà người ta có thể trích dẫn.
Các thí dụ về những ảo giác tập thể
Trường hợp sau đây được chọn bởi vì nó rất đặc trưng cho hiện tượng ảo giác
tập thể. Nó tác động vào một đám đông gồm nhiều thành phần khác nhau, người có
học và người không có học. Trung úy hải quân Julien Felix đã ghi lại những gì
xảy ra bên lề cuốn tường trình của ông ta về các dòng hải lưu và điều này cũng
đã được đăng lại trong “Revue Scientifique”.
Khu trục hạm “La Belle-Poule” đang tiến
hành tìm kiếm tàu hộ tống “Le Berceau” bị lạc sau một cơn bão biển lớn. Lúc đó
trời quang mây tạnh. Bỗng nhiên một thuyền viên báo động có tàu gặp nạn. Tất cả
thủy thủ đoàn hướng mắt về phía được chỉ, từ thuyền viên đến sĩ quan trên tàu
ai cũng đều trông thấy rõ ràng một xác tàu đầy ắp người gặp nạn đang được những
chiếc bè kéo đi và trên đó có những cờ hiệu cấp cứu đang vẫy vẫy. Đô đốc
Desfossés liền ra lệnh thả xuồng tiến về phía xác tàu để cứu những người bị
nạn. Trên đường tiếp cận, tất cả thủy thủ và sĩ quan trên xuồng ai cũng đều
nhìn thấy “rất nhiều người đang chuyển động hỗn loạn, nhiều bàn tay vẫy vẫy, và
nghe thấy vố số những âm thanh yếu ớt khó hiểu”. Khi tới nơi họ chẳng thấy gì
ngoài những thân cây với những cành lá trôi dạt đến từ một bờ biển gần đó. Ảo
giác đã biến mất trước một bằng chứng hiển nhiên.
Thí dụ trên cho thấy một cách rõ ràng quá
trình hình thành ảo giác tập thể, như chúng tôi đã miêu tả. Một mặt đám đông
đang ở trong trạng thái chú ý căng thẳng; mặt khác là sự kích hoạt xuất phát từ
người lính gác khi anh ta báo động có tàu bị nạn, một sự kích hoạt qua lây
nhiễm đã tác động đến tất cả những người có mặt, từ sĩ quan đến thủy thủ.
Một đám đông không nhất thiết phải có thật
nhiều người mới có thể mất đi khả năng nhìn đúng sự vật và thay thế những cái
thực bằng những ảo ảnh. Sự tụ họp chỉ vài ba người riêng rẽ cũng tạo nên đám
đông; ngay cả những nhà thông thái, tất cả đều có những đặc tính đám đông đối
với những sự việc nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.
Nhà tâm lý học sắc sảo Davey cung cấp cho
chúng ta một thí dụ kỳ lạ cho trường hợp trên, nó cũng đã được thuật lại trong
“Annales des Sciences psychiques” vì vậy cũng đáng được trình bày tại đây.
Davey tiến hành tổ chức một cuộc họp mặt các nhà quan sát xuất sắc, trong số đó
có nhà nghiên cứu người Anh nổi tiếng Wallace. Sau khi cho mọi người xem kỹ các
đồ vật và để họ tùy ý niêm phong chúng lại, ông trình diễn lại các hiện tượng
cổ điển về duy linh học như: Hiển thị hồn ma, ghi lại lời hồn ma lên bảng đá...
Sau khi nhận được bản nhận xét của những nhà quan sát có uy tín trên về buổi
trình diễn, trong đó nói rằng các hiện tượng mà họ quan sát thấy chỉ có thể là
những hiện tượng siêu tự nhiên, ông ta đã tiết lộ cho họ biết đó chỉ là những
thủ thuật đơn giản. “Điều ngạc nhiên ở trong thí nghiệm này của Davey,” tác giả
bài tường thuật viết, “không nằm ở sự thán phục nghệ thuật trình diễn, mà ở sự
đặc biệt ngớ ngẩn của bản tường thuật viết bởi những người không quen việc làm
chứng. Bởi vì các các nhân chứng đã thuật lại nhiều điều chính xác nhưng thực
ra hoàn toàn sai, thế nhưng nếu người ta coi những điều thuật lại của họ là
hoàn toàn đúng, thì những gì được thuật lại đó sẽ đưa đến kết quả là các hiện
tượng được miêu tả không thể nào giải thích được rằng đó là sự đánh lừa. Các
phương pháp do Davey nghĩ ra hoàn toàn đơn giản, người ta ngạc nhiên về sự thản
nhiên của ông khi tiến hành chúng, tuy nhiên ông ta phải còn có một sức mạnh
chế ngự tinh thần của đám đông như thế nào đó để có thể cưỡng bức họ dường như
phải nhìn thấy cái mà thực ra họ không hề thấy.” Sức mạnh này các nhà thôi miên
ai cũng có khi họ vận vào người bị thôi miên. Khi ta thấy sức mạnh đó tác động vào
những cái đầu sáng suốt và không cả tin như thế nào, thì ta sẽ hiểu việc đánh
lừa các đám đông của những con người bình thường cũng rất dễ dàng ra sao.
Lời chứng của phụ nữ và trẻ nhỏ
Có rất nhiều thí dụ tương tự không kể hết.
Cách đây vài năm báo chí có đăng một câu chuyện về hai em gái nhỏ bị chết đuối
được vớt lên từ sông Sein. Hàng chục người đã nhận ra tông tích hai em bằng
những khẳng định chắc chắn nhất. Trước những lời chứng khớp nhau như vậy, chút
ít nghi ngờ còn lại của cơ quan điều tra đã hoàn toàn biến mất và họ đã làm
giấy chứng tử. Thế nhưng trong lúc chuyển các thi hài đi làm lễ chôn cất thì
tình cờ người ta phát hiện ra người có căn cước như hai nạn nhân trên vẫn đang
sống và có hình thức bên ngoài chẳng khác gì hai nạn nhân nhỏ bé kia (ở đây
dịch hoàn toàn sai, phải là, “chẳng có chỗ nào giống” mới đúng). Như trong
nhiều thí dụ đã trình bày sự quả quyết của nhân chứng đầu tiên, nạn nhân của ảo
giác, đủ để có ảnh hưởng đến tất cả các nhân chứng khác.
Trong những trường hợp như vậy, xuất phát
điểm của sự ảnh hưởng luôn là ảo giác được hình thành nên qua hồi tưởng, có mức
độ chính xác nhiều ít khác nhau của từng nhân chứng và ngoài ra là sự lây nhiễm
của thông tin sai lệch đầu tiên. Nếu nhân chứng đầu tiên là người nhạy cảm,
thường chỉ cần một đặc điểm, không kể tất cả những điểm thực sự giống nhau
khác, của nạn nhân mà anh ta nghĩ rằng mình biết là ai, ví dụ một vết sẹo, một
đặc điểm nào đó trên quần áo, cũng đủ để gợi cho anh ta hình ảnh của một người
khác. Hình ảnh tưởng tượng lúc này có thể trở nên một kiểu hạt nhân của sự kết
tinh, nó lan rộng vào lĩnh vực lý trí và làm tê liệt tất cả óc xét đoán. Người
quan sát lúc này không còn nhìn thấy bản thân sự vật mà chỉ thấy cái hình ảnh
xuất hiện trong tâm hồn anh ta. Bằng cách giải thích như vậy cho trường hợp,
xảy ra cũng khá lâu, về một người mẹ dường như nhận ra xác chết của con mình,
như sẽ trình bày sau đây, đã làm sáng tỏ hai hình thức tác động, mà quá trình
hình thành nên chúng, tôi cũng đã đề cập đến.
“Đứa trẻ được một đứa trẻ khác nhận ra - nó
đã nhầm. Một chuỗi những sự nhận diện sai lầm bắt đầu hình thành. Và điều khó
hiểu đã xảy ra. Đúng cái ngày cái xác chết được một trẻ khác nhận ra, người đàn
bà đã khóc thét: ‘Giời ơi, con tôi ơi!’. Người ta đưa bà tới bên xác chết, bà
ta xem kỹ áo quần và vết sẹo trên trán xác chết đó rồi nói: ‘Đúng rồi, đây là
thằng con đáng thương của tôi bị mất tích từ cuối tháng bảy. Có kẻ đã bắt cóc
nó và đem đi giết.’ Bà ta là quản gia ở phố Rue de Four và tên là Chavandret. Người ta cũng đã
đưa em rể của bà đến nơi xác chết và người này cũng quả quyết một cách không do
dự: ‘Đây là thằng nhỏ Philibert.’ Nhiều dân cư của khu phố, ngay cả thầy giáo
của đứa trẻ với bằng chứng chắc chắn là chiếc phù hiệu trường học, đều cho rằng
cái xác đó là con của nhà Villette Philibert Chavandret. Thế là: hàng xóm, em
rể, thầy giáo và cả bà mẹ nữa đều đã nhầm. Sáu tuần sau gốc tích của xác chết
được xác định. Đó là một đứa trẻ vùng Bordeaux, bị giết ở đó và xác của nó được
gửi qua bưu điện đến Paris[4].
[4] “Eclair” ngày 21 tháng 4 1895.
Chúng ta lại có thể khẳng định rằng, cái “nhận ra” này thường xảy ra ở phần
lớn đàn bà và con trẻ, là những thành phần dễ xúc động nhất. Đồng thời nó cũng
nói lên một điều là những nhân chứng như vậy rất ít có giá trị trước tòa. Đăc
biệt những lời khai từ miệng trẻ con không bao giờ nên quan tâm tới. Các quan
tòa luôn lặp đi lặp lại, ở tuổi đó người ta không biết nói dối; đó là một câu
nói vô vị. Nếu như họ được học về tâm lý học sâu hơn một chút họ sẽ hiểu rằng:
hoàn toàn ngược lại, trong lứa tuổi đó người ta thường xuyên nói dối. Dĩ nhiên
là sự nói dối chẳng tác hại gì, nhưng dù sao nó cũng là nói dối. Việc tuyên án
một kẻ có tội có lẽ làm theo kiểu tung đồng xu xem ra lại còn xác đáng hơn là
kiểu dựa vào những chứng cứ của trẻ con như vẫn thường xảy ra.
Tạo nên những truyền thuyết
Quay trở lại những quan sát được đám đông tiến hành, chúng ta kết luận như
sau, những quan sát tập thể đều thuộc vào loại có nhiều sai lầm nhất, và phần lớn,
nó đơn giản chỉ là ảo giác của một cá nhân, qua lây nhiễm đã tác động đến tất
cả những người khác. Vô số các trường hợp đã chỉ ra rằng người ta phải rất cảnh
giác với năng lực làm chứng của đám đông. Hàng nghìn con người đã chứng kiến
trận đánh nổi tiếng của kỵ binh tại Sedan, nhưng thật không thể nào biết được
chính xác ai là người chỉ huy trận đánh này từ những tường thuật trái ngược
nhau của các nhân chứng. Viên tướng người Anh Wolseley đã chứng minh trong
quyển sách mới đây của ông ta rằng, cho đến nay những sự kiện quan trọng nhất
trong trong trận Waterloo đã bị xác định một cách nhầm lẫn rất nhiều, mặc dù có
hàng trăm nhân chứng chứng nhận những sự kiện đó.[5]
[5] Liệu chúng
ta có biết, chỉ duy nhất về một trận đánh, rằng nó đã xảy ra như thế nào? Tôi
rất nghi ngờ điều này. Chúng ta chỉ biết kẻ chiến thắng và kẻ chiến bại, ngoài
ra có lẽ chẳng còn gì nữa. Những gì d'Harcourt viết về trận Solferimo mà ông ta
một phần trực tiếp tham dự và một phần quan sát thấy, ta có thể vận dụng cho
tất cả các trận đánh khác: “Những vị tướng (dĩ nhiên là có hàng trăm nhân chứng
xác nhận) lập nên các báo cáo chính thức; các sĩ quan được giao nhiệm vụ phát
tán các báo cáo này đã sửa đổi và quyết định nội dung cuối cùng của báo cáo;
Tổng tham mưu trưởng xem xét và viết lại. Người ta đem báo cáo trình thống chế,
ông ta hét lên: ‘Ngài nhầm lẫn hoàn toàn!’ và tự mình sửa lại báo cáo. Nguyên
văn ban đầu của báo cáo giờ đây hầu như chẳng còn gì nữa.” D'Hartcourt kể
chuyện này để chứng minh rằng không thể biết được sự thật là như thế nào ở
những sự kiện hấp dẫn nhất và được quan sát một cách chính xác nhất.
Tất cả những ví dụ trên cho thấy, tôi nhắc
lại, năng lực làm chứng của đám đông có ít giá trị như thế nào. Các sách giáo
khoa về logic học xếp sự trùng hợp của một số đông nhân chứng thuộc vào loại
bằng chứng chắc chắn nhất, có thể dùng để khẳng định một sự kiện. Nhưng những
gì chúng ta biết được từ tâm lý học đám đông đã chỉ cho thấy, đám đông về điểm
này đã rất nhầm lẫn như thế nào. Những sự kiện quan sát được bởi một số đông
người chắc chắn sẽ là những sự kiện đáng nghi ngờ nhất. Để giải thích rằng một
sự kiện xảy ra đúng như vậy vì đã có đồng thời hàng nghìn con người xác nhận,
có nghĩa là giải thích rằng, cái thực của sự kiện đó nhìn chung rất khác biệt
với những tường thuật được cung cấp.
Từ trên đây ta rút ra một điều rõ ràng
rằng, những tác phẩm lịch sử nên được coi là sản phẩm của sự hư cấu thuần túy.
Đó là những bài viết tưởng tượng về những sự kiện được quan sát tồi, thêm vào
đó là những giải thích được nhào nặn về sau này. Nếu như quá khứ không để lại
cho chúng ta những tượng đài kỷ niệm, những tác phẩm nghệ thuật và kiến trúc,
thì có lẽ chúng ta không hề biết thực ra nó như thế nào. Liệu chúng ta có biết,
dù chỉ một câu thực sự về cuộc đời của những con người vĩ đại đã từng đóng một
vai trò to lớn trong lịch sử loài người? Nhiều khả năng là không. Xét cho cùng
thì chúng ta rất ít quan tâm đến cuộc đời thực của những vị như thế. Chỉ những
anh hùng trong truyền thuyết, chứ không phải những anh hùng trong đời thực đã
làm nên ấn tượng trong đám đông.
Tiếc rằng các truyền thuyết tự nó không tồn
tại lâu dài. Trí tưởng tượng của con người sẽ nhào nặn nó tùy theo thời đại và
chủng tộc. Từ đức Jehova tàn bạo trong kinh thánh cho đến đức chúa trời đầy
tình thương của thánh Therese là cả một bước lớn, và Đức Phật được kính trọng ở
Trung quốc với Đức Phật được yêu mến ở Ấn độ chẳng có chút gì giống nhau.
Không cần phải có đến cả một thế kỷ mới đủ
để cho các anh hùng truyền thuyết trong trí tưởng tượng của đám đông biến đổi;
sự biến đổi này thường xảy ra chỉ trong một vài năm. Chúng ta, trong những
tháng ngày của cuộc đời cũng đã từng chứng kiến truyền thuyết về một trong
những anh hùng vĩ đại nhất của lịch sử, chỉ trong vòng chưa đầy năm mươi năm đã
thay đổi nhiều lần. Dưới thời Bourbon, Napoleon là một nhân vật bình dị, dễ gần
và cởi mở, là người bạn của dân nghèo, những người như một nhà thơ đã nói, sẽ
mãi mãi giữ những kỷ niệm về ông ta trong những túp lều tồi tàn của mình. Ba
mươi năm sau đó người anh hùng đáng mến đã trở thành một tên bạo chúa, một tên
tiếm quyền, cướp đoạt tự do, một kẻ đã hy sinh mạng sống của ba triệu sinh linh
chỉ để thỏa mãn tham vọng của mình. Nhiều thế kỷ tới, những nhà nghiên cứu trong
tương lai nào đó, khi thấy những tường thuật trái ngược nhau về cùng một con
người, có thể họ sẽ phải hoài nghi về cuộc đời của vị anh hùng này, như chúng
ta thỉnh thoảng đã hoài nghi về cuộc đời của Phật, và sau đó chúng ta chỉ thấy
từ ông một huyền thoại chói ngời hoặc một sự tiếp nối của truyện dân gian về
người anh hùng Hercules. Rõ ràng họ sẽ không vướng mắc nhiều với nỗi hoài nghi
đó, bởi vì họ có kiến thức về tâm lý học tốt hơn chúng ta ngày nay, cho nên họ
sẽ biết ngay rằng lịch sử chỉ muốn lưu danh những huyền thoại.

