Bên giòng lịch sử - Chương 02

Chương 2

2. Những cái mốc trong
lịch sử.

Về những ngày niên thiếu của tôi, cũng như của những đứa trẻ Việt
Nam vào thời buổi đó, tôi chỉ còn nhớ được cái không khí thanh bình, yên ổn,
nhưng là một thứ thanh bình và yên ổn đe dọa, đau xót, nhục nhã. Tôi ra đời tại
Hà Tĩnh, năm 1908. Đó cũng là năm mà nhiều cuộc nổi loạn phát khởi ở tỉnh tôi
và nhiều nơi khác. Khi tôi bắt đầu có trí khôn thì thỉnh thoảng tôi nghe được
những lời bàn tán, xầm xì, những nét mặt đầy lo sợ quanh tôi, nhưng tôi không
thể hiểu được điều gì rõ ràng. Những thanh niên, những trai tráng bị bắt đi
lính cho Pháp rồi không mấy ai trở về. Sau này tôi được biết họ được gọi đi
lính thợ, được gởi sang Pháp dự thế giới chiến tranh thứ nhất. Có lẽ để đập tan
tinh thần phản kháng và cách mạng trong tỉnh Hà Tĩnh, nhà nước Bảo-Hộ đã bắt rất
nhiều thanh niên trong tỉnh tôi.

Tôi sinh ra trong một gia đình công giáo lâu đời. Cho nên khi
những người xung quanh nhận thấy tôi học hành dễ dàng thì ý nghĩ đầu tiên của họ
là gửi tôi vào chủng viện. Vào năm lên mười ba tuổi, năm 1921, tôi vào học tại
Tiểu chủng viện Xã-Đoài. Thời đó, Xã-Đoài chỉ có một vài lớp đầu bậc trung học
và vì đó ít lâu sau tôi được gửi vào học tại trường các thầy dòng La San ở Huế
là trường Pellerin. Sau khi thi đậu bằng Thành chung, tôi lại được gửi ra Hà Nội
theo học Đại Chủng viện Xuân Bích vào năm 1933. Tôi đã đậu hai phần Tú tài. Sáu
năm sau tôi được thụ phong linh mục vào năm 1939.

Sau những cuộc nổi dậy khắp nơi của người Việt Nam chính phủ
Pháp muốn tỏ ra cởi mở hơn, cho thi hành một chính sách văn hóa tương đối tiến
bộ. Ngoài việc mở thêm những trường cho các tỉnh huyện, nhà nước Bảo-Hộ còn cấp
nhiều học bổng cho sinh viên ưu tú. Một số các học bổng này được dành cho một
ít tu sĩ công giáo. Tôi may mắn được cấp một học bổng du học tại Đại học đường
Sorbonne. Vào mùa thu năm 1939, tôi lên đường sang Ba-Lê.

Mặc dầu thế chiến thứ hai đã bùng nổ, nước Pháp bị Đức chiếm
đóng, nhưng nhờ là tu sĩ, nên tôi không gặp một trở ngại lớn lao nào trong đời
sống hay trong công việc học hành. Từ 1939 đến 1942 tôi theo học Triết và Văn
chương, đậu cử nhân năm 1942. Sau đó tôi học ở trường Á Đông Sinh ngữ và tốt
nghiệp ở trường này năm 1945.

Trong những năm chiến tranh, mặc dầu tôi không có dịp tham dự
trực tiếp vào những biến cố lịch sử trọng đại, nhưng tôi cũng có dịp gặp gỡ những
người Việt Nam trong giới sinh viên học sinh, giới lính thợ, lính khố đỏ và một
số người Việt Nam sang Pháp từ đệ nhất thế chiến rồi ở lại Pháp luôn và nhập quốc
tịch Pháp.

Trước lễ Giáng Sinh năm 1940, tôi đến thăm một linh mục thừa
sai ở đường Du-Bac, số 128. Vị linh mục này đã sống ở Viễn Đông lâu năm và
trong lần đến thăm này, tôi đã được gặp một thiếu phụ Pháp giàu lòng từ thiện
đang tổ chức những cuộc thăm viếng, giúp đỡ những người Việt Nam đi lính trong
quân đội Pháp bị quân Đức bắt làm tù binh. Thấy tôi là người Việt Nam, bà De
Seize ngỏ ý yêu cầu tôi theo bà đến thăm những người lính Việt Nam bị giam giữ
trong các trại tù binh ở Laval. Tôi nhận lời và những ngày nghỉ lễ sau đó, tôi
cùng bà De Seize thường đến trại tù binh Laval thăm viếng những người lính Việt
Nam. Công việc của tôi chẳng có gì quan trọng. Tôi làm cái nhiệm vụ thông ngôn
giữa những người Việt Nam và những nhà hảo tâm Pháp, đôi lúc viết giùm và gửi
thư về quê hương cho những người không biết đọc biết viết. Tôi cũng đến thăm những
tù binh Việt Nam được điều trị tại các bệnh viện khắp Ba-Lê.

Lúc bấy giờ một số sinh viên Việt Nam cũng tổ chức những nhóm
sinh viên thăm viếng và an ủi những thương bệnh binh Việt Nam tại các bệnh viện.
Một lần tôi gặp Trần Hữu Phương trong một bệnh viện. Từ sự quen biết đến chỗ
thân thiết thật dễ dàng, nhanh chóng giữa những người Việt Nam xa tổ quốc, cùng
chung lí tưởng. Cũng từ đó, tôi có ý nghĩ phối hợp các hoạt động của các sinh
viên Việt Nam tại Ba-Lê và đem chuyện đó ra bàn với Trần Hữu Phương.

Chúng tôi tập hợp các tổ chức sinh viên Việt Nam tại Pháp và
các Việt kiều thành một hội duy nhất, lấy tên là Hội Liên hiệp những người Đông
Dương tại Pháp (Fédération Des Indochinois de France), với vị Chủ tịch đầu tiên
là Trần Hữu Phương, cùng các hội sáng lập như Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông,
hai anh em Hoàng Xuân Mãn, Hoàng Xuân Nhị (em Hoàng Xuân Hãn).

Số sinh viên tham dự trên ba trăm người. Những Việt kiều ở
Pháp và Ba-Lê trên nguyên tắc đều là hội viên, tuy nhiên chỉ có một số ở Ba-Lê
tham gia những sinh hoạt thường xuyên của hội. Nhân danh Hội Liên hiệp những
người Đông Dương tại Pháp, chúng tôi ra một bản tuyên ngôn đòi chính phủ Bảo-Hộ
Pháp phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Sở dĩ chúng tôi quyết định ra tuyên
ngôn nói trên, vì vào đầu năm 1945, sau khi quân đồng minh thắng quân Đức,
Ba-Lê được giải phóng, có hai sinh viên Việt Nam kí tên vào một bản tuyên ngôn
cam kết trung thành với mẫu quốc Pháp. Tôi còn nhớ tên những người Việt Nam kí
vào bản tuyên ngôn nhục nhã này, nhưng thiết tưởng không nên nhắc đến làm gì.
Tuyên ngôn đòi độc lập của chúng tôi được dịch ra nhiều thứ tiếng và được phổ
biến khắp nước Pháp. Một vài báo ở Pháp và Âu châu có đề cập đến tuyên ngôn của
chúng tôi.

Chính phủ Pháp lập tức bắt giam một số lãnh tụ sinh viên đồng
thời cũng là lãnh tụ Hội Liên hiệp những người Đông Dương tại Pháp như các anh
Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Mãn, Hoàng Xuân Nhị, Phạm Huy Thông. Nếu không phải
là tu sĩ, được sự che chở của tòa Tổng Giám mục Ba-Lê chắc chắn tôi đã không
thoát khỏi tù tội.

Những sinh viên bắt giam tại khám đường La Santé, nơi đã từng
giam giữ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh ngày
trước. Với tư cách và bộ áo một tu sĩ, tôi có lí do chính đáng để tham viếng những
người bị bắt giam. Do đó anh em trong hội cử tôi giữ nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế
và giúp đỡ các anh em. Tôi tìm đến bà De Seize nhờ bà tiếp tay, vì tôi biết lúc
này thế lực của bà khá lớn. Trước đây bà từng giúp đỡ những tổ chức kháng chiến
chống Đức, dĩ nhiên bây giờ nước Pháp đánh đuổi được quân Đức, những nhân vật
kháng chiến đang giữ nhiệm vụ quan trọng trong chính quyền Pháp đương thời. Bà
De Seize quen biết với vị đại tá giám đốc khám đường La Santé, bà đã dẫn tôi đến
giới thiệu thẳng với ông này, với những lời lẽ thành thực và nồng nhiệt. Nếu
tôi nhớ không lầm thì hình như ông này tên là Paul Arnoux, từng làm chánh sở mật
thám tại Đông Dương dưới thời quan toàn quyền Decoux. Ông có một trí nhớ phi
thường. Những phạm nhân quan trọng một lần qua mắt ông đủ để ông nhớ mãi. Sau
này để xác nhận Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc chỉ là một, chính quyền Pháp đã
nhờ đến ông đi nhìn mặt Hồ Chí Minh. Cái chi tiết làm cho ông Arnoux cam đoan
Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Văn Ba,
lão Woong, bác Trần chỉ là một người, là cái tai của họ Hồ.

Điều làm tôi ngạc nhiên lúc đầu là Đại tá Arnoux tỏ ra rất cởi
mở, niềm nở, ca ngợi những nhà cách mạng Việt Nam, tỏ ra rất kính phục Trần Đức
Thảo. Ông cho hành động ái quốc của sinh viên Việt Nam là đúng và tỏ ý tiếc rằng
vì nhiệm vụ phải giam giữ họ. Bàn về chính trị, ông tỏ ý mong muốn chính phủ
Pháp cho thi hành một chính sách thuộc địa tiến bộ và tự do hơn. Ông phê bình một
điểm về tình hình chính trị Việt Nam thời bấy giờ, mà cho đến nay, trong tình
thế này, tôi thấy vẫn còn khá đúng. Ông nói rằng Việt Nam có nhiều nhân vật ái
quốc lỗi lạc như Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Trần Đức Thảo, thật xứng đáng
được hưởng một nền độc lập thật sự vững chắc, không chỉ có vài nhân vật lỗi lạc,
mà là phải có một lớp trí thức đông đảo và một lớp dân chúng trung bình tiến bộ.
Ông lo ngại Việt Nam không có lớp người cần thiết đó. Tôi nghĩ một lúc rồi trả
lời rằng dưới con mắt của người Pháp thì nhận xét của ông đúng lắm, nhưng quan
niệm của người Việt Nam và Á Đông thì khác hơn đôi chút. Cái thước đo sự trưởng
thành ý thức của người Pháp và người Việt Nam không giống nhau. Dân Việt Nam
không phải vì không biết đọc biết viết và không biết đi bầu mà có thể coi họ
như những người dân bán khai mọi rợ. Vả lại cần phải tạo những điều kiện trưởng
thành dân trí từ từ. Và không một thế lực nào có thế lấy cái cớ dân Việt Nam
chưa hội đủ những tiêu chuẩn trưởng thành dân trí để thay họ cai trị đất nước họ.
Nếu như nước Pháp có lòng khai hóa cho dân Việt Nam, thì cứ trao trả độc lập,
giúp phương tiện và điều kiện cho dân Việt Nam trưởng thành dần dần để giữ vững
nền độc lập đó còn hơn là cứ giữ tiếp tục chính sách bảo hộ mãi.

Sau câu chuyện, Đại tá Arnoux cho người dẫn tôi xuống phòng
giam Trần Đức Thảo. Qua nhiều hành lang, nhiều lần cửa sắt, tôi được dẫn đến một
phòng đợi. Sau hàng cửa sắt, tôi thấy Trần Đức Thảo đứng nhìn ra nháy mắt ra hiệu
cho tôi. Thảo nói với lính gác rằng tôi là linh mục tuyên úy của các Việt kiều
và nhân danh nhân quyền, đòi hỏi được nói chuyện trực tiếp với tôi về chuyện
linh hồn. Thảo phản đối việc phải nói chuyện với một linh mục tuyên úy qua lưới
sắt. Lính gác lên phòng giám đốc xin lệnh rồi trở xuống cho phép tôi và Trần Đức
Thảo nói chuyện thẳng với nhau trong phòng đợi. Tôi trao cho Thảo ít quần áo, đồ
ăn và những tin tức thời sự.

Vụ bắt bớ này làm cho Hội Liên hiệp những người Đông Dương tại
Pháp tan rã. Vì thế vào mùa đông năm 1945, khi nhận được một bản tuyên ngôn của
năm giám mục Việt Nam đòi hỏi nước Pháp phải trao trả độc lập cho Việt Nam,
chúng tôi dựng lên một tổ chức mới lấy danh hiệu là Hội những người Công giáo
Việt Nam tại Pháp (Association des catholiques Vietnamiens de France) để có
danh nghĩa và lí do phổ biến cái tuyên ngôn hay thông điệp này. Chúng tôi cho dịch
và in thông điệp, rồi nhờ những hội hướng đạo Pháp phổ biến đến nhiều thành phố
lớn khắp nước Pháp. Một số lãnh tụ của hội lại bị mật vụ Pháp bắt giam, trong
đó tôi nhớ rõ nhất là anh Nguyễn Hy Hiền. Nhưng lần này nhờ sự can thiệp của
tòa Tổng Giám mục Ba-Lê và giới công giáo Pháp đang có nhiều ảnh hưởng trong
chính quyền thời bấy giờ, các anh em được trả tự do nhanh chóng. Bản thông điệp
kí tên các giám mục Lê Hữu Từ, Nguyễn Bá Tòng, có những lời lẽ ôn hòa, nhưng rắn
rỏi, có lẽ đã làm cho Pháp lo ngại hơn những lời chỉ trích, chửi bới. Mặc dầu gặp
khó khăn, chúng tôi quyết định triệu tập một đại hội những Việt kiều tại Pháp để
phổ biến thông điệp. Ông Trương Công Cừu lúc đó lo phần tổ chức. Tôi thì đi
liên lạc với một số chính khách, nhân sĩ Pháp có khuynh hướng tiến bộ như dân
biểu Boutoien, bạn thân của Hồ Chí Minh, Linh mục Chaillet, Chủ nhiệm tạp chí
Le Témoignage Chretien.

Lúc đến tiếp xúc với cha Chaillet để mời ông thuyết trình
trong đại hội, cha Chaillet đã cho tôi xem một vài tài liệu chứng minh rằng
phong trào Việt Minh hiện đang bị chi phối bởi cộng sản và những lãnh tụ Việt
Minh phần đông là những đảng viên cộng sản cốt cán. Theo tài liệu này, Đảng Cộng
sản Quốc tế và Pháp chỉ thị cho các đảng viên tích cực yểm trợ cho phong trào
Việt Minh. Cha Chaillet cũng trưng ra những bằng chứng về những lãnh tụ Việt Minh
như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên
Giáp là những đảng viên cộng sản lâu năm và đang hành động theo kế hoạch chung
của cộng sản quốc tế. Cha Chaillet hỏi tôi khi đã biết việc này tôi còn quyết định
đòi độc lập nữa không.

Tôi không ngần ngại trả lời rằng chúng tôi tuy không biết tường
tận, nhưng cũng đoán được phong trào Việt Minh do cộng sản chi phối. Nhưng đa số
dân Việt Nam thì tin tưởng phong trào Việt Minh là một phong trào cách mạng ái
quốc và tách riêng việc đòi độc lập cho Việt Nam, dù do ai chủ xướng, cũng là một
hành động xứng đáng. Người công giáo Việt Nam có thể không chấp nhận chủ nghĩa
cộng sản, nhưng lại ở cái thế bắt buộc phải ủng hộ việc đòi hỏi độc lập cho đất
nước mình. Công giáo Việt Nam đã mang tiếng là rước Pháp vào, là theo Pháp phản
quốc, nay cách biện hộ tốt nhất là phải cùng với toàn dân Việt Nam đòi hỏi độc
lập. Hơn nữa người công giáo Việt Nam là những công dân Việt Nam, phải làm những
nghĩa vụ công dân cạnh những nghĩa vụ tín đồ công giáo.

Cha Chaillet gật gù, đồng ý thuyết trình trong đại hội. Tôi
không nhớ hết nội dung bài thuyết trình của cha Chaillet. Nhưng đại cương, cha
nói rằng theo đà tiến bộ và tiến hóa của nhân loại, đến lúc những quốc gia nhược
tiểu đảm trách sứ mạng cai trị đất nước họ và những quốc gia văn minh thì có
trách nhiệm phải tạo những điều kiện và phương tiện thuận lợi để những quốc gia
nhược tiểu cựu thuộc địa trở thành những quốc gia độc lập thân hữu trong một cộng
đồng thế giới hòa bình. Đại hội đã nồng nhiệt tán dương bài thuyết trình của
cha Chaillet.

Sau đại hội, Tổng Giám mục Ba-Lê cho mời tôi lên. Tôi được gặp
linh mục Tổng thư kí tòa Tổng Giám mục. Vị này cho tôi xem một tuyên ngôn kí
tên năm mươi tu sĩ Việt Nam cam kết trung thành với nước Pháp, cùng những tài
liệu chứng minh phong trào Việt Minh do cộng sản chi phối. Tôi hỏi lại vị linh
mục này rằng cha có nghĩ là năm mươi linh mục kí tên vào cái tuyên ngôn kì cục
kia có đủ tư cách đại diện cho hơn triệu giáo dân Việt Nam hay không, nhất là
trên phương diện chính trị. Vị linh mục làm một cử chỉ có thể coi như lối trả lời
không biết. Tôi còn nêu nghi vấn là có thể số tên các tu sĩ ghi dưới tuyên ngôn
kia không có sự đồng ý của các tu sĩ đó, một số những chữ kí có thể là giả mạo.
Hơn nữa hiện nay có trên 1500 linh mục Việt Nam, hàng ngũ giáo phẩm Việt Nam
chưa hề có một thứ đại hội nào đề cử năm mươi linh mục kia đứng ra lên tiếng
thay thế cho họ. Tôi cũng nêu tên những vị linh mục nhiều uy tín mà tôi biết,
không hề có tên trong bản tuyên ngôn đó. Vị linh mục Tổng thư kí tòa Tổng Giám
mục Ba-Lê tỏ ra thông cảm và cho biết rằng ông sẽ không phổ biến rộng bản tuyên
ngôn này và khuyên tôi dù sao cần thận trọng trong các hoạt động liên quan đến
chính trị.

Trong những trang vừa qua, tôi phải viết về cái tôi rất nhiều,
không phải vì tôi muốn được chú ý, được ca tụng, quan trọng hóa cá nhân mình.
Nhưng chỉ vì tôi muốn trình bày rằng nhờ những hoàn cảnh và cơ hội đặc biệt,
tôi đã có dịp tiếp xúc, kết thân, đôi lúc cộng tác với những nhân vật chính trị
sau này sẽ làm thay đổi tình thế Việt Nam, đóng góp vào việc làm nên lịch sử Việt
Nam.

Ba-Lê thời bấy giờ không những chỉ là thủ đô nước Pháp mà còn
là thủ đô đế quốc Pháp, là nơi tập trung và gặp gỡ những nhà cách mạng sau này
sẽ làm sụp đổ đế quốc thực dân Pháp. Thời bấy giờ phần lớn những nhân vật đó
đang hoạt động trong bóng tối, đang ở giai đoạn quy tụ lực lượng, chiêu hiền
đãi sĩ và do đó họ sẵn sàng kết thân với mọi người Việt Nam có chút học vấn và
tài năng. Gặp gỡ họ, tìm đến với họ và đôi lúc giúp đỡ họ không phải là chuyện
khó. Hơn nữa những người Việt Nam ở Ba-Lê lúc đó ít nhiều ở trong tình trạng khốn
quẫn, bị theo dõi, bị bắt bớ và do đó rất dễ có thiện cảm với nhau, rất dễ
thương yêu đùm bọc nhau.

Bấy nhiêu hoàn cảnh, điều kiện đặc biệt đó đã giúp tôi chứng
kiến hoặc tham dự vào nhiều biến cố trọng đại sau này, chuẩn bị cho tôi bước
vào cái chỗ đứng mà tôi phải chiếm giữ sau này bên cạnh những nhân vật lịch sử
Việt Nam.

Báo cáo nội dung xấu