Bản du ca cuối cùng - Phần II - Chương 19 (Hết)
Chương 19
Steiner tới nơi lúc mười
một giờ trưa. Anh gởi vali tại nhà ga và đi thẳng tới bệnh viện. Anh không có
thì giờ nhìn thành phố, anh chỉ thấy những đợt sóng người và xe cộ cùng những
dãy nhà.
Anh
dừng lại trước một tòa nhà đồ sộ trắng, do dự một lúc. Anh nhìn cái cổng rộng
lớn và những dãy cửa sổ ởcác tầng lầu cao. Một chỗ nào trên đó… nhưng có chắc
không? Anh mím môi bước vào.
Hắn hỏi
cô thư ký:
- Xin
cô vui lòng cho biết giờ thăm bệnh.
- Hạng
mấy?
- Không
rõ. Tối mới tới đây lần thứ nhứt.
- Ông
muốn thăm ai?
- Bà
Marie Steiner.
Anh
ngạc nhiên khi thấy cô thơ ký vẫn dửng dưng lật sổ. Anh đã tưởng tượng là trần
nhà sẽ đổ xuống hoặc nữa người y tá ngồi ở bàn giấy sẽ nhảy dựng lên chạy ra
ngoài hô hoán khi nói tới tên Steiner.
Cô y tá
vẫn tiếp tục lật sổ vừa dò tìm vừa nói:
- Nếu
nằm phòng hạng nhất thì được thăm suốt ngày.
- Chắc
không phải hạng nhất. Có thể là hạng ba.
- Giờ
thăm ở hạng ba là từ ba giờ đến năm giờ.
Cô y tá
tiếp tục tìm:
- Lúc
nãy ông nói tên gì?
-
Steiner, Marie Steiner.
Steiner
cảm thấy cổ họng như khô đắng. Anh nhìn chăm chăm vào khuôn mặt búp bê của
người nữ y tá. Anh chờcô ta nói tiếng “Đã chết”.
- Đây,
Marie Steiner, hạng nhì, phòng 505, lầu 5. Giờ thăm là từ ba tới sáu.
Steiner
mừng rỡ:
- 505.
Cám ơn, cám ơn cô nhiều lắm.
Tuy
nhiên anh vẫn còn đứng đó. Chuông điện thoại reo, cô y tá vừa nhấc máy vừa hỏi:
- Ông
còn cần gì không?
- Bà
Steiner còn sống hay đã chết?
Cô y tá
đặt máy xuống. Chuông tiếp tục reo. Cô ta trả lời:
- Dĩ
nhiên là còn sống. Nếu không thì phải có lời phụ chú bên cạnh tên.
- Cám
ơn cô.
Steiner
phải cố gắng lắm mới không hỏi là có thể lên thăm được ngay bây giờ không.
Anh đi
lang thang qua nhiều con đường vòng khu bệnh viện. Thình lình, anh sợ bị nhận
diện. Anh không sợ cho mình mà chỉ sợ bị bắt trước khi nhìn mặt vợ. Anh tìm một
quán nhỏ trên con đường vắng nào đó ngồi chờ tới giờ thăm. Anh gọi thức ăn
nhưng không nuốt nổi.
Gã hầu
bàn ngạc nhiên:
- Ông
ăn không vừa miệng?
-
Không. Ngon lắm. Cho tôi một ly Kirsh.
Steiner
cố nuốt trôi bữa ăn rồi hỏi mua một tờ báo và gói thuốc. Anh cố đọc báo để quên
thì giờ nhưng rồi cũng không đọc nổi. Anh tưởng tượng là Marie đang lịm chết
ngay trong lúc này, thấy mặt vợ ướt đẫm mồ hôi vì đau đớn trước khi chết. Anh
phải hết sức tự chủ mới không đứng lên chạy thẳng tới bệnh viện. Kim đồng hồ từ
từ xê dịch như cánh tay định mệnh muốn làm hắn nghẹt thở bằng sự chậm chạp,
nặng nề.
Anh ném
tờ báo qua một bên rồi đứng lên. Gã hầu bàn đang đứng xỉa răng, thấy khách rời
bàn gã tới gần hỏi:
- Thưa,
tính tiền?
-
Không, cho một ly bia nữa.
Gã hầu bàn
rót cho hắn một ly bia. Anh mời:
- Bồ
cũng uống một ly đi.
- Cám
ơn.
Gã hầu
bàn rót ngay cho mình một ly bia rồi nâng ly lên với hai ngón tay:
- Kính
ông.
Uống
xong, Steiner hỏi:
- Bồ
biết chơi bi-a không?
Gã hầu
bàn nhìn cái bàn bi da cũ kĩ nằm ở giữa phòng.
- Dạ,
chỉ biết sơ sơ.
- Mình
làm một bàn chơi.
- Dạ,
chắc ông đánh khá lắm.
- Bỏ
lâu rồi. Thử dợt lại xem sao.
Bàn
đầu, Steiner thắng điểm khá xa. Gã hầu bàn đề nghị:
- Ông
chơi cừ lắm. Chấp tôi mười điểm đi.
- Cũng
được.
Steiner
tự bảo nếu bàn này mình thắng thì Marie vẫn còn sống và có thể sẽ lành bịnh…
Anh cố
đánh kĩ từng cơ và lại thắng. Bàn thứ ba chấp luôn hai mươi điểm. Anh chăm chú
đánh. Còn mấy điểm sau cùng, mắt anh như rách ra, tay run lẩy bẩy, nhưng anh cố
gắng và cuối cùng lại thắng với số điểm suýt soát.
Anh
nhìn lại đồng hồ, đã ba giờ hơn. Anh vội vàng trả tiền đi thật mau về phía bệnh
viện.
Phải
mất một lúc khá lâu anh mới tìm được phòng của vợ. Anh hồi hộp gõ cửa. Không có
tiếng trả lời. Anh gõ cửa lần thứ hai. Dạ dày anh dường như bị một bàn tay vô
hình siết nghiến. Anh xô cửa vào.
Giữa
phòng trong ánh nắng chiều trông như một hòn đảo bình lặng ở một thế giới xa
xôi cũng buồn phiền, thống khổ và dấu vết thời gian dường như không có bóng
dáng ở đây. Một thân người nằm bất động trên giường đang nhìn anh. Tự nhiên,
chân anh như mềm ra, cái nón rơi xuống. Anh khom mình để lượm nhưng rồi không
đứng lên nổi, anh quỳ xuống luôn bên cạnh giường.
Đôi mắt
người đàn bà dán chặt vào mặt anh – đôi mắt vô hồn – nhưng rồi môi người bệnh
từ từ động đậy, ánh sáng trở về với màu mắt nâu bàn tay trên mép giường sờ
soạng…
Steiner
kề sát mặt vợ:
- Anh
đây Marie.
Người
đàn bà cố ngoi đầu lên. Steiner cản lại:
- Đừng,
cứ nằm yên. Anh đây mà. Anh vừa trở về.
Người
đàn bà thều thào:
-
Joseft…
Steiner
gục đầu xuống, nước mắt buồn bã trào ra. Anh cắn môi để khỏi bật khóc.
- Anh
đây, Marie. Anh trở về bên em.
Người
đàn bà thì thầm:
- Nếu
họ gặp anh…
- Họ
không tìm ra anh đâu. Cho dầu họ có tìm thấy anh cũng vẫn ở đây. Anh ở bên em.
- Sờ
mặt em đi, Joseft, để em nhận ra sự hiện diện của anh. Em nằm mơ thấy anh luôn…
Steiner
sờ lên trán vợ rồi nắm lấy bàn tay mỏng mảnh kề vào môi. Anh khom xuống hôn vào
đôi môi lạnh. Lúc anh đứng thẳng lên, mặt anh đầm đìa nước mắt. Nàng lắc đầu,
nước mắt rơi xuống như những giọt mưa.
- Em
biết là anh không thể trở về. Vậy mà em vẫn mong…
- Anh
sẽ ở đây với em.
Marie
đẩy nhẹ chồng ra:
- Anh
không ở đây được đâu. Anh phải đi. Anh không biết, lúc này khó khăn lắm. Đi đi,
Josef…
- Không
sao đâu.
- Nguy
hiểm lắm. Em biết rõ hơn anh. Em đã gặp anh được rồi, thôi đi đi. Em không còn
sống bao lâu nữa. Em sẽ tự lo liệu lấy.
-
Không. Anh tìm cách để ở lại đây. Thế nào cũng có một ngày đại xá. Trường hợp
của anh cũng dễ.
Marie
nhìn chồng, không tin tưởng. Steiner nói mau:
- Thật
mà. Vả lại cũng không ai biết anh về đây. À, em đã xin ly dị chưa?
-
Không. Em không làm được. Đừng giận em.
- Anh
chỉ lo cho em thôi, để em dễ sống hơn.
- Em
cũng chẳng gặp khó khăn gì. Những người chung quanh đều lo cho em. Nhờ họ mà em
nằm được phòng này.
Cửa bật
mở, một y tá bước vào. Steiner đứng lên. Cô y tá đặt một ly nước đầy chất lỏng
như màu sữa lên bàn. Vừa liếc nhìn Steiner cô vừa hỏi Marie:
- Bà có
người thăm hả?
Marie
cố lay động đầu:
- Từ
Breslau tới.
- Xa dữ
vậy sao?
Cặp mắt
xanh biếc của cô ta lại liếc sang Steiner. Cô ta rút nhiệt kế ra. Steiner hỏi:
- Còn
sốt phải không cô?
- Không
đâu. Đã hạ sốt nhiều rồi.
Cô ta
để nhiệt kế xuống và đi ra. Steiner tới ngồi ở một cái ghế sát giường. Anh cầm
lấy hai bàn tay của vợ.
- Anh
trở về, em có vui không?
Marie
cười:
- Sao
anh hỏi lạ vậy?
Hai
người nhìn nhau trong im lặng. Họ gần như chẳng còn gì phải nói bởi vì họ đã
được ở bên nhau và chỉ một việc đó cũng quá đủ rồi. Cuộc sống đã không có dĩ
vãng cũng không có tương lai. Tất cả đều là hiện tại.
Cô y tá
quay lại, vẽ một đường cong lên bảng ghi nhiệt độ. Steiner và vợ gần như không
chú ý. Họ đang mải mê nhìn nhau.
Ánh
nắng chẳng chịu bỏ đi. Một mảnh sáng rơi trên tóc và đọng trên gối nằm của
Marie như một con mèo óng ánh nép mình trên gối người bệnh.
Cửa lại
mở ra, một bác sĩ cùng người nữ y tá bước vào. Cô y tá nói với Steiner:
- Hết
giờ thăm bệnh rồi.
Steiner
đứng lên:
- Mai
anh trở lại, Marie.
Nàng
nằm đó như một đứa bé mệt mỏi sau một cuộc đùa vui, nửa lả người, nửa mơ màng.
- Dạ,
mai anh lại.
Steiner
đứng bên ngoài đợi bác sĩ ra. Anh hỏi xem vợ còn có thể sống được mấy hôm. Ông
ta nhìn anh như dò xét:
- Còn
ba hay bốn hôm nữa. Không hiểu tại sao bà ấy lại còn có thể chịu đựng lâu đến
thế.
Steiner
cám ơn và bước xuống lầu. Tới cổng, dừng lại, như một bất ngờ, thành phố hiện
ra trước mắt anh, rõ ràng và gọn ghẽ. Anh nhìn thấy những con đường, nhìn thấy
sự đe dọa câm lặng đang rình rập ở mỗi góc đường, sau mỗi cánh cửa, dưới mỗi bộ
mặt. Nơi mà anh có thể bị bắt trói như con dã thú là tòa nhà đá trắng sau lưng.
Ba hay bốn đêm là cả một thời gian vô tận. Anh nghĩ tới việc đến nhà một người
bạn nhưng rồi lại đi tìm một khách sạn bình dân.
Kern
dừng sững ngay cửa nhà giam. Anh nói qua hơi thở đứt đoạn:
- Ruth,
sao em ở đây? Em cũng bị bắt sao?
- Không
phải, Ludwig.
Kern
nhìn mau sang viên Giám thị đang ngồi dựa trong góc, không chú ý gì tới họ. Anh
tới gần Ruth, nói nhỏ bằng tiếng Đức:
- Ruth,
về đi! Em không biết gì cả. Bị bắt lần này là bốn tuần, tù giam, lần sau là sáu
tháng. Về ngay đi!
Ruth
hốt hoảng:
- Bốn
tuần? Vậy anh ở đây tới bốn tuần lễ sao?
- Đối
với anh chẳng có gì đáng kể. Với em thì khác. Về đi, họ hỏi giấy bây giờ.
- Em có
giấy mà.
- Sao?
Em nói gì?
- Em
xin được giấy lưu trú.
Nàng
lấy giấy đưa cho Kern xem. Kern trố mắt:
-
Jésus! Thật vậy sao? Hoàn toàn bất ngờ, không thể tưởng tượng! Ai lo cho em?
- Nhờ
ủy ban cứu trợ và Klassmann.
Kern
hỏi lớn:
- Thưa
ông Giám thị, tù nhân có được phép hôn vợ không?
Người
Giám thị uể oải đáp:
- Muốn
hôn bao nhiêu cũng được… miễn là vợ anh không chuyền dao, hay giũa qua thôi.
- Có
mấy tuần, không ai làm vậy đâu, ông Giám thị.
Anh
quay sang Ruth:
- Có
được tin gì của Steiner không?
-
Không. Marill bảo là anh ấy sẽ trở lại chớ không viết thơ.
-
Marill có tin chắc như vậy không?
- Tất
cả bọn mình đều tin như vậy, Ludwig.
Kern
gật đầu:
- Phải.
Mình không thể nghĩ khác hơn. Anh ấy mới đi có tám ngày…
Viên
Giám thị bảo:
- Hết
giờ rồi.
Kern ôm
chầm Ruth. Nàng thì thầm:
- Trở
về với em. Tìm mọi cách trở lại. Em có đem tiền theo đây, để dưới cầu vai. Làm
bộ hôn em rồi lấy ra.
-
Không. Anh còn đủ. Marill sẽ lo cho em. Không chừng nay mai, Steiner trở lại.
Viên
Giám thị giục:
- Tới
giờ rồi. Không ai đem máy ra chém đâu…
Ruth
hôn Kern:
- Ráng
giữ sức khỏe. Nhớ trở lại sớm với em.
***
- Mai
anh trở lại, Marie.
Steiner
cúi xuống hôn vợ và đứng thẳng lên.
Cô y tá
đang đứng ở cửa. Mắt cô ta lấm lét nhưng không nhìn Steiner. Cái ly trong tay
cô ta lay động.
Steiner
bước ra hành lang.
- Đứng
yên!
Một
giọng nói lạnh lùng ra lịnh. Hai bên cửa đã có hai nhân viên mặc sắc phục, súng
lục cầm tay. Steiner đứng lại. Anh không có vẻ gì sợ hãi.
- Tên
gì?
-
Johann Huber.
- Lại
chỗ cửa sổ.
Người
thứ ba tới nhìn mặt. Hắn nói gọn:
- Đúng
Steiner.
Và nhìn
vào mắt Steiner, hắn hỏi giọng khiêu khích:
- Còn
nhớ tao không, Steiner?
Steiner
thản nhiên:
- Không
quên được, Steinbrenner.
- Tốt
lắm. Mày trở về là tao nồng nhiệt tiếp đón ngay. Bọn tao mới xây một cái trại
hoàn toàn mới, đầy đủ tiện nghi cho mày ở.
- Tao
cũng muốn tin như vậy.
Steinbrenner
ra lịnh:
- Còng
nó lại – và hắn làm ra vẻ đau khổ – đừng buồn nghe cưng, thấy mày bị bắt tao
đứt ruột.
Có
tiếng cửa khép mạnh. Steiner nhìn nghiêng qua vai. Đó là cánh cửa phòng vợ hắn.
Steinbrenner cười khoái chí:
- Tình
yêu. Nó kêu gọi chim ác là về tổ để giúp ích quốc gia và bạn bè.
Steiner
nhìn sững Steinbrenner một lúc lâu rồi hỏi:
- Mày
vẫn vô lương tâm như vậy hoài sao?
Steinbrenner
cười hô hố:
- Có
lương tâm lắm chớ, cưng. Lương tâm của tao cùng cải tiến hơn khi bắt được càng
nhiều những thằng như mày. Tao ngủ ngon lắm. Nhưng có mày chắc đêm nào tao cũng
phải hầu chuyện một chút… Thôi, đi ngay.
Steiner
bị đưa ngay tới phòng thẩm vấn. Một viên chức trọng tuổi phụ trách công việc
này.
- Tại
sao anh trở về Đức?
- Tôi
muốn gặp lại vợ trước khi nàng chết.
- Anh
đã gặp những người bạn chánh trị nào ở đây?
- Tôi
không gặp ai cả.
- Nên
nói thật nhẹ tội hơn.
- Tôi
đã nói thật là không gặp ai cả.
- Ai ủy
nhiệm anh về?
- Không
ai ủy nhiệm.
- Ở
nước ngoài anh gia nhập tổ chức chánh trị nào?
- Tôi
không làm chánh trị.
- Anh
sống bằng cách gì?
- Bằng
sức lao động của tôi. Tôi có giấy thông hành Áo như ông thấy.
- Anh
có bổn phận tiếp xúc với tổ chức nào ở đây?
- Nếu
có ý định đó, tôi đã trốn tránh. Trở về thăm vợ, tôi đã đoán được số phận ra
sao.
Thẩm
vấn viên tiếp tục hỏi khá lâu. Ông ta xem kĩ vé thông hành của Steiner và bức
thơ của vợ anh. Ngước nhìn Steiner, người công chức lại cúi xuống đọc bức thơ
lần nữa.
- Chiều
nay, anh sẽ bị giải tới trại giam.
- Thưa
ông, tôi có thỉnh nguyện xin được trình bày: Chuyện chẳng có gì xảy ra nhưng
đối với tôi là tất cả. Vợ tôi hãy còn sống. Theo lời bác sĩ, vợ tôi sẽ còn sống
một hoặc hai hôm nữa. Nếu chiều mai không thấy tôi, vợ tôi biết ngay là tôi đã
bị bắt. Tôi không dám xin một ân huệ nào cho riêng tôi nhưng tôi muốn nàng chết
trong bình yên. Do đó, tôi xin ông cho tôi được ở lại đây một hay hai ngày nữa
để được giải tới bịnh viện vào giờ thăm.
- Không
được. Rồi anh trốn thì sao?
- Tôi
nhất định không chạy trốn. Phòng bịnh ở tận lầu năm lại không có lối thoát nào.
Chỉ cần có người gác ngoài cửa là đủ. Tôi không xin cho tôi mà cho người đàn bà
sắp chết.
- Anh
biết, tôi không có thẩm quyền.
- Nếu
ông muốn, ông cứ bảo là cần phải thẩm vấn thêm lần nữa. Ông có thể bảo là sự
gặp gỡ giữa chúng tôi có thể giúp thêm những tài liệu quan trọng. Ngoài người
gác cửa, ông sẽ cho một người y tá đáng tin cậy ở luôn trong phòng để nghe
chúng tôi nói chuyện.
Người
công chức suy nghĩ. Ông ta lại giở hồ sơ ra.
- Theo
báo cáo thì anh thuộc nhóm số bảy. Anh không khai tên ai cả. Chúng tôi đã có ở
đây các tên Muller, Bose và Welldorf.
Steiner
không trả lời.
- Anh có
đồng ý khai cho chúng tôi hai tên vào chiều mai và chiều mốt không?
- Tôi
sẽ khai vào chiều mốt.
- Chắc
không?
- Chắc.
Người
công chức nhìn Steiner thật lâu:
- Để
xem tôi có thể giúp anh được gì. Bây giờ anh trở lại phòng tối.
- Ông
có thể cho tôi xin lại lá thơ?
- Lá
thơ phải giữ lại trong hồ sơ chớ.
Ông ta
cầm lá thơ lên, ngập ngừng một lúc rồi nhún vai:
- Cũng
không sao. Trong thơ chẳng có gì đáng chú ý. Anh cầm lấy.
- Cám
ơn ông.
Ông
công chức nhận chuông gọi người vào dẫn Steiner ra.
- Rất
tiếc, nhưng biết làm sao? Tỏ ra nhân đạo là tự chọn con đường xuống địa ngục.
Nắm tay
ông ta nện mạnh lên bàn.
Marie
tỉnh dậy một lần nữa. Suốt buổi trưa, nàng ở trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh.
Bây giờ đã nhận rõ ra khuôn mặt chồng. Nàng run giọng vì sợ hãi:
- Anh
vẫn còn ở đây sao?
- Anh
có thể tới chừng nào cũng được, Marie.
- Sao?
Anh nói gì?
- Luật
đại xá đã được ban hành. Em không phải lo sợ nữa. Anh ở mãi đây với em.
Marie
nhìn Steiner với vẻ nghĩ ngợi:
- Anh
nói thế để làm em yên lòng, Joseft…
-
Không, Marie, lịnh đại xá đã ban hành hôm qua…
Anh
quay sang cô y tá đang sắp soạn những dụng cụ trên bàn:
- Có
phải đúng vậy không, cô?
Cô y tá
đáp nhỏ:
- Đúng!
- Cô
vui lòng lại gần đây để vợ tôi có thể nghe rõ hơn.
Người
nữ y tá nặng nề bước tới.
- Tôi
mới vừa nói xong.
Marie
thều thào:
- Cô
vui lòng lặp lại.
Không
có tiếng trả lời, Marie lại giục:
- Xin
cô vui lòng nói rõ hơn.
Người
nữ y tá bước tới sát giường, Steiner hỏi:
- Có
phải là kể từ hôm qua tôi được ở đây luôn không?
Cô y tá
lí nhí:
- Đúng
vậy.
- Và
tôi sẽ không bao giờ bị bắt nữa?
- Đúng.
- Cám
ơn cô.
Steiner
nhìn thấy mắt vợ như mờ mịt nhưng Marie không còn đủ sức để khóc nữa.
- Lạy
Chúa! Thế là toàn vẹn. Và bây giờ, giữa lúc anh cần đến em thì em lại ra đi…
- Em
không ra đi đâu, Marie…
- Em
muốn ngồi dậy để cùng đi với anh.
- Chúng
mình sẽ cùng đi.
Marie
cứ nhìn chằm chặp vào mặt chồng trong khi mặt nàng tái xám như màu đất. Mái tóc
còn sáng chói dưới ánh nắng chiều giờ đã xám xịt màu đêm như một nguồn sống nào
đó vừa tắt đi. Steiner nhận thấy tất cả những báo hiệu đó mà như chẳng thấy.
Anh chỉ biết vợ mình còn thở tức là nàng còn sống, mà nàng còn sống thì nàng
vẫn là Marie của anh.
Bóng
tối đã tràn ngập căn phòng và bên ngoài cửa thỉnh thoảng có tiếng ho khan khiêu
khích của Steinbrenner.
Hơi thở
của Marie ngắn lại, hổn hển từng chập. Chợt một lúc hơi thở như ngừng lại, chỉ
còn nhẹ như gió thoảng rồi tắt ngấm.
Steiner
vội vàng nắm lấy hai bàn tay vợ – hai bàn tay lạnh ngắt – anh cũng chết theo
nàng. Lúc đứng lên để đi ra, anh đã hoàn toàn trở thành một người khác lạ,
không cảm giác, một cái vẻ không hồn. Tia nhìn của anh thật dửng dưng. Ra tới
ngoài anh được Steinbrenner đón bằng một câu hăm dọa:
- Mày
đã bắt tụi tao đợi luôn ba tiếng đồng hồ. Chuyện này mình sẽ có dịp nói lại với
nhau.
Steiner
lạnh lùng:
- Tao
không ngạc nhiên đâu, Steinbrenner.
Steinbrenner
liếm môi:
- Chắc
mày biết mỗi lần nói chuyện với tao người ta phải gọi là “ông Thanh tra”. Nhưng
mày có thể tiếp tục mày tao với tao… Có điều là mày sẽ phải trả giá rất đắt
bằng máu và nước mắt luôn nhiều tuần.
Họ đi
xuống thang lầu. Đêm dịu dàng, tất cả cửa sổ đều mở rộng. Steiner ngẩng mặt
lên, nghĩ ngợi. Thình lình, anh đẩy mạnh Steinbrenner tới sát một cánh cửa sổ
gần đó, nhảy sổ tới và kéo luôn tên bạn bất lương này rơi vào khoảng trống từ
lầu cao…
Marill
buồn thảm bảo:
- Cậu
có quyền nhận món tiền này. Steiner đã gởi lại tôi, dặn trao cho cậu và Ruth
trong trường hợp anh ta không trở lại.
Kern
lắc đầu. Bẩn thỉu, hôi hám và buồn thảm, Kern ngồi với Marill trong phòng dưới
hầm. Anh vừa từ biên giới tới. Kern đã đi từ Dijon tới theo một đoàn xe vận
tải. Anh không thể nào tin được là Steiner đã chết. Kern nói như với chính
mình:
- Anh
ấy sẽ trở lại. Steiner sẽ trở lại.
Marill
xẵng giọng:
- Anh
ta không bao giờ trở lại. Bộ cậu không biết là tình hình đã đen tối lắm rồi sao
mà cứ ngồi đó nhắc mãi “sẽ trở lại”. Anh ta không còn trở lại. Đây, đọc đi.
Ông ta
lấy một bức điện tín nhàu nát đưa cho Kern xem. Bức điện gởi cho chủ quán
Verdun, với con dấu từ Bá Linh chỉ mang một dòng chữ ngắn “Chúc mừng sinh nhật
Otto”, Kern ngơ ngác nhìn Marill.
- Vậy
nghĩa là sao?
- Như
vậy có nghĩa là anh ta đã bị bắt. Chúng tôi đã giao ước là trong trường hợp này
một người bạn của anh ta sẽ thông báo cho tôi bằng điện tín với lời lẽ như
trên. Thôi, cất mấy tờ giấy bạc bẩn thỉu này vào đi.
Ông ta
đẩy tiền về phía Kern:
- Đó là
hai trăm bốn mươi quan và còn đây nữa.
Marill
vừa nói vừa lấy ra hai quyển sổ con ném tới chỗ Kern:
- Đây
là hai vé tàu đi từ Bordeaux tới Tây Ban Nha. Chiếc Tacoma. Tàu khởi hành ngày
18. Ngoài ra cả hai người cũng đã có chiếu khán nhờ sự can thiệp của Uûy ban
cứu trợ dân tị nạn.
Kern
sững sờ:
-
Nhưng…
Marill
lại phát cáu:
- Không
nhưng gì cả. Đừng gây khó khăn nữa Kern. Chúng tôi đã khổ sở lắm rồi. Đây là
chuyện ngàn năm một thuở. Mới cánh nay ba hôm, Ủy ban cứu trợ đã được chính phủ
Tây Ban Nha cho biết rằng sẵn sàng đón nhận một trăm năm mươi vạn dân với điều
kiện có đủ tiền di chuyển. Chính Klassmannm, phụ trách vấn đề này. Ngay khi
được tin chúng tôi đã dành chỗ ngay cho cô cậu…
Ông ta
ngừng lại, quay ra bảo cô hầu bàn Alsace:
-
Yvonne, cho một ly Kirsh.
Yvonne
toan đi thì Marill gọi giật lại:
- Cho
hai ly.
Yvonne
quay lại mìm cười:
- Ông
không nói tôi cũng mang tới hai ly.
- Tốt
lắm. Thêm một tâm hồn cao thượng.
Marill
nói với Kern:
- Lại
thêm một ngạc nhiên nữa cho cậu. Đem vé tàu và giấy chiếu khán tới trình sở
Cảnh sát, người ta sẽ cấp cho cậu giấy phép lưu trú cho tới ngày xuống tàu.
Ngay cả trường hợp nhập cảnh lậu cũng không. Ủy ban cứu trợ đã nêu vấn đề đó ra
và đã được chấp thuận. Mai cậu có thể tới đó.
Yvonne
mang tới hai ly, một ly cỡ bình thường và một ly dùng để uống nước đã rót đầy
bia. Cô ta chỉ vào ly lớn nói với Marill:
- Ly
này của ông. Cũng tính một giá thôi.
- Cám
ơn lắm. Cô bé điệu này!
Ông ta
uống cạn một hơi nửa ly:
- Ủa!
Sao không uống đi, Kern?
Và lần
đầu tiên, Marill nhìn thẳng vào mặt Kern:
- Sao
chưa khóc?
- Không
khóc được nhưng dầu có khóc cũng chẳng làm gì được. Khốn nạn! Vậy mà tôi cứ
nghĩ là Steiner phải trở lại để rồi bây giờ với hai vé tàu và số tiền này trong
tay… tôi bỏ đi, bỏ đi để sống an toàn nhờ vào việc anh ấy không trở lại. Ông có
nhận thấy sự bỉ ổi đó không?
-
Không. Tôi chẳng nhận thấy gì cả. Hay đó chỉ là những tình cảm nhảm nhí thôi.
Không có gì cần phải hiểu. Vẫn là chuyện muôn đời. Thôi, uống đi. Hãy uống như
chính Steiner đã uống. Mẹ kiếp, bộ cậu tưởng tôi không có trái tim sao?
Kern
uống cạn ly:
- Đã
thấy đỡ đôi chút. Cho tôi điếu thuốc, Marill.
Kern
hút một hơi dài. Khói thuốc quyện dưới mắt hiện thành khuôn mặt Steiner. Một
khuôn mặt khinh đời, hơi nghiêng về phía trước chập chờn qua ánh nến trong nhà
giam thành Vienne. Anh còn nghe câu nói của Steiner đêm ấy “Sao? Cậu bé?"
- Ruth
đã biết chưa?
- Rồi.
- Ruth
đi đâu?
- Không
biết. Có lẽ ra văn phòng cứu trợ. Cô ấy không biết cậu về.
- Chính
tôi cũng không biết lúc nào mới tới. Ở Tây Ban Nha có làm việc được không?
- Phải
có chớ. Nhưng hiện giờ mình không biết việc gì. Người ta bảo đảm là sẽ cấp thẻ
cư trú và giấy phép hành nghề.
- Tôi
không biết một tiếng Tây Ban Nha nào cả.
- Cứ
học là phải biết.
Kern
gật đầu. Marill nghiêng mình tới, giọng ông ta nghe khác hẳn:
- Kern,
tôi biết là không phải dễ đâu. Nhưng tôi khuyên cậu nên đi. Đừng suy nghĩ thêm
nữa, cứ đi. Hãy rời xa Âu châu. Thế nào rồi cũng có chuyện xảy ra ở đây… Một
dịp may như thế này không bao giờ có được lần thứ hai. Cậu và Ruth hãy đi đi. Ở
đây…
Ông ta
uống cạn phần bia còn lại. Kern hỏi:
- Ông
sẽ đi với chúng tôi?
-
Không.
- Bộ
tiền không đủ cho ba người sao. Tôi và Ruth vẫn còn một ít.
- Đó
không phải là vấn đề. Tôi phải ở lại đây. Chuyện gì xảy ra cũng được. Đây là
những chuyện không bao giờ giải thích được.
- Tôi
hiểu.
Marill
bỗng đứng lên:
- Ruth
tới rồi đấy. Dầu tôi phải ở lại và các người ra đi, các người có hiểu thế nào
không?
- Hiểu,
Marill.
- Cám
ơn Thượng đế!
Ruth
đứng bất động trên ngưỡng cửa, rồi nàng chạy nhào tới:
- Kern,
anh về tới hồi nào?
- Cách
đây nửa giờ.
- Anh
đã biết…?
- Biết
rồi. Marill vừa mới nói.
Kern
nhìn quanh, Marill đã biến mất. Ruth ngập ngừng:
- Anh
cũng biết…!
- Biết
cả. Thôi đừng nói chuyện đó nữa. Chúng mình ra phố một chút. Anh muốn rời khỏi
căn phòng tối ám này.
- Phải,
mình nên đi ra ngoài.
Ruth và
Kern đi về phía Champs-Eùlysees. Trăng lưỡi liềm treo lơ lửng trên nền trời
xanh lục. Không khí như bạc trắng ra, trong suốt và hiền dịu.
[Chúc
bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu
sách.]
Họ im
lặng đi bên nhau. Mãi một lúc lâu sau, Kern chợt hỏi:
- Em có
biết Tây Ban Nha ở đâu không?
Ruth
lắc đầu:
- Chỉ
biết trên bản đồ. Ngay bây giờ em cũng không biết nước Đức ở đâu.
Kern
nhìn người yêu và nắm lấy tay nàng:
- Mình
phải đi mua một quyển văn phạm để học tiếng Tây Ban Nha.
- Em
mới mua hôm qua.
Kern
cười:
- Tốt
quá. Đây là cơ hội để mình nhìn thấy chân trời, có phải thế không?
Ruth
nhè nhẹ gật đầu.
Họ tiếp
tục đi, băng ngang qua một công viên. Những mầm non đã bắt đầu nhô lên trên các
cành cây. Ánh đèn mờ ảo chập chờn như từ dưới đất phụt lên, leo dài trên các
thân cây dẻ như những ngọn ma trơi. Đất trong các khu vườn đã được xới lên. Mùi
đất mới xông pha trộn lẫn mùi với mùi xăng, dầu bềnh bồng trên đại lộ.
Các
luống hoa xuân trong một vài khoảnh vườn quanh quất đó đây đã khoe màu. Trong
cảnh sắc hoàng hôn, hoa tươi vẫn chưa chịu khuất mình. Đó là giờ công tư sở đều
đóng cửa và lưu thông nghẽn chẹt.
Kern dừng
lại nhìn Ruth:
- Người
đâu mà đông quá!
Ruth
nhỏ nhẹ nói theo:
- Vâng,
người đâu mà đông quá!
Hết
Thực
hiện bởi
nhóm
Biên tập viên Gác Sách:
Sienna
– Du Ca – trangchic
(Tìm
- Chỉnh sửa - Đăng)

