Từ Hy Thái Hậu - Chương 3 phần 01

3. HOÀNG THÁI HẬU

Gió lạnh ở phương Bắc thổi
xuống, thủ phủ Bắc Kinh chìm đắm trong tiết mùa đông, tháng
giá. Và mùa hè, cây cối trong tỉnh tốt tươi cành lá xum xuê. Sang đông gió
lạnh, sương tuyết, cây cối như bị tróc hết lá, còn trơ những cành khẳng khiu
như những bộ xương leo kheo đứng giữa trời. Các ao hồ, ngòi lạch như có một
đường viền trắng nước đông đóng giá. Những người đi đường, rét run, co ro, gió
lạnh buốt như cào da xé thịt. Mấy người bán khoai lang lùi là đắt hàng nhất.
Người nghèo mất ít tiền được ăn no lòng, mà lưỡng lợi được sưởi hai bàn tay rét
cóng. Mở mồm nói như có một làn khói ở trong mồm phun ra, các bà mẹ cấm con
không được khóc vì nhiệt độ trong người bốc ra hết. Mùa đông năm đó, trời rét
lạ lùng, gió lạnh buốt đến xương tủy như cào da xé thịt, rét từ trong bụng rét
ra.

Giờ đây, linh hoàng của cố Hoàng thượng đặt ở một
ngôi chùa trong hoàng thành, chờ đến ngày làm lễ quy lăng. Việc kế vị đã được
ổn định, cả quốc dân như hồi hộp lo sợ trước viễn ảnh những năm kế tiếp đen tối
cho vận mạng quốc gia.

Bản thõa ước Cung thân vương kí với quân ngoại xâm
đã thừa nhận quân địch hoàn toàn đắc thắng.

Một hôm, trong mùa đông năm đó, Hoàng Thái hậu ngồi
một mình trong cung, nghiên cứu tỉ mỉ những điều khoản trong bản thỏa
ước.

Bà ngồi một mình, tên thái giám Lý Liên Anh đứng hầu
gần đó, túc trực để chờ lệnh sai khiến. Nhiệm vụ của tên thái giám phải để mắt
nhìn mọi cử chỉ, để tai nghe mọi lời nói của Hoàng Thái hậu để thi hành mệnh
lệnh. Bà Thái hậu dùng tên thái giám để sai vặt, còn ngoài ra bà coi như phần
tử ngu độn, không đáng để ý.

Sáng hôm đó, bầu trời ảm đạm, tuyết sương lạnh lẽo,
bà ngồi một mình đọc đi đọc lại những điều khoản trong thỏa ước. Với trí giàu
tưởng tượng của bà, những điều khoản càng thêm linh động.

Theo bản thỏa ước, từ nay trở đi và tiếp tục mãi mãi
về sau này, người Anh, người Pháp và những người ở các nước ngoại quốc đến đây,
ở trên đất nước này với tư cách đại biểu cho chính phủ họ. Bọn người này đến,
lẽ tất nhiên họ đem theo vợ con, gia nhân, đầy tớ, gia đình họ, binh lính họ.
Bọn người bạch chủng man di đó có dịp kết thân với những thiếu nữ người Hán trẻ
đẹp, một nguyên nhân của sự hỗn loạn.

Bản thỏa ước còn cưỡng bách bà Hoàng Thái hậu kiêm
nhiệm nhiếp chính vương phải trả cho bọn người ngoại quốc hàng ngàn lạng vàng.
Ôi! Còn đâu là công lí, là lẽ phải. Tự dưng vô cớ lại đem quân đến đánh phá một
dân tộc rồi cưỡng bách dân tộc đó phải bồi thường chiến tranh?

Lại còn những điều khoản khác cũng rất phi lí. Trung
Quốc phải mở rộng hải cảng, giang cảng cho tàu bè ngoại quốc lui tới, kể cả
giang cảng Thiên Tân, chỉ cách xa kinh thành có một trăm năm mươi cây số. Không
những người họ mà còn tất cả hàng hóa của họ được thông thương khắp trong nội
địa Trung Hoa. Người dân thấy hàng hóa của người ta híp mắt lại. Lại một nguyên
nhân sinh ra hỗn loạn.

Theo bản thỏa ước, Trung Quốc phải mở rộng cửa đón
nhận những người đi truyền giáo. Bọn người này có quyền đi lại trên khắp lãnh
thổ, muốn ở đâu tùy ý, để mê hoặc, dụ dỗ dân chúng tôn thờ những vị thần lai
căng. Kinh nghiệm đã thấy, những tôn giáo du nhập chỉ đem lại cho quốc gia
nhiều tai họa.

Đó, đại cương những điều khoản của bản thỏa ước,
những điều khoản tai hại nặng nề cho xứ sở. Bà ngồi một mình trong một cung
vắng vẻ, một ngày ảm đạm, tiết mùa đông. Bọn a hoàn dọn bàn ăn, bưng cơm lên,
nhưng bà không đụng đũa. Trời đã xâm xẩm tối, bà không để ý về thời gian, không
ai dám nói một lời, mời bà xơi cơm hay đi nghỉ. Tên thái giám rón rén bưng lại
để gần bà, ấm nước trà xanh, thứ trà bà ưa dùng, nhưng bà cũng không đụng
tới.

Bà ngồi, thức suốt đêm, bản thỏa ước đặt trên mặt
bàn trước mặt. Về gần sáng, bà hất bản thỏa ước sang một bên, bà vẫn ngồi không
đứng dậy. Những cây nến đỏ gắn trên giá nến bằng vàng cháy hết, thái giám lại
thay tiếp. Bà ngồi lặng yên, hai tay ôm cằm trong một tư thế trầm tư mặc tưởng.
Ấu đế, con bà mới được năm tuổi, chỉ được chính thức bước lên ngôi rồng trị vì
vào ngày mừng sinh nhật năm thứ mười sáu. Trong thời gian khoảng cách mười năm,
bà phải đảm nhiệm chức vụ quốc trưởng, một trọng trách vô cùng nặng nề. Một
nước đất đai vô cùng rộng lớn, bà không sao tưởng tượng được, lịch sử dân tộc
có thời Bàn Cổ với một dân số khổng lồ không thể ước lượng nổi. Dân tộc đó coi
bà như một ngoại nhân. Trong thời bình, cai trị một dân số như thế cũng đã là
một gánh nặng khủng khiếp. Hiện nay, nước bị rách nát, giặc giã nổi lên như
ong, tên Hùng cầm đầu một bọn giặc chiếm giữ Nam Kinh, nơi xưa kia nhà Minh lập
kinh đô. Triều đình phái quân đội đi tiêu trừ, nhưng chưa triệt hạ được tên
soán nghịch. Hai bên cam cự, đánh nhau mãi, dân chúng lâm vào tình trạng phá
sản, không làm ăn gì được, chết đói. Bà Thái hậu cũng thừa hiểu quân đội hoàng
triều cũng không hơn gì quân nghịch, vì lương hậu thất thường, một tháng có,
mười tháng không, bắt buộc họ phải vào các làng mạc kiếm lấy cái ăn.

Người dân nhìn thấy cửa nhà bị thiêu rụi tan hoàng,
thóc lúa, trâu bò bị cướp phá, đồng ruộng bị bỏ phế, họ căm thù cả hai bên,
giặc cũng như quân đội hoàng triều.

Bổn phận bà phải cải thiện, cải tổ lại quân đội, mới
mong hùng mạnh, được dân chúng tin tưởng.

Lại một vấn đề nữa cũng nan giải, đè trĩu trên vai
bà. Đó là tính một người phụ nữ chấp chính cầm quyền. Người Hán không mấy thiện
cảm mấy đối với một phụ nữ lãnh đạo quốc gia. Người ta quan niệm, người đàn bà
dù sao cũng kém cỏi không bằng người đàn ông. Lịch sử Trung Quốc đã chứng minh
điều đó. Người dân liệu có tin tưởng một phụ nữ như bà lãnh đạo guồng máy quốc
gia sẽ đem lại công bằng, cơm no áo ấm cho dân không?

Bổn phận bà phải chứng minh bà có đủ khả năng để lái
con thuyền quốc gia trong cơn sóng gió.

Nhưng tất cả gánh nặng, trọng trách đó, trọng trách
lớn nhất chính là bản thân bà, làm sao tự khắc kỉ, tự chế phục được mình. Bà
cũng tự biết bà còn rất nhiều khuyết điểm, những cạm bẫy cám dỗ của trái tim
non nớt hăng say, cá tính phức tạp bà còn rất nhiều nhược điểm. Lòng bà vẫn ấp
ủ một dục vọng chưa được mãn nguyện, bà mơ ước một người đàn ông, người đó cả
tinh thần lẫn thể chất hoàn toàn phải hơn bà, nghĩa là bà có thể đặt tin tưởng
vào người đó. Người như thế là ai, hiện ở đâu? Nghĩ đến vấn đề đó, mộng tưởng
của bà chấm dứt, bà đứng dậy, thấy lạnh tự trong đáy lòng, từ trong tâm hồn
lạnh ra. Lý Liên Anh tiến lại gần.

- Tâu Thái hậu, mời Thái hậu đi nghỉ.

Người thái giám đưa cánh tay bà vịn vào đưa bà về tư
phòng. Người nữ tì ngồi chờ ở cửa.

Trời đã hửng sáng, bà nằm yên trên giường, kiểm điểm
lại những ý nghĩ chiều hôm trước. Bà có nhiều trọng trách đè trĩu hai vai,
nhưng bà nhận thấy có đủ sức, đủ lực để gánh vác. Bà đang ở trong tuổi thanh
xuân, khí huyết phương cương, tinh thần minh mẫn, điều kiện cần thiết để đảm
nhận những công việc khó khăn, nặng nề. Là một phụ nữ, nhưng bà đã sinh ra đức
Kim thượng. Bà tránh không theo những vết xe cũ của những người đàn bà có quyền
thế trong tay, muốn lúc nào cũng đứng trên tột đỉnh hơn cả mọi người cả người
con lên ngôi, trị vì. Đối với con bà lên ngôi Thiên tử, bà muốn được mai danh
ẩn tích không muốn giẫm chân lên quyền của con. Trong thời gian đảm nhiệm chức
vụ nhiếp chính, bà muốn giữ một thái độ ôn hòa, thận trọng đối với tất cả mọi
người, xếp đặt mọi công việc nội trị, ngoại giao, ổn định tình thế để cho con
lên chấp chính sau này. Bà sẽ giao lại cho con toàn vẹn lãnh thổ, tất cả quy về
một mối rồi bà rút lui, an hưởng thanh nhàn, bà không muốn tranh giành quyền
với con. Bà sẽ chứng minh cho quốc dân biết triều đại của bà sẽ thái bình thịnh
trị. Bà còn trẻ, có thiện tâm, thiện chí, bà sẽ đạt tới đỉnh. Bà đứng dậy, vững
lòng tin tưởng, tâm hồn phấn khởi.

Từ nay, đình thần có một vị tân vương, một người đàn
bà tuy cương nghị nhưng rất ôn hòa, không nhìn ai thẳng vào mặt, cả những tên
thái giám, nói năng ôn hòa, lịch sự, bất luận phẩm trật, cấp bực, dáng điệu rất
uy nghi, đường bệ. Không ai có thể biết được chuyện thầm kín, riêng tư, những
tư tưởng, ý nghĩ, mơ vọng của bà. Bà Hoàng Thái hậu sống cô đơn nơi thâm cung
sau những bức tường thành cao ngất, bất khả xâm phạm.

Để khởi diễn một kỉ nguyên trong đời bà, bà dời tư
cung dọn đến ở Ôn cung, trong hoàng thành, nơi đó gọi là Tây Lộ. Ôn cung có tất
cả sáu phòng lớn, nhiều hoa viên và một thư viện đồ sộ có tới ba mươi sáu ngàn
cuốn cổ thư. Trước Ôn cung có chín con rồng vàng bằng sứ, tô điểm đủ màu sắc
như một tấm bình phong. Tấm bình phong có tác dụng vừa để trang trí và trấn áp
tà thần. Sau tấm bình phong là một gian phòng rất rộng, gian phòng dùng làm nơi
thiết triều, trước mặt là một sân lát đá hoa. Trước mỗi gian phòng có một cái
sân lớn. Bà chọn một gian phòng tiếp kiến các vị thân vương và các quan trong
triều. Bà ở một gian phòng, từ đó bà có thể đi thẳng vào phòng ngủ. Giường xây
bằng gạch sát vào tường. Trên giường có trải một tấm đệm bọc vóc vàng, xung
quang giường có căn tấm màn the màu vàng thêu những bông hoa lựu màu đỏ mà bà
ưa thích. Sau gian phòng ngủ có thiết lập một ban thờ Phật, trên có một pho
tượng Phật bằng vàng, hai bên có hai vị Bồ Tát Quan âm và Thế Chí. Đằng sau ban
thờ có một khuôn cửa vào một gian phòng, bọn thái giám ẩn kín ở đó, sẵn sàng
hầu hạ, phục vụ bà.

Cung điện hoa mĩ, tráng lệ.Trong cung bày biện,
trang trí những đồ đạt rất quý, trên phủ những tấm thêu bằng vóc đỏ. Bà cũng
cho đem lại những đồng hồ của các nước Tây phương sưu tập, những chậu bông,
những lồng chim, những chiếc đệm thêu, đàn chó, những sách của bà, chiếc án
thư, chiếc tủ kính bày những đồ mĩ thuật trang trí. Các khuôn cửa sơn son thiếp
vàng, trên mỗi khuôn cửa có mái hiên mạ vàng. Trong tư phòng, những khuôn cửa
hình bán nguyệt xung quanh có gắn đá hoa chạm trổ rất tỉ mỉ công phu, trông ra
một hoa viên kín, những bức tường có cẩn đá hoa. Dưới những bức thông cổ thụ
hương bay ngào ngạt, phía xa một thảm cỏ xanh ngắt.

Phía trong cùng hoa viên có một gian phòng, cửa lúc
nào cũng đóng kín. Bà Thái hậu giữ chìa khóa gian phòng đó.

Giữa khung cảnh lặng lẽ, trang nghiêm đó bà Thái hậu
trẻ thường tha thẩn đi chơi một mình, nét mặt trầm ngâm, tư lự. Chỉ những người
nào mạnh khỏe, cường tráng mới có thể thấu hiểu những trận bão lòng của bà
trong một nếp sống bà đã tự vạch ra.

Ngày nào bà cũng dậy rất sớm, trời chưa tỏ sáng. Bà
ra gian phòng thiết triều. Với chính sách ôn hòa, lễ độ, bà không ngự triều một
mình, bà cho mời bà Đông cung đến cùng chủ tọa. Bà tuyên bố, ngai rồng tạm dể
không cho đến khi ấu đế thành niên. Bà khước từ không ngồi trên ngai, xung quanh
có các thể nữ, thái giám đứng thị hầu. Hai bà nghe những sớ, điệp của các thân
vương và các quan quỳ trước bệ rồng đọc lên. Cung thân vương đứng bên tay mặt
của chiếc ngai bỏ trống.

Một hôm mùa đông, lưỡng cung cho vào bệ kiến hai
thần dân đến khẩn cầu triều đình cho quân tiêu trừ tên phản loạn Hùng ở tỉnh
Nam Kinh, một tỉnh ở miền Nam. Đó là hai viên tuần phủ của hai tỉnh
miền Nam bị quân giặc đánh đuổi, hai vị quan này đến xin tạ tội vì để
hai tỉnh thất thủ.

Bà Hoàng Thái hậu nghe lời tâu, bừng bừng nổi cơn
lôi đình, có lẽ nào để cho một tên giặc tung hoành phá hoại cả một quốc gia
trong khi con bà còn ấu trĩ vị thành niên. Bất cứ giá nào cũng phải tổ chức lại
quân đội hoàng gia và phong nhiều người lên cấp tướng, cầm quân đánh giặc.
Trong những địa hạt khác nhau, bà không thể nào dung tha được, không thể để
chúng hoành hành, đe dọa, chiếm đoạt toàn quốc. Nếu để lâu, chúng thêm vây
cánh, việc tiêu trừ sẽ trở nên khó khăn.

Cũng ngày hôm đó, theo thường lệ, Cung thân vương
đến xin tư yết (audience privée). Thân vương thấy nét mặt bà thay đổi khác,
lạnh lùng, kiêu căng, cương quyết. Đó là một sắc thái đa diện của bà. Thường
nhật bà rất nhã nhặn, ôn hòa, gần xa ai cũng biết, nên dân chúng đã đặt cho bà
mỹ danh là một hiền mẫu, là Quan Âm năng cứu khổ cứu nạn. Nhưng bà cũng có một
sắc thái tương phản, rất độc ác, tàn bạo. Hôm đó, Cung thân vương thấy bà không
phải tứơng mạo của vị Phật Quan Âm, thái độ của một hiền mẫu, nhân từ, khoan
dung, đại độ. Bà uy nghi, hùng dũng, phẫn nộ vì sự yếu hèn nhu nhược của đình
thần. Bà hỏi:

- Viên tướng chỉ huy đạo quân hoàng triều hiện nay ở
đâu? Tên Trương Quế Phân đâu? Làm sao hắn dám tự tiện để cả một đạo quân bao
nhiêu người ngồi chơi không trong khi quân giặc chiếm hết tỉnh này đến tỉnh
khác ở miền Nam. Nếu như thế này mãi, một ngày kia giặc chiếm hết nước,
quân đội còn để dùng làm gì?

Cung thân vương tâu:

- Tâu Thái hậu, quân đội ta không thể ứng phó khắp
các mặt trận cùng một lúc.

- Dù sao cũng phải ứng phó. Bổn phận làm tuớng phải
thế, phải biết tiên liệu những gì có thể xảy đến, chỗ nào quân giặc tấn công,
nơi nào quân giặc định tấn công, phải đem quân tấn công trước để tiêu diệt
chúng.

- Tâu Thái hậu, hạ thần mạn phép đệ lên Thái hậu một
giải pháp. Chúng ta đang đình chiến với quân Hồng Mao, bọn này yêu cầu chấp
nhận một vị tướng của họ để tổ chức cuộc tiêu trừ quân thảo khấu. Trước kia
quân bạch chủng tán trợ tên giặc Hùng, vì hắn nói có đạo Thiên Chúa, bây giờ họ
đã biết tên Hùng là một thằng điên khùng. Như thế là một thắng lợi lớn cho
triều đình.

Bà Thái hậu ngồi trên ngai suy nghĩ. Những ngón tay
búp măng của bà đặt trên hai tay ngai, như những chuỗi kim cương, gõ lắc cắc
trên gỗ. Các đầu ngón tay bà có đeo tháp bằng vàng. Bà hỏi:

- Trương Quế Phân có biết đề nghị của quân Hồng Mao
không?

- Tâu Thái hậu, hắn có biết nhưng hắn không chịu
nghe theo. Hạ thần biết vị tướng đó có tính câu nệ, hắn nói chẳng thà cả nước
bị giặc tàn phá còn hơn đi đầu cạnh ngoại nhân đến cứu mình.

Hoàng Thái hậu nghe mấy lời đó, đột nhiên sinh lòng
thiện cảm với tướng Trương Quế Phân. Bà hỏi:

- Vì lẽ gì hắn không muốn?

- Tâu Thái hậu theo ý hắn, ngoại nhân đề nghị giúp
mình chẳng qua vụ lợi. Họ sẽ yêu sách một cái gì tương xứng với sự giúp đỡ của
họ.

Mấy ngón tay đeo đầy nhẫn của bà nắm chặt hai tay
ngai. Bà nói lớn:

- Hắn nhận xét rất đúng, rất đúng. Họ sẽ đòi chiếm
đoạt những vùng họ giải tỏa. Bây giờ ta mới biết tên Trương Quế Phân biết trông
xa. Việc này tối quan trọng, ta không muốn dềnh dàng, phải tranh thủ thời gian,
phải lập tức tấn công quân giặc, phải giải tỏa Nam Kinh. Nếu giết được tên
Hùng, hàng ngũ của chúng sẽ bị tán loạn ngay.

Cung thân vương lạnh lùng trả lời:

- Tâu Thái hậu, hạ thần xin mạn phép trình bày một
yếu điểm. Hạ thần ngờ những lời khuyến dụ và chiến lược của Thái hậu cho tên
tướng Trương Quế Phân có được vững vàng, theo đúng binh pháp không?

Bà Thái hậu nguýt dài, mắt nhìn sang một bên:

- Ta không hỏi ý kiến thân vương.

Giọng bà nói nhỏ nhẹ, mềm mại, song thân vương thấy
mặt bà tái đi, người run lên, cơn phẫn nộ lên đến cực điểm.

Mấy lời tường trình đó đã chạm mạnh vào lòng tự ái
của bà. Thân vương nghiêng đầu, cố nén lòng căm phẫn rút lui ngay lập tức. Khi
ông hoàng này đi khỏi, bà xuống ngai ra ngồi ở án thư, thảo tờ sắc lệnh cho tên
tướng Trương Quế Phân.

- Sắc lệnh:

(Sau mấy lời chào hỏi, xã giao…)

“Mặc dù, hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, tướng quân
đã đến lúc phải nỗ lực, tận dụng tất cả khả năng, uy lực sẵn có với sự tán trợ
của quý bào đệ Trương Quốc Chuân, triệu thỉnh y ở Quảng Tây về, đem đại quân
tiến về An Huy. Bước đầu tiên khởi để vây hãm Nam Kinh. Quân giặc chiếm cứ Nam
Kinh đã chín năm nay, quân đội ta phải lo thu hồi phần lãnh thổ đó, tiêu diệt
quân thảo khấu.

Để phụ giúp tướng quân trong công việc bình định,
phải cấp tốc triệu thỉnh viên tướng Lý Thường Giám chuyên về vấn đề đánh du
kích. Hắn là vị tướng gan dạ và tận trung với ngai vàng. Hẳn tướng công cũng
chưa quên viên tướng đó đã đánh bại quân giặc ở Tương, Hoài. Tướng công nên kết
nạp hắn dưới trướng, đem quân vây hãm Nam Kinh, mỗi ngày nên thắt chặt vòng
vây. Nếu quân giặc tấn công Quảng Tây, tướng quân phái Lý Thường Giám đem quân
tiễu trừ, tướng quân có hai nhiệm vụ, giết bằng được tên tướng giặc Hùng, đập
tan tất cả những cuộc nổi dậy nếu có. Tướng quân không phải tâu trình những sự
khó khăn, phải kiên trì để vượt mọi khó khăn nguy hiểm. Tướng quân phải nỗ lực
hy sinh, đoạt công đầu chiếm Nam Kinh, triệt hạ được tên giặc Hùng. Một phần
thưởng đích đáng sẽ giành cho tướng công.”

Đó là đại cương lời lẽ Hoàng Thái hậu viết trong sắc
lệnh. Bà đọc lại, đóng ngọc tỉ vào bản văn, giao cho tên thái giám đem đến cho
Cung thân vương để sao lại, cất giữ trong văn khố quốc gia. Bản chánh gửi theo
bưu trạm tống đạt cho tướng Trương Quế Phân.

Viên thái giám trở về nạp bà bản phái lai (chứng tỏ
Cung thân vương đã nhận được bản sắc lệnh, theo đúng chỉ thị thi hành). Nhìn
bản phái lai, bà mỉm cười đắc ý, hai mắt sáng ngời dưới hàng lông mi đen. Bà
hỏi:

- Hắn có nói gì không?

- Tâu Thái hậu, thân vương đọc hết bản sắc lệnh, ông
có nói: “Một người đàn bà có chí khí như một bậc đại đế.”

Bà mỉm cười, lấy ống tay áo che khuất. Bà hỏi:

- Thật thế à?... Hắn nói thế à?...

Tên tổng quản thái giám biết tính bà thích những lời
khen ngợi, ca tụng, hắn bịa thêm cho câu chuyện thêm đậm đà:

- Muôn tâu Thái hậu, chúng hạ thần vẫn thường nói
với nhau, cùng một ý nghĩ với thân vương.

Hắn nói xong cáo lui đi ra, bà Thái hậu chưa kịp có
một lời nào phê bình hay khiển trách.

Bà ngồi một mình vẻ mặt tự đắc, mồm chúm chím cười.
Bà nghĩ sau này, khi con bà đăng quang, tức vị, không biết nên lựa chọn, đặt
niên hiệu thế nào cho hay và thích hợp. Trước kia ba người mưu phản bàn nhau
đặt vương hiệu là Chí Hưng, bà không ưng, hai tiếng đó nghe không được, rỗng
tuếch, không có ý nghĩa gì hàm súc.

Theo ý bà, vương hiệu phải bao quát được ý nghĩa một
nền thanh bình vĩnh cửu, bảo trì toàn vẹn lãnh thổ, dân được an cư lạc nghiệp,
nhà vua có đức lớn, độ lượng khoan hòa, thương dân như con đỏ (như bảo xích tử)
thái bình, độ lượng, khoan hồng, bà muốn tìm những chữ nào lột được ý nghĩa đó,
rõ ràng, minh bạch. Bà đã học được cách tìm vần, tìm chữ ở các ông thầy dạy bà
về làm văn bài, thi phú. Bà suy nghĩ một lúc rồi quyết định dùng ngay tên con:
Đồng có nghĩa là khắp tất cả và Trị có nghĩa là thái bình, thịnh trị. Kể sự lựa
chọn đó cũng hơi táo bạo, đang lúc nhiễu nhương, giặc giã nổi lên như ong. Tuy
vậy bà đã nhất quyết ổn định tình thế, đối với bà muốn là phải được. Để đạt
được ý nguyện đó, bà nỗ lực làm việc.

Bà đã gây được tín nhiệm trong dân chúng. Mọi công
việc trong nước, việc lớn, việc nhỏ, một mình bà đảm nhiệm, quyết nghị. Hàng
ngày công văn xếp hàng đống trên án thư trong gian phòng thiết triều. Bà xem
xét, giải quyết những chuyện lặt vặt như thuyên chuyển một viên chánh án ở một
vùng nào, vì dân vùng đó ta thán viên quan đó nhũng lạm hay một tỉnh nào vô cớ
tăng giá gạo, hay thảo sắc lệnh cho tổ chức làm lễ cầu đảo ở vùng nào bị tiêu
khô, hạn hán. Tuy những việc rất tầm thường bà cũng tự tay giải quyết cũng như
những việc tối quan trọng, ở vùng duyên hải, hạm đội, chiến thuyền ngoại quốc
đe dọa, hay lập quy chế về việc buôn bán nha phiến, do ngoại dân cầm đầu bảo
trợ.

Mặc dù công việc trong nước bề bộn, nội trị, ngoại
giao, bà cũng không sao lãng công việc trong nội đình. Bà để tâm ý săn sóc con,
ngày nào cũng giữ con ở bên cạnh một khoảng thời gian rất lâu, mặc cho con tung
tăng chạy chơi từ phòng thiết triều đến thư viện riêng, trong khi bà cặm cụi
làm việc. Thỉnh thoảng bà ngừng lại ngắm con, sờ trán, hai bàn tay con, nhìn
hai con mắt con, lòng đen lòng trắng phân minh sáng ngời. Bà để ý cả hàm răng
con, xem lưỡi con, xem hơi thở con.

Vừa trông con lại vừa giải quyết mọi việc trong
nước, bà cũng không xao nhãng những chi tiết lặt vặt trong nội đình. Bà xem xét
những hóa đơn, bản kê khai những thực phẩm mua hay nhận được do công tiến, số
tồn trữ lụa, vóc, không một tấm nào được xuất kho nếu không có phiếu do tự tay
bà kí tên. Bà biết nếu để quân gian phi xuất phát từ trong nội điện, một ngày
kia sẽ lan tràn khắp trong nước. Bà rất uy nghi, đĩnh đạc, từ đầy tớ cho đến
quan nhất phẩm triều đình ai cũng cảm nhận làn nhỡn tuyến lạnh nhạt và rất sắc
sảo đanh thép của một nữ đế.

Tuy vậy, bà thưởng phạt rất công minh. Đối với những
tên thái giám hay tữ tì trung thành, chăm chỉ, bà thưởng cho rất nhiều tiền và
quần áo.

Còn những món quà thưởng tuy không bằng tiền bạc
nhưng rất có giá trị. Trong những bữa cơm hằng ngày, phần nhiều thường những
món sơn hào hải vị, khi bà dùng rồi, bà gọi bọn thể nữ lại ban phát những món
ăn còn lại. Bà tỏ tình ưu ái đối với thuộc hạ, mặc nhiên gây cảm tình sâu đậm
đối với gia nhân, đầy tớ. Họ hết lòng phục vụ, trung thành với bà, người nào
cũng muốn được bà để ý, trìu mến.

Bà cũng nghĩ đến hai món phần thưởng đích đáng giành
cho Nhung Lữ (tước Vinh Lộc) và Cung thân vương. Bà chưa biết ban ân điển cho
ai trước, việc này bà để sau sẽ quyết định.

Nhung Lữ có công cứu giá, phần thưởng phải thật đích
đáng. Cung thân vương có công bảo vệ được kinh thành, không phải bằng binh lực
nhưng nhờ tài khôn khéo thương lượng với quân thù, vẫn hay triều đình thiệt hại
rất nặng nề. Bản thỏa ước đã cưỡng chế áp đặt rất nặng, bà cũng không quên ngay
trong vòng tường thành ở kinh đô có bọn người da trắng đến sinh sống, đem theo
cả bầu đoàn thê tử, gia nhân, đầy tớ. Tuy vậy chưa thấy có triệu chứng quân
bạch chủng không thi hành lời đe dọa của họ phá hủy san bằng kinh thành. Bà cố
quên cung điện Viên Minh, những hoa viên tráng lệ, những hồ nước, giả sơn,
những ngôi chùa xinh xinh như treo trên sườn đồi, những kho tàng có biết bao
nhiêu của lạ vật quý tàng trữ qua nhiều thế hệ, gom góp trên bốn biển, năm châu,
những thư viện phong phú kinh sách kim cổ, những đồ mĩ nghệ, những đồ đạc cực
kì quý giá. Nghĩ đến cung viện Viên Minh bà liên tưởng căm giận Cung thân vương
sao không kịp thời ngăn chặn bàn tay phá hoại của quân dã man để chúng tung
hoành tàn phá. Sự tiêu hủy này không phải thiệt hại riêng cho bà, cho quốc gia,
đó còn là một thiệt hại chung cho cả nhân loại. Bà quyết định phải tưởng thưởng
xứng đáng công huân Nhung Lữ, ngoài việc cứu giá, hắn còn ngăn chặn được bàn
tay ngoại xâm phá hoại.

Mặc dù trong thâm tâm bà rất căm thù Cung thân
vương, song bà rất mực khôn ngoan không để phát lộ ra sắc diện. Bà sẽ cho triệu
thỉnh thân vương vờ để vấn kế. Bà chờ, hôm nào thuận tiện sẽ cho triệu thỉnh.
Hôm bà cho mời thân vương đến là một ngày sau trận mưa tuyết lớn.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.