Nhất Linh, cha tôi - Phần I - Chương 05

10 giờ đêm. Bác
Phiếm gọi riêng chúng tôi báo cho biết cha tôi khó qua khỏi đêm nay. Chúng tôi
bàng hoàng sửng sốt cả người. Mẹ tôi bảo chúng tôi báo tin ấy cho những người
thân. Trên chiếc xích lô máy rời bệnh viện, tôi hỏi anh Triệu: “Cậu uống thuốc
gì mà lại có thể chết nhanh vậy nhỉ?” Anh đáp: “Không biết. Chắc phải mạnh lắm;
rồi lại thêm rượu vào nên mới nhanh thế!”

Ở nhà bác tôi trở
về bệnh viện chúng tôi đi trên hai chiếc xe hơi. Dự định là sẽ họp nhau lại tối
nay để bàn kế hoạch đối phó và phân công. Nếu cha tôi mất đêm nay, ngày mai sẽ
mở ra đầy bất trắc. Người ta có thể xông vào nhà tôi cướp tờ di ngôn ấy được
không? Làm sao cho tờ ấy phổ biến trong và ngoài nước, thoát khỏi các bàn tay mật
vụ đầy rẫy? Ngay cả xác cha tôi cũng có thể bị lợi dụng hay ít ra cái chết cũng
có thể bị xuyên tạc. Lúc ấy là 11 giờ đêm, hai xe đi cách nhau năm mươi thước,
lướt trên những con đường đêm vắng ngắt. Một hồi đến ngã tư Duy Tân - Hồng Thập
Tự xe đi trước mất hút. Anh Lưu lầu nhầu: “Thằng Quý đi gì kì cục vậy?” Nhưng vòng
một lát đến gần bệnh viện thì bắt gặp lại xe trước. Tôi thốt nhiên chú ý ngay tới
một xe traction màu đen đi lủi theo bám sát xe của Quý. Xe này vừa quặt sang đường
Nguyễn Du xe traction bám theo liền. Anh Lưu chỉ tay cho chúng tôi thấy kêu
lên: “Xe mật vụ!” Rồi anh đập tay lên bánh lái giận dữ: “Tụi nó thính mũi như
ruồi!”

Nửa đêm tôi đứng
tựa lan can nhìn lên bầu trời lòng trĩu nặng. Các bác sĩ Grall vừa báo cho biết
cha tôi chỉ còn sống không bao lâu nữa. Tất cả những căn phòng khác của mấy khu
bệnh viện đều rơi vào bóng tối và im lặng; chỉ trừ phòng cha tôi đèn còn bật
sáng. Người nữ y tá rời phòng đi ra, lặng lẽ cúi đầu bước xuống cầu thang. Chừng
hơn mười người thân thuộc đứng nói chuyện nhỏ tiếng trước cửa phòng. Anh Bá ngồi
lẻ loi trên một chiếc ghế dài, buồn bã. Đèn phòng hắt ra đổ dài bóng anh trên nền
hành lang. Có tiếng vài người khóc. Tiếng mẹ tôi trong phòng lọt ra thảm thiết:
“Anh Tam ơi! Anh bỏ...” Tôi há miệng ngăn chặn một xúc động đang dâng lên đầy
ngực nhưng không kịp. Hình ảnh của cha tôi nhòe ra tươi cười, hình ảnh ấy của
năm năm về trước, lúc ông vừa xem xong một truyện ngắn của tôi tả về cái chết của
ông. Trong truyện đó tôi tả một buổi đi chơi núi, cha tôi với một nhánh Huyết
Nhung Lan ở bờ vực, rồi hụt chân rơi xuống khe núi. Người ta vực ông về nhà
nhưng đến bên dòng Đa-Mê thì ông tắt thở sau khi mỉm cười nhìn lần cuối vườn
lan đầy hoa của mình. Ông ưa nhất truyện ấy. Mỗi lần đọc ông lại mỉm cười thích
thú. Nhưng ông không đưa ai xem sợ người khác không hiểu cho tôi bất hiếu. Một lần
tôi hỏi ông: “Chết rồi sẽ ra sao nhỉ?” Ông cười trả lời: “Hồi bà Trưng thì chưa
có mình chứ gì. Thế mình ở đâu? Chết là trở về mình hồi ấy đó!”

Có tiếng xôn
xao. Mọi người đổ dồn vào phòng. Khi tôi chạy lại bên giường thì vừa kịp thấy
ngực cha tôi ngưng thở. Ngay lúc ấy một cái gì thoảng qua rất nhẹ trên nét mặt
ông. Nhưng khi nhìn kĩ thấy không có gì đổi khác tôi biết là mình đã giầu tưởng
tượng. Hai ba người hỏi lao xao: “Mấy giờ rồi? Mấy giờ rồi?” Không có ai trả lời.
Mẹ tôi òa lên khóc ngất. Tôi bỏ ra ngoài. Gió từ phía sau nhà thương thổi gây
gây lạnh. Một lần nữa tôi nghĩ thầm trong trí: “Xong rồi!” và chỉ còn thấy
trong người một nỗi buồn man dại, một cái thú tê tái đau thương, như cái thú
nuôi nấng một mối căm hờn.

Từ buổi sáng cha
tôi vẫn bận quần áo ngủ. Mẹ tôi đòi thay quần áo tây cho ông trước khi đưa vào
phòng xác. Cánh tay ông lỏng lẻo quá không thể nào bỏ được vào ống tay áo, trừ
khi nhét thật mạnh vào, nhưng tôi lại sợ ông đau. Tôi phải cố nghĩ: Ông không
còn biết đau là gì đâu, mới làm xong được việc ấy. Lát sau, trên chiếc xe hồng
thập tự bít bưng của bệnh viện, mẹ tôi và chúng tôi ngồi trên hai dẫy ghế dài,
yên lặng không nói một câu. Trên băng-ca đặt dưới sàn một mảnh vải trắng rộng
phủ trên thi thể cha tôi. Chiếc xe lướt êm trên những con đường nhỏ của khu nhà
thương. Đến trước cửa nhà xác chiếc xe ngừng lại. Người gác dan ngái ngủ dụi mắt
phụ với tài xế khiêng băng-ca xuống. Tôi bước vào nhà xác, dừng mắt trước một
cánh cửa sắt dầy kẻ hàng chữ đỏ: “Buồng lạnh. Triệt để cấm vào.” Người gác gian
tra khóa vào ổ, chiếc cửa nặng nề mở ra, có tiếng máy chạy ù ù. Bên trong một
làn ánh sáng nhợt nhạt. Khí lạnh toát ra gai người. Mấy dãy giường sắt khô
khan. Một cái xác đã nằm sẵn trong góc trái. Tôi hơi ghê sợ với ý nghĩ tối nay
cha tôi phải nằm đây một mình. Chúng tôi vén tấm vải lên nhìn vào gương mặt
ông, ghi nhớ hình ảnh ông một lần cuối: mắt ông đã nhắm lại, từ nay chúng tôi
không còn được thấy cái tật hay chớp mắt của ông, cái nhìn sâu thẳm buồn bã vô
tận ấy nữa. Râu của ông lơ thơ màu muối tiêu, riêng đôi lông mày vẫn còn rậm rạp.
Tóc ông lưa thưa như hói phía trên lộ cái trán rộng mênh mang.

Anh Triệu bỏ tấm
vải che xuống. Tôi nhớ tới hình ảnh vui vẻ của ông mới hồi trưa, tới niềm vui
bèo bọt của tôi hồi chiều lúc ông bảo tôi đi mua rượu, tới ánh mắt nhìn tôi rất
lạ và câu nói sau cùng mà tôi được nghe thấy ở ông: “Đi có 15 phút thôi à?” Rồi
quay sang phía mẹ tôi, tôi nói: “Thôi, cậu đã bỏ đi thật rồi!” Tôi chợt chú ý đến
giọng nói của mình, âm thanh như đứng một chút ở cửa miệng, ngỡ ngàng như giọng
nói của một người khác. Rồi bỗng tôi thấy câu nói của mình nghe tội nghiệp thảm
thuơng quá. Chữ “bỏ đi” nhắc nhở tôi một cái gì mất đi hoàn toàn, một hình ảnh
không còn nữa hay không bao giờ còn trở lại. Một mối xúc động lại dâng lên chặn
lấy ngực tôi nặng như một khối đá. Tôi há miệng quyết chặn đứng một lần thứ hai
không cho lên cổ nhưng không kịp nữa.

Tôi bước vội ra
ngoài. Lúc ấy là một giờ ba mươi. Khi tôi ngửng lên các vì sao lấp lánh của bầu
trời đã rung rinh nhòe nhoẹt cả rồi.

Sài Gòn, 1964.

Báo cáo nội dung xấu