2. Động - Phần 1

II. Ðộng

1. Fai Foo, Fai Foo

Dài dòng một tí: Đó là một chuyến đi trong quá khứ mà cho đến giờ khi nghĩ lại,
những kỷ niệm về chuyến đi ấy vẫn tươi mới trong mình, giống như một giỏ dâu
tây ngọt ngào và căng mọng. Thật ra một phần của chuyến đi vốn đã được ghi chép
lại cẩn thận nhưng vì bận nên gác lại. Một năm sau chuyến đi, nhận được một
series tin nhắn của những người bạn đã sát cánh cùng mình trong chuyến đi ấy, họ
nhắc lại nhiều kỷ niệm và nói rằng rất nhớ. Ừ, mình cũng rất nhớ và tự nhiên
không muốn chuyến đi ấy chỉ còn là vài ngàn ký tự rời rạc trong một file dang dở.
Và thế là tiếp tục lôi ra viết. Viết một mạch không ngắt quãng. Viết không cần
phải nghĩ ngợi nhiều. Viết một cách dễ dàng và tỉ mỉ cứ như mình mới trở về từ
Fai Foo ‐Hoài Phố ‐ Hội An thời điểm mùa xuân năm ngoái.

We’re nhómôđẹp!

Mùa xuân năm ngoái không rõ lý do gì mà đột nhiên mình bị rơi vào trạng
thái trống rỗng. Đầu óc đặc sệt. Không vui không buồn. Một vài người bạn của
mình bất hạnh (hay may mắn) cũng như vậy. Và thế là quyết định phải ra đi. Bốn
đứa khởi hành từ Hà Nội gồm Lan, Hạnh, Chi và mình. Một đứa tiến quân từ Saigon
là Phượng. Gặp nhau ở Fai Foo. Vậy là có một liên khúc ba miền Bắc ‐Trung ‐Nam hoàn hảo. Nếu muốn theo dõi chuyến
đi này của tụi mình, tất nhiên bạn phải bớt chút thời gian tìm hiểu tụi mình. Bạn
có thể nhớ tên tụi mình, hoặc chỉ cần gọi đơn giản là “nhóm ô đẹp” như một số
người‐Hội‐An sau này đã gọi.

Đi du lịch mùa mưa, tự thân việc ấy đã là một chuyện điên rồ trong mắt
người khác. Đi du lịch mùa mưa, mà lại còn chọn một nơi tĩnh lặng như Fai Foo,
rõ ràng là cấp độ điên rồ nhân lên gấp đôi, thậm chí là gấp ba. Nhưng đôi khi
trong cuộc đời tỉnh táo của mình, bạn nên thu xếp để mà điên rồ ít nhất vài lần
nếu muốn có những trải nghiệm mà những người nhạt nhẽo và vô vị không bao giờ
có được. Tỉ dụ như bung một dàn ô trong veo nhiều màu sắc rồi nhảy ra giữa hồ
nước của resort để pose hình. Gần chục ngày trời lang thang khắp nẻo Fai Foo để
tỉ mẩn chọn khăn lụa và lồng đèn mà không biết chán. Hoặc đơn giản là nhảy nhót
vào tất cả những vũng nước mưa đọng trên đường mặc kệ quần áo ướt lướt thướt
còn giày dép thì há miệng hết cả.

“Vĩnh Hưng nhớ các chị!”

Vài tháng sau khi trở lại Hà Nội, Lan nói với mình: “Em Trang (một người‐Hội‐An tụi mình gặp ở Fai Foo trong thời
gian lưu lại đây) nhắn rằng Vĩnh Hưng nhớ các chị”. Vĩnh Hưng, tất nhiên không
phải là Mr Đàm ca sĩ, cũng không phải một “phi công trẻ” nào đó gửi lời yêu
thương tới các “máy bay bà già”. Mà Vĩnh Hưng là một… resort, còn người nhắn gửi
là mấy em nhân viên phục vụ ở đây. Không biết vì sao trong số hàng trăm khách
trú ngụ tại Vĩnh Hưng thời điểm ấy, các em phục vụ lại đặc biệt lưu tâm đến bọn
mình nhỉ? Nhưng suy cho cùng không nên cố chấp phải trả lời câu hỏi đó, bởi người
ta có muôn vàn lý do để mà nhớ nhau, nhưng cũng có lúc chẳng cần lý do nào cả!

Những ngày ở Vĩnh Hưng có thể nói là những ngày thảnh thơi tuyệt đối với
tụi mình. Vùi sâu vào chăn ấm ngủ khò khò rồi sáng dậy cãi nhau chí chóe xem đứa
nào... ngáy to nhất (thật là mất mặt!). Mặc nguyên đồ ngủ lò dò ra lan can với
hàng con tiện gỗ đen bóng và chạm trổ tinh xảo để làm một việc ʺsến như con hếnʺ là ngắm mưa. Ưỡn ẹo dưới dãy đèn lồng
màu đỏ ở dọc hành lang hàng tiếng đồng hồ để pose hình. Dù đứa nào cũng cố tưởng
tượng mình là tiểu thư khuê các nhưng nghĩ lại thấy giống mấy bà vợ tuổi xế chiều
trong [Đèn lồng đỏ treo cao], tuy nhiên có phần còn bất hạnh hơn họ vì ròng rã
từng đấy ngày trời ở Fai Foo chả có lão gia nào thèm đến thắp đèn!

Phía bên kia Vĩnh Hưng, cách dăm phút đi bộ, qua một cây cầu bắc
ngang
sông Hoài, là khu trung tâm Fai Foo. Tại sao từ đầu đến giờ mình lại
dùng Fai
Foo, mà không phải là Hoài Phố, Phố Hoài hay Hội An? Có thể vì cái tên
Fai Foo
khi đọc lên vừa êm dịu, vừa xa xăm. Có thể Fai Foo nghe như một tiếng
thở dài từ
quá khứ vọng về. Cũng có thể vì bị ảnh hưởng của Phạm Duy khi một chiều
mùa
đông của nhiều năm trước vô tình bắt gặp những dòng này trong cuốn hồi
ký ông ở
www.vnthuquan.net: “Fai Foo mấy trăm năm trước là một thị trấn xây bởi
những
người Tầu từ đảo Hải Nam tới Việt Nam lập nghiệp. Cái tên cũng do ở
tiếng Tầu
mà ra. Theo nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả bản [Nắng Chiều] ‐ vốn là
người sinh trưởng ở Hội An ‐ khi người Pháp tới thị trấn này thì được
người dân (Tầu?)
cho biết đây là nơi chuyên bán hoa (bán là phô và hoa là ba) nên họ gọi
tên
thành phố là Ba Phô. Dần dần Ba Phô trở thành Fai Foo. Cũng có người cho
rằng
tên Fai Foo là do ở tiếng Bồ Đào Nha mà ra” (nguyên văn).

“Xin chào, anh là xích lô 037!”

Cuốn guide book nhỏ mà mình mang theo từ nhà ghi lại: “Từ cuối thế kỷ XVI
đến thế kỷ XVII, bên cạnh sự xuất hiện của các thương nhân Bồ Đào Nha, Italia,
Xiêm (Thái Lan), Cambodia, Manila

(Philippines), Indonesia... và nhiều người Hoa, Nhật đến định cư tại Fai
Foo, giúp nơi đây nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều
thế kỉ. Thời đó, Fai Foo là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á và là một
trong những trạm đỗ chính của thương thuyền vùng Viễn Ðông”. Từ đó tới nay cũng
đã hơn 300 năm, giờ đây, những dấu ấn của một thời vang bóng chỉ còn vương vấn ở
những nếp nhà cổ hình ống với mái ngói phủ rêu xanh, nội thất bên trong hoàn
toàn làm bằng gỗ chạm trổ cầu kỳ, balcony cũng làm bằng gỗ, giếng trời thăm thẳm…
và đặc biệt phía bên ngoài nhà nào cũng có hai con mắt âm dương (dùng để trừ
tà), gợi vẻ huyền bí và liêu trai. Người Fai Foo yêu quý và có cách “tiếp thị”
nhà của họ rất dễ thương. Một lần nọ, khi nhóm‐ô‐đẹp lang thang trong đêm, đi ngang nhà cổ Quân Thắng một
trong số ít ngôi nhà cổ đẹp nhất Fai Foo, đã có niên đại 150 năm ‐ thì nghe tiếng gọi, quay ra thấy một ông cụ dáng gầy gầy
nhưng mắt rất tinh anh đang vẫy vẫy: “Các cháu, vào đây chơi, vào đây chơi…
không tính tiền, không tính tiền”. Chưa biết tính sao thì ông cụ chào mời nhiệt
tình hơn: “Vào đây, đã bảo không tính tiền cơ mà, vào ban ngày là phải trả tiền
đấy!”. Dĩ nhiên là không thể từ chối lời mời ấy được. Và có bước vào nhà cổ vào
ban đêm bạn mới “cảm” được hết vẻ đẹp của nó. Bạn hãy đi thong dong trong ngôi
nhà tĩnh lặng (hoàn toàn không bị chi phối bởi đám đông du khách ồn ào như ban
ngày), dưới ánh đèn đỏ leo lét, mường tượng cuộc sống phong lưu trong quá khứ của
chủ nhân ngôi nhà thông qua cách bài trí đồ đạc hay những chi tiết kiến trúc,
điêu khắc tinh tế và sang trọng. Hãy quan sát thật kỹ xung quanh và biết đâu, đằng
sau khung cửa sổ hình bàn tính với những con tiện đen bóng kia, có một hình
bóng hư ảo đang lén nhìn bạn một cách chăm chú.

Nếu chán làm Bồ Tùng Linh và không muốn viết [Liêu trai chí dị] phiên bản
Fai Foo, bạn có thể bắt xích lô dạo một vòng phố cổ. Một tour 60 phút, mỗi phút
1000đ. Xích lô Fai Foo nhỏ thật nhỏ, hai người ngồi thì chật nhưng một người ngồi
thì lại cô đơn. Sau này, mỗi lần nhớ đến xích lô Fai Foo là mình lại nhớ đến bạn
Phượng. Một hôm, mình và bạn Phượng rủ nhau nhảy xích lô đi chơi. Xích lô Fai
Foo nhỏ nhỏ mà hai bạn thì lại to to làm hai bạn ngồi bên trên thật tình là
không dám thở mạnh. Cho đến lúc thấy anh xích lô vừa đạp vừa giới thiệu nào là
nhà cổ Tấn Ký, hội quán Quảng Đông, bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh… với chất giọng
sang sảng, hai bạn bảo nhau chắc là anh chở mình không quá sức và yên tâm cùng
anh lướt qua nhiều con phố để ngắm đèn lồng lung linh, hóng gió sông Hoài và vẫy
tay chào các khoai Tây đang vừa ngồi uống bia vừa hun nhau. Hai bạn vẫn ngây thơ
nghĩ là mình đang “lướt”, chứ không phải “bò” trên phố nếu như trên đường về
không gặp bạn Hạnh. Bạn Hạnh lúc đó đang chống ô như chống batoong đi bộ thoăn
thoắt trên đường, và thật bi kịch, xích lô của hai bạn đang “bò” với tốc độ còn
chậm hơn bạn Hạnh đi bộ nữa, tình cảnh ấy không biết nên cười hay khóc! Những
người đạp xích lô ở Fai Foo hoạt động trong nghiệp đoàn, xích lô nào cũng có
đánh số và anh nào cũng có điện thoại di động để khách tiện liên lạc. Vì thế
không mấy ngạc nhiên khi hai bạn vừa xuống xe, anh xích lô đã nhún vai điệu nghệ:
“Anh là xích lô 037! Ghi lại số của anh rồi khi nào cần xe thì gọi nhé!”.

Chưa thấy hoàng hôn ở Lai Viễn Kiều

Những ngày ở Fai Foo, nhóm‐ô‐đẹp thường nhận được những tin nhắn
trêu chọc của bạn bè, đa phần họ đều hỏi “Nghỉ mưa có vui không?”. Không biết họ
có tin không khi ai trong chúng mình cũng khẳng định là nghỉ mưa không vui vì…
quá vui. Vẫn nhớ về một ngày mưa tầm tã, quần áo xúng xính che ô cuốc bộ qua cầu
An Hội vào Hội quán Quảng Đông 125 năm tuổi thắp hương vòng (200k/vòng) cầu an
và bạn Lan ‐ dù mặc váy ‐ vẫn nhảy phắt lên ghế để tự tay treo hương lên trần trong
ánh mắt kinh hoàng của cụ từ!. Hội quán có thể nói là một trong những nét đặc sắc
nhất của người Hoa xa xứ, là nơi họ tụ họp, giao lưu, sinh hoạt cộng đồng, kết
nối những mảnh đời vì nhiều lý do mà phải tha hương, lưu lạc nơi đất khách. Fai
Foo hiện nay vẫn còn lưu giữ năm hội quán, đa phần đều nằm trên đường Trần Phú
và hướng ra sông Thu Bồn, bao gồm Phúc Kiến (do Hoa kiều tỉnh Phúc Kiến xây dựng
năm 1792); Dương Thương (còn gọi là Trung Hoa, 1741); Triều Châu (Hoa kiều Triều
Châu, 1845); Quỳnh Phủ (Hoa kiều Hải Nam, 1875) và Quảng Đông (còn gọi là Quảng
Triệu, Hoa kiều Quảng Đông, 1885). Mỗi hội quán có nét đặc sắc riêng, nhưng có
điểm chung là đều giành một nơi trang trọng để thờ phụng Thiên Hậu Nương Nương,
nữ thần bảo trợ cho người đi biển nói chung như ngư phủ, thủy thủ, thương nhân
(buôn bán đường biển)… Ở Hội quán Quảng Đông có một thứ mà nhóm‐ô‐đẹp rất muốn chiếm làm của riêng, đó
là mô hình chiếc thuyền mà người Hoa thường dùng để vượt biển cập bến Fai Foo
vào thế kỷ XVII, XVIII. Nó được thiết kế rất tinh xảo đến từng chi tiết, có nơi
sinh hoạt hàng ngày của thương nhân, khoang thuyền chứa hàng hóa và thậm chí có
cả chỗ để thờ phụng thần, Phật và tổ tiên.

Không biết giữa người Nhật và người Hoa, ai là người đặt chân đến Fai Foo
trước, chỉ biết rằng theo các tư liệu cũ thì khu phố Nhật Bản được hình thành sớm
hơn và phát triển cực thịnh vào những năm đầu thế kỷ XVII. Các thương nhân người
Nhật khi đó ghé Fai Foo bán đồ đồng, tiền đồng, sắt… và đồ gia dụng; đồng thời,
mua lại đường, tơ lụa, trầm hương... của dân bản xứ. Cuối thế kỷ XVIII, cuộc
chiến khốc liệt giữa Chúa Trịnh và nghĩa quân Tây Sơn đã đánh một dấu chấm lửng
cho sự tồn vong của Fai Foo. Vài năm sau cuộc chiến, người Việt và người Hoa đã
cùng nhau xây dựng lại Fai Foo từ hoang tàn đổ nát và động thái này đã làm cho
khu phố Nhật Bản chỉ còn là dĩ vãng, thật là đáng tiếc! Tới thăm nhà cổ Phùng
Hưng, ngôi nhà cổ 100 tuổi có lẽ là duy nhất ở Fai Foo có kiến trúc pha trộn
Hoa ‐ Nhật ‐ Việt, dù mình không có một kiến thức
sâu rộng về kiến trúc nhưng cũng có thể dễ dàng thấy sự khác biệt cơ bản giữa
ngôi nhà này với các nhà cổ bên khu phố người Hoa, đó là trần cao và thoáng
hơn; 80 cột nhà làm bằng gỗ lim đặt trên bệ đá; bacolny mở rộng nhìn ra đường;
mái nhà ở gian giữa có bốn hướng (gọi là mái “tứ hải”, đây là đặc trưng kiến
trúc của Nhật, giống mái của Lai Viễn Kiều)… và các chi tiết nhà làm bằng gỗ
quý nhưng không chạm trổ mà để mộc nguyên tấm, chỉ có phần đỡ mái chạm khắc
hình cá chép, biểu tượng cho sự may mắn (đối với người Hoa) ‐quyền lực (Nhật) và thịnh vượng (Việt)[2].

Mặc dù khu phố Nhật Bản không còn nhưng dấu ấn mà cộng đồng Nhật kiều để
lại lại rất đáng trân trọng, đó là biểu tượng của Fai Foo cho đến tận bây giờ:
Lai Viễn Kiều (hay còn gọi Hội An Kiều, Chùa Cầu, Cầu Nhật Bản), được xây dựng
đầu thế kỷ XVII. Tiếc rằng gần chục ngày ở Fai Foo chẳng có ngày nào được nhìn
thấy nắng và vì thế cũng không được ngắm “ánh tà dương trầm tĩnh như nước” ‐ thứ “đặc sản” mà vì nó, An Ni Bảo Bối[3] đã viết
nên những dòng tuyệt vời thế này: “Hoàng hôn ở mỗi nơi đều khác nhau. Trên thảo
nguyên Tân Cương từng ngắm mặt trời lặn hoa lệ như trong cơn say. Cũng từng đứng
trên cầu vượt ở vòng ba phía đông Bắc Kinh, ngắm ánh tà dương trắng bạch và khô
khan sau trận bão cát mùa xuân. Nó khiến người ta phải than thở vì ngạc nhiên,
quá trực tiếp, quá ác liệt, như gương mặt của cuộc sống vậy. Nhưng ở Hội An,
trong một thị xã nhỏ đất khách quê người, cách Bắc Kinh ngàn dặm, bạn có thể thấy
ánh tà dương trầm tĩnh như nước. Nó khiến bạn không thốt nổi nên lời”.

[2] Chỗ này mình thấy khác nhưng
không biết diễn tả thế nào, may nhờ anh Google mới vỡ vạc ra, cám ơn anh
Google!

[3] An Ni Bảo Bối, một trong những
tác giả TQ mà mình yêu thích nhất, đoạn trích này nằm trong cuốn “Đảo Tường
Vy”.

Em đã thấy mùa xuân chưa?

Nếu như Fai Foo trong nắng đẹp một, thì Fai Foo những ngày mưa đẹp mười!
Một vẻ đẹp bàng bạc và phiêu diêu, mang đến cho người ta cảm xúc lẫn lộn, rất khó
phân định rạch ròi. Bởi vì không phải là Thái Vân[4]nên không thể trốn
mình trong một gallery nho nhỏ, vừa ngắm mưa vừa vẽ người, vẽ mèo, vẽ Vespa chờ
anh Thanh lạc lối ghé qua. Cũng không phải là nàng công nữ[5] nào đó
có mối tình khắc cốt ghi tâm với chàng Samurai tuổi trẻ tài cao Mộc Tôn Thái
Lan (Araki Sotaro), chẳng có ai để mà gọi tha thiết “Anh ơi!”, nên mình đành
đón giao thừa ở Fai Foo trong vòng tay của bốn… con vịt và xung quanh là hàng rổ...
khoai Tây. Tiệc gần tàn thì thấy bạn Chi biến mất một lúc, sau đó hí hửng quay
lại khoe chữ và thơ vừa mới xin được. Hóa ra ban tổ chức đã đặc biệt thu xếp một
ông đồ già và một anh đồ trẻ bày sạp cho chữ miễn phí ở phía ngoài sảnh. Bốn bạn
còn lại lập tức lốc nhốc chạy ra xí phần, kết quả là bạn Phượng ‐ luôn chắp tay sau mông chăm chú quan sát, ban đầu không định
xin chữ, tới lúc thay đổi quyết định thì giấy hết nên đành ngậm ngùi không có
chữ mang về Sài Gòn (cái này người ta gọi là “Tô Châu qua rồi không còn đò
ngang”); bạn Hạnh ‐ xin được chữ PHÚC, bạn luôn cầm ngược
và giải thích với mọi người cầm thế mới đúng vì theo người cho chữ thì PHÚC ĐÁO
‐ nghĩa là PHÚC từ trên trời rơi xuống; bạn Lan ‐ có chữ PHÚ, bạn không thể nhớ được chữ này nên đành dùng hạ
sách là ghép nó với tên bố bạn (bố bạn tên là Quý) để dễ nhớ; mình ‐ được một chữ rất hay là ĐẠI KIẾT, vốn tiếng Hán tí tẹo của
mình đủ để nhớ mà không cần phải liên hệ đến một căn bệnh liên quan đến đường
ruột; còn bạn Chi “lời” nhất, bạn xin được chữ TÂM (nhưng bạn chuyên đời cầm dọc
nó lên) và câu thơ: “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để
yêu thương!”.

[4] Thái Vân &Thanh - hai nhân vật
trong cuốn “Phải lấy người như anh” của Trần Thu Trang.

[5] Trong một số bài báo về Fai Foo
có nhắc đến chuyện tình của một nàng công nữ (được cho là con gái chúa Sãi Nguyễn
Phúc Nguyên) và Mộc Tôn Thái Lan (Araki Sotaro), dòng dõi võ sĩ

Samurai Nhật Bản. Khi theo chồng về
sinh sống tại quần đảo Nagasaki, nàng vẫn giữ thói quen gọi chồng là “Anh ơi!”
bằng tiếng Việt. Vì thế nên dù nàng được đặt tên Nhật là Okakutome, nhưng người
ta thường gọi nàng là Anio, phiên âm là “Anh ơi!”. Có người cho rằng nàng công
chúa đó là công nữ Ngọc Vạn, cũng có người bảo là công nữ Ngọc Khoa nhưng theo
mình không phải, vì theo lịch sử ghi lại thì công nữ Ngọc Vạn được gả cho vua
Chey Chetta II nước Chân Lạp (nhà nước đầu tiên của người Khmer, tồn tại từ 550
-802, lãnh thổ gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện nay),
còn công nữ Ngọc Khoa thì kết hôn với vua Chiêm Thành Po Romê.

Hạc giấy vẫn xoay trên đỉnh đầu

Trong “1735 km”, Kiên (Hồ Khánh Trình) nói với Trâm Anh (Dương Yến Ngọc)
khi họ đang lạc lối ở Fai Foo đại ý là: “Đến Hội An em hãy ngước nhìn trên
cao”. Khi ấy camera quay hắt từ dưới lên, ghi lại nụ cười mê hồn của Hồ Khánh
Trình và “màu mắt nhung” của Dương Yến Ngọc, còn phía trên họ là những dãy lồng
đèn huyền ảo của Fai Foo trong một đêm trăng tròn. Từ mùa thu năm 1998, vào đêm
14 âm lịch hằng tháng, người dân Fai Foo tự nguyện đồng loạt tắt đèn điện và chỉ
thắp đèn lồng ở mái hiên và hai bên cửa ra vào, để khách du lịch có thể tận hưởng
trọn vẹn không khí thuần khiết của một đô thị cổ 300 năm tuổi, hoàn toàn không
có một chút tàn dư nào của cuộc sống hiện đại. Nếu như may mắn có mặt ở Fai Foo
vào ngày này, thì hãy làm một ly Double Espresso cho thật tỉnh táo rồi đi lang
thang khắp nẻo, bạn sẽ bắt gặp những “tấm hình” ấn tượng mà suốt đời khó có thể
quên được. Một người phụ nữ mặc áo dài màu huyết dụ ngồi chải tóc bên hiên nhà…
Dăm ba đứa trẻ chơi bắn bi trong lặng lẽ…. Một đôi bạn già trầm ngâm bên bàn cờ
tướng…. Và một anh gù đang tỉ mẩn chuốt những nan tre để ghép thành chiếc lồng
đèn hình củ tỏi. Bạn cứ việc ngắm nghía anh ta thoải mái, từ lúc anh ta làm
khung, dán vải, chỉnh sửa, gắn chuôi, làm đuôi đèn, nhưng nhớ đừng chụp ảnh có
flash nếu không muốn ăn vài cái cán chổi!

Nếu như “kiếm cơm” trong ngành du lịch, mình sẽ kiến tạo một trò chơi nho
nhỏ thế này: Vào đêm 14 âm lịch, mỗi người khách cô đơn khi đến Fai Foo sẽ tùy
chọn cho mình một chiếc đèn lồng, cầm theo khi đi trên phố và kiếm tìm người có
đèn giống mình. Sẽ có những đôi may mắn hoàn toàn trùng khớp. Sẽ có vài đôi
không biết nên cười hay nên khóc khi người chọn đèn giống mình lại có cùng… giới
tính với mình. Và tất nhiên sẽ có người mãi mãi không tìm được một nửa của
mình. Bởi vì trong một số chuyện, không phải ai cũng đoán trước được điều gì sẽ
xảy ra, tự nhiên nhớ lại một câu nói của Trâm Anh, cũng trong “1735 km”: “Dân số
thế giới hiện nay là sáu tỉ bốn trăm bốn mươi chín triệu ba trăm sáu mươi chín
ngàn bốn trăm sáu mươi mốt người[6]… Trong một thế giới đông đúc bận
rộn như vậy, xác suất nào để hai người tìm thấy nửa còn lại của nhau? Chúng ta
điềm nhiên băng ngang qua đời nhau mà không hề gặp gỡ. Chúng ta nghĩ về tình
yêu bao nhiêu lần trong một ngày? Làm sao chúng ta gặp nhau và yêu nhau?”.

[6] Bây giờ thì Trái đất đã có 7 tỷ
người rồi!

Trí nhớ suy tàn của mình không nhớ vì sao mấy năm trước lại không thèm
xem “1735 km” (Jackfruit Thorn Kiss, 2005). Sau này được xem đoạn trailer mới
thấy tiếc, tiếc cho cả bản thân và cho cả ê kíp làm phim. Có lẽ “1735 km” không
đạt doanh thu lý tưởng là vì đã đi trước thời đại về độ lãng mạn. Giả sử phim
được tung ra ở thời điểm bây giờ thì có lẽ hãng phim Kỳ Đồng sẽ không bị… “đắp
chiếu” nhanh như vậy. À, cần phải nói thêm là OST của “1735 km” rất hay, điểm
10 cho Võ Thiện Thanh, cho Anh Khoa và cho cả bạn nào oánh guitar nữa: “Tình
yêu nơi đâu nơi đâu/ Băng qua đêm thâu/ Có khi chỉ cách nhau một cầu… Tình yêu
nơi đâu nơi/ Ghé sát vai nhau/ Có khi chẳng thấy nhau một đời… Tình yêu nơi đâu
nơi đâu/ Khi đêm qua mau/ Sớm mai chỉ thấy sương mịt mù… Tình yêu nơi đâu nơi
đâu/ Sánh bước vai nhau/ Có khi sẽ cách chia một ngày… Giống con hạc giấy kia cứ
xoay tròn mãi trên đỉnh đầu… Giống con hạc giấy kia cứ xoay tròn mãi trên đỉnh
đầu…”.

Báo cáo nội dung xấu