Loạn Thế Anh Hùng (Tập 2) - Nhị giải - Phần 02
Cả chặng đường, quả nhiên xe đi vô sự, Thẩm Phóng cũng thấy hơi lạ. Có thể nói chuyến tiêu này từ lúc xuất phát ở Phúc Kiến chưa từng được yên ổn thế này. Kể cả khi đã tới Giang Bắc, lúc còn trong tay Đỗ, Tiêu, một đoạn từ Trữ Châu vận chuyển tới Thư thành tuy cũng không có sự cố nhưng cảnh ai nấy đều cẩn thận như vào rừng sâu, như đạp băng mỏng vẫn còn khiến Thẩm Phóng nhớ như in. Từ lúc bắt đầu lên đường, hắn vẫn luôn lo lắng, nhưng thấy Dực Liễm kia thản nhiên như thế, hắn cũng dần quên đi, lúc nghỉ chân ăn cơm, hắn cười, nói riêng với Tam Nương: “Vị Dực huynh kia có ngón đàn tuyệt diệu, nho nhã, lịch sự, hẳn cũng giống ta, đều là hạng quân tử ôn tồn, không biết võ công. Chuyến tiêu lớn thế này, Kinh nữ hiệp lại hiên ngang oai vệ, hiện giờ hai người bọn ta cùng xe hàng này đều phải trông cậy Kinh nữ hiệp chiếu cố rồi.”
Trong lòng Kinh Tam Nương vốn cũng có nghi hoặc song vẫn bị Thẩm Phóng chọc cười, nhưng lại cố ý nghiêm mặt, đáp: “Quá khen, quá khen, không dám, không dám!”
Không nhắc tới chuyện vợ chồng hắn trêu đùa nhau, tới ngày thứ tư, xe đã tới phủ Lục An. Lục An là một tòa thành cổ, vốn cũng có chút quy mô, đáng tiếc, chịu qua nạn binh hỏa, đa số những chỗ bị chiến hỏa tàn phá tới giờ cũng chỉ là miễn cưỡng tu bổ. Năm xưa, Tam Nương Tử hành tẩu giang hồ từng đi qua đây, còn nhớ được, bèn nói với Thẩm Phóng: “Thành Lục An này ngoài nổi tiếng vì lá chè ra, còn có Lục Hợp môn danh tiếng vang lừng trên giang hồ, là môn phái tục gia lớn nhất ở Giang Bắc. Năm xưa, Cù lão gia Cù Bách Linh dùng Lục Hợp chưởng cùng Lục Hợp thương đánh khắp nam bắc Trường Giang, hiếm gặp địch thủ. Đáng được coi là tông sư một phái, so với Đỗ Hoài Sơn cùng Tiêu Tứ Ẩn chỉ e còn cao hơn không chỉ một bậc.”
Thẩm Phóng biết nàng nghe rộng biết nhiều, cố ý trêu chọc, hỏi: “Lục hợp, là lục hợp nào?”, rồi hắn nhíu mày, duỗi ngón tay ra, nghiêm túc đếm: “Chắc là vua hợp với thần, cha hợp với con, chồng hợp với vợ nhỉ?”
Tam Nương thấy bộ dạng hắn, biết ngay hắn đang đùa, nghe hắn nói “chồng hợp với vợ”, mặt nàng đỏ lên, nàng vân vê tóc mai, cười, nói: “Tiên sinh Nho học của thiếp ơi, Lục Hợp kia là chỉ “Tâm hòa hợp với ý, hình hòa hợp với thần, tinh hòa hợp với khí”, đây mới là pháp môn duy nhất của Lục Hợp môn, chàng đang nói lung tung gì thế, nghĩ rằng đang thi ở Quốc Tử Giám sao?”
Thẩm Phóng cười. “Oa, thì ra là thế, cái này làm gì có ai không biết, vậy mà cũng coi là mật quyết sao?”
Tam Nương đáp: “Trong đó đương nhiên còn có chỗ ngoắt ngoéo. Đạo lý ai ai cũng biết, nhưng nói tới thể hội cùng việc dùng cụ thể thế nào thì đó chính là học vấn, không phải là người trong đó thì không đủ tư cách để nói.”
Hai người đang nói cười thì Dực Liễm ra ngoài thăm dò hình thế đã quay về, cũng không nói gì, chỉ chỉ hướng đi cho phu xe. Thoắt cái xe lại đi về khu vực phía bắc tòa thành. Khu vực phía bắc là một nơi cổ thụ rậm rạp, xe cứ lăn bánh, chỉ thấy ngoài cửa sổ dần hoang vắng. Từ đây trông về phương bắc có thể thấy Thanh Sơn ở thành bắc, thật đúng là: “Cây cũ miên man cùng ngõ thẳm, núi lạnh quạnh hiu cửa vắng hoe[15]”. Thẩm Phóng cùng Tam Nương bất giác cảm thấy toàn thân lạnh toát.
[15] Bài Lão tướng hành của Vương Duy (699-759), thi nhân đời Đường, Trung Quốc. Nguyên văn: Thương mang cổ mộc liên cùng hạng, liêu lạc hàn sơn đối hư dũ.
Xe dừng lại trong một con ngõ nhỏ, trong ngõ chỉ có một nhà, Dực Liễm gọi cửa nửa ngày mà cửa vẫn không mở, cuối cùng đành đẩy một cái, cửa kẽo kẹt mở ra, bên trong là một ao vườn nho nhỏ. Hoa sen trong hồ sớm đã khô cạn, lá rơi đầy đất, khung cảnh vắng lặng, chỗ mái hiên hành lang thì yên ắng, chẳng có lấy một người. Dực Liễm than thở: “Mọi người đều tới Vĩnh Tế đường ăn cơm cả rồi, chủ nhân nơi này mới mất được vài ngày, nơi đây đã trở nên quạnh quẽ như vậy.”
Nghe ý tứ trong lời nói của Dực Liễm, đây có vẻ là nơi ở của Cù Bách Linh lúc sinh tiền. Dực Liễm kêu xa phu đánh xe vào cửa, ba người tự đi vào nội đường, xe đỗ ở khoảng trống giữa sảnh đông với sảnh tây, có động tĩnh gì bên trong ắt nghe được. Trong nhà chỉ còn lại vài món ghế gỗ, giường gỗ thô kệch, ngoài ra không có bất cứ thứ đồ trang trí nào cả, chăn đệm cũng chỉ đủ một giường, Dực Liễm để cho vợ chồng Thẩm Phóng dùng, còn mình thì bồi hồi đứng trong vườn một dạo, thần sắc đượm vẻ thê lương.
Thẩm Phóng không rõ vị Cù lão anh hùng kia là người thế nào, nhưng nghe Tam Nương nói, lúc sinh tiền ắt cũng từng cực kỳ vang dội, ai ngờ sau khi mất lại quạnh hiu nhường này. Đêm hôm ấy, hắn cùng Tam Nương giường hẹp chăn mỏng, cửa sổ hứng gió bấc, cả đêm chẳng được ngủ yên. Hồi tưởng một đường chạy nạn, giờ trú trong vườn cũ của người đã khuất, không tránh khỏi nảy sinh chút cảm xúc đời người ngắn ngủi, thoáng chốc trăm năm. Tới canh hai, họ liền nghe thấy tiếng lá rơi xào xạc trong vườn, nghe kĩ, hóa ra là tiếng bước chân của Dực Liễm ôm đàn bước vào vườn. Hắn ở trong vườn đánh đàn cả đêm. Tảng sáng, Thẩm Phóng dậy nhìn ra ngoài cửa sổ, trong bóng tối, chỉ thấy hắn tĩnh tọa cạnh hồ sen khô, trầm lặng, một mình một bóng, chẳng thể đoán hiểu.
Tới sớm hôm, Tam Nương nói: “Vị Dực công tử này không những là kỳ nhân mà còn là người chí tình.”
Thở dài một tiếng, nàng nói tiếp: “Đêm qua, thiếp nghe hắn ở trong vườn than khẽ: “Cù lão gia, tôi với ngài là bạn vong niên, ngài thích nhất là nghe tôi đàn. Nhưng lúc còn tại thế, sự lắm việc nhiều, luôn chẳng được nhàn, lại có bao nhiêu khó khăn phiền phức, đều cậy mình ngài ra sức gánh vác. Tới giờ ngài đã khuất bóng, thứ tôi có thể báo đáp ngài cũng chỉ là một đêm không ngủ, thức trọn gảy đàn thôi. Ài, khúc còn người mất, nhân gian hư ảo”.”
Tam Nương nhìn Thẩm Phóng, nói: “Lời nói và hành vi này của hắn có chút phong vị thời Ngụy Tấn mà ngày thường chàng hay nhắc.”
Ăn sáng xong, ba người theo xe đi về hướng đường Cổ Lâu náo nhiệt nhất thành Lục An. Thẩm Phóng hỏi: “Dực công tử, hôm nay chúng ta đi đâu?”
Dực Liễm cười, đáp: “Tới Vĩnh Tế đường.”
Ngừng một lát, hắn cảm thấy cần phải giải thích: “Vĩnh Tế đường là tổng đường của Lục Hợp môn ở Hoán Nam, kiến trúc tráng lệ. Lục Hợp môn khởi nguyên là từ Dương Tố triều nhà Tùy, võ công thì bắt nguồn từ đạo Ngũ Đấu Mễ[16] cuối thời nhà Hán. Tới thời Đường, quần hùng trong thiên hạ lũ lượt nổi dậy, trong Lục Hợp môn có nhiều nhân vật tòng quân, tới đây võ công có biến hóa, mở ra phong khí của một môn phái đàng hoàng. Tới đầu thời Tống, Lục Hợp chưởng và Lục Hợp thương từng thịnh hành một thuở, tới nay một dải Hoán Nam, Ngạc Đông, phàm là người thích võ nghệ đa phần vẫn còn truyền nhau, tới cả đứa bé vài tuổi cũng có thể đi được Lục Hợp chưởng có hình có dáng. Đáng tiếc, về sau thái bình lâu ngày, người tập võ trong thiên hạ đã dần đánh mất cái tinh nghĩa của Lục Hợp chưởng, chỉ còn được cái công hiệu rèn luyện thân thể mà đã thiếu đi cái công phu xung sát đánh đấu. Tới thời Cù lão gia, Cù lão quyết chí chấn hưng, tái dựng phong khí của Lục Hợp môn. Tạo nghệ của lão với môn Lục Hợp quyền và Lục Hợp thương rất sâu, từng tự mình tham gia Bát Tự quân kháng Kim, một cây trường thương trước trận tiền càn quét, bởi vậy mà có mỹ danh Lục Hợp thương vương, tới nay, trên cửa nơi ấy vẫn treo tấm biển mười sáu chữ do đầu lĩnh Bát Tự quân Vương Thông đề: Quyền dẹp cướp trong, thương đánh giặc ngoài, đấy Cù môn ta, Lục Hợp nghĩa đầu.”
[16] Đạo Ngũ Đấu Mễ do Trương Lăng (34-156) lập ra cuối thời Hán, gọi là “ngũ đấu mễ” (năm đấu gạo) là do người muốn vào đạo này phải nộp năm đấu gạo. Đạo Ngũ Đấu Mễ cũng là một trong những tiền thân của Đạo giáo Trung Quốc.
Hiểu biết của hắn về Lục Hợp môn rất sâu, hắn ngưng một lát rồi nói tiếp: “Cù lão anh hùng cuối đời vẫn bền gan vững chí, tráng tâm không bớt, ủng hộ rất lớn cho nghĩa quân Hoài Thượng. Nghe nói, Lục Hợp môn dưới tay Cù lão phân thành sáu đường, ba nội đường Thiên, Địa, Nhân, ba ngoại đường Phúc, Lộc, Hy. Từng có người hỏi ngài sao lại bớt đi đường chữ Thọ, ngài đáp rằng: “Đương là thời loạn, nước nhà chia cắt, người tập võ ắt gặp chuyện bất bình, còn như hưởng vĩnh thọ, đấy không phải vinh, ngược lại chính là nhục.” Cho nên ba năm trước, vào dịp đại thọ bảy mươi của Cù lão, tôi cũng từng sai người tới trước. Nghe kể Cù lão biết mình tuổi cao, tự trào mà đề một câu lên xà nhà, lời rằng: “Thẹn đã bảy mươi Cù trăm tuổi[17]”, thành một giai thoại trên giang hồ.” Dực Liễm bật cười khẽ, nhớ lại dáng vẻ người cũ, trong lòng tựa như thấy khuây khỏa, rồi buồn rầu than rằng: “Đáng tiếc, nay người đã cưỡi hạc về Tây. Cù lão anh hùng không có con cháu, người vừa khuất, nghe bảo đám môn hạ đã loạn hết cả, chúng ta đi chuyến này, e là phải gặp rắc rối rồi.”
[17] Cù Bách Linh, bách linh là trăm tuổi.
Xe đã tới đường Cổ Lâu, bên đường quả nhiên náo nhiệt, tiệm giấy, tiệm dầu, tiệm chải răng, tiệm khăn, quán điểm tâm... lần lượt mở hàng. Thẩm Phóng im lặng nhìn ra bên ngoài, hắn thích kiểu chợ sớm này, đây là lúc có sức sống nhất trong ngày trong sinh hoạt thị thành. Bên tai bỗng nghe Dực Liễm hỏi Kinh Tam Nương: “Kinh nương tử dùng chủy thủ có phải không?” Kinh Tam Nương gật đầu.
Dực Liễm thoáng trầm ngâm. “U buồn nhịp nhàng, cảm kích mênh mang, đó hẳn là phái kiếm khí của Công Tôn lão nhân ở Quỷ Cốc, núi Vương Ốc.”
Tam Nương cả kinh, nàng biết môn võ công này của mình cực kỳ kín tiếng trên giang hồ, bản thân nàng từ khi xuất đạo tới nay cũng gặp qua không ít danh gia võ thuật, trước nay chưa ai có thể nói ra uyên nguyên sư thừa của mình, không ngờ thiếu niên này lại có thể nói trúng, không biết hắn nhìn ra từ đâu. Lại nghe Dực Liễm hỏi: “Công Tôn lão nhân vẫn khỏe chứ?”
Tam Nương Tử than: “Tôi chỉ theo người ba tháng, sau ba tháng thì không có phúc được bái kiến lão nhân gia nữa rồi. Tới nay cũng đã mười mấy năm không gặp, không biết người có khỏe không”, rồi nàng ngẩng đầu, hỏi: “Dực công tử cũng biết gia sư ư?”
Dực Liễm nghe câu trước của nàng, không khỏi buông một tiếng: “Đáng tiếc!” Kinh Tam Nương biết hắn tiếc vì duyên phận giữa nàng và Công Tôn lão nhân quá mỏng. Nghe tới câu sau của nàng, hắn chỉ bình thản đáp: “Xem như có duyên gặp mặt một lần.”
Bỗng nghe xa phu bên ngoài gọi: “Thiếu gia, đã tới Vĩnh Tế đường mà ngài nói.”
Dực Liễm thò đầu ra nhìn rồi gật đầu, ba người liền xuống xe. Thẩm Phóng cùng Tam Nương nhìn ra cổng ngoài, quả nhiên kiến trúc khá tráng lệ. Cửa lớn có kết cấu đường hoàng, khí phái bất phàm, ngoài cổng có một đôi sư tử bằng đá Duyện Châu, thần thái uy mãnh, cực kỳ sống động. Trước cửa có cột cờ lớn treo một lá cờ thêu ba chữ “Lục Hợp môn”, hẳn là vì Cù lão anh hùng qua đời nên cờ đã đổi sang màu đen. Hai bên cửa lớn đều quây vải trắng, dựng hiếu trương. Bên trong lại hoàn toàn yên ắng, hai bên cửa có sáu đại hán áo trắng đứng, đều bận đồ sô gai. Thẩm Phóng thấy lạ ở chỗ hai cánh cửa lớn cứ thế đóng chặt, lẽ nào không cho phúng điếu sao? Dực Liễm tựa như chẳng thấy có gì lạ, cùng mấy người Thẩm Phóng tiến tới, hắn không để ý tới sáu hán tử canh cửa, tự mình tới gõ cửa. Chỉ thấy trong sáu người kia có một người hắng giọng, tiến lên ngăn lại. “Vị công tử này, hôm nay Lục Hợp môn chúng tôi có việc, không tiếp phúng điếu. Tâm ý của các vị, chủ nhân của chúng tôi xin nhận nhưng xin quay về cho.”
Thẩm Phóng ngạc nhiên, Dực Liễm thì cười, nói: “Tôi vì việc của quý môn nên mới tới đây. Thẩm cô cô có đó không? Quách, Lưu, Dương tam lão cũng ở đây cả chứ? Phải rồi, Cù lão anh hùng không có người nối dõi, hẳn cháu đằng nội là Cù Vũ cũng ở đây.”
Người kia nhíu mày, thấy hắn rất quen thuộc với người trong nhà liền không ngăn nữa. Lạ ở chỗ người kia cũng không hề mở cửa thông báo, chỉ lui sang một bên. Dực Liễm cũng không bận tâm, tiếp tục gõ cửa. Hắn gõ rất có tiết tấu, đợi một lúc mới thấy cửa mở, vẻ mặt tức giận, từ trong nội đường, có tiếng thanh niên bực bội vọng ra, hỏi: “Là ai?”
Người mở cửa nọ đáp: “Không nhận ra.”
Giọng bên trong vang lên: “Ngăn lại!” rồi lầm bầm: “Sao lại có hạng người như thế? Mặc kệ nhà người ta có chuyện hay không, chỉ biết xông tới, muốn lừa một bữa cơm sao?”
Gã mở cửa vừa định đóng cổng, Dực Liễm mỉm cười, vươn tay chặn lại, bước một chân vào. Kinh Tam Nương liếc mắt, thấy trong cổng có tường chắn. Nàng không nhìn được phía sau tường, có lẽ chính đường hẳn phải cách bức tường này một khoảng, liền thấp giọng nói với Thẩm Phóng: “Người ở trong kia nói chuyện đề khí đầy đủ, cách một lớp tường, tiếng còn to như thế, lại không hết hơi, khàn giọng, xem ra công phu không tệ.”
Lúc này chợt nghe trong nhà có tiếng nữ nhân xen vào: “Vũ thiếu gia, khách tới viếng lão gia sao tiện ngăn không cho vào? Nói thế nào người ta cũng có lòng, Tứ Phúc, mời vào!”
Giọng nói khàn khàn, không cao nhưng rất trong. Tam Nương cả kinh, thầm nhủ trong Lục Hợp môn quả có người tài, người phụ nữ này nghe tiếng là biết cũng là cao thủ.
Tứ Phúc nọ dường như nghe lời người phụ nữ kia hơn, nghe xong vẻ tức giận liền giảm. Dực Liễm khẽ cười. “Xin tiểu ca mở cửa ngách, chúng tôi có nữ quyến, mong được đưa xe vào.”
Tam Nương cười thầm. Hắn muốn đưa xe vào, không phải vì bảo hộ nữ quyến mà là muốn bảo vệ... bạc.
Xe từ cửa ngách tiến vào, vòng qua tường chắn là một khoảng sân nhỏ. Thẩm Phóng cùng Tam Nương không nghĩ sau bức tường be bé của Lục Hợp môn lại là một khoảng không rộng thế này, ắt hẳn đây là trường luyện võ của Lục Hợp môn, rộng đủ mười trượng, dài ước mười lăm, mười sáu trượng, trên thềm đối diện hẳn là chính đường của Lục Hợp môn, cũng là nơi nghị sự, bên trên quả nhiên treo tấm biển mười sáu chữ mà Dực Liễm nói tới, nét bút khỏe khoắn, nền đen chữ vàng: “Quyền dẹp cướp trong, thương đánh giặc ngoài, đấy Cù môn ta, Lục Hợp nghĩa đầu”, xem ra trên giang hồ, Lục Hợp môn này quả nhiên có khí thế không nhỏ. Dực Liễm bảo xa phu đánh xe tới đỗ dưới gốc cây hòe già bên trái chính đường rồi để xa phu ở ngoài trông, còn mình cùng Tam Nương, Thẩm Phóng đăng đường nhập thất.
Tiến vào cửa, Thẩm Phóng cảm thấy sảnh rất rộng nhưng đã kín người. Sảnh chia trước, sau, giữa dựng một bức tường nhỏ, bên trên vốn vẽ hình Vũ thánh Quan lão gia, lúc này đang phủ sa trắng, treo một bức di ảnh Cù lão anh hùng mình bận quan phục. Di thể hẳn đặt sau tường. Những người ngồi đây mặc không giống nhau, người ngồi, người đứng nhưng có vẻ đều đang bừng bừng tức giận. Chỉ thấy đứng đầu bên trái linh vị là một phụ nhân trung niên, thân hình gầy gò, móng tay dài nhọn, mình mặc đồ sô trắng, mặt che mạng đen, không nhìn rõ mặt, mơ hồ lộ ra một nét tú lệ, chỉ là e rằng dung nhan có chút già nua rồi. Bên cạnh phụ nhân là một thiếu niên chất phác, cùng nàng canh linh vị. Đứng đầu bên phải là một thanh niên hăm tám, hăm chín tuổi, tướng mạo không tồi nhưng trên mặt có chút ngông cuồng, tuy đang trong kỳ hiếu, giày áo đều màu trắng nhưng chất liệu đều là lụa là, trang sức trên người là Hán ngọc bạch kim, có chút xa hoa, Dực Liễm nhận ra, hắn chính là Cù Vũ, cháu của Cù lão anh hùng, một thân võ công cũng được chút chân truyền.
Kế tiếp bên phải bày lần lượt ba chiếc ghế, ba lão nhân đang ngồi, hẳn là ba vị Quách, Lưu, Dương vừa nãy Dực Liễm nhắc tới, họ là sư đệ của Cù Bách Linh, chia nhau chấp chưởng ba ngoại đường Phúc, Lộc, Hy, cũng là những nhân vật có thực quyền trong Lục Hợp môn.
Khách vị bên dưới cũng tới dăm sáu chục người, túm năm tụm ba, ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ. Bọn họ dường như cũng nghe được hôm nay trong Lục Hợp môn có việc nên đặc biệt chạy qua. Trong đó có mấy vị như đại chưởng quỹ Lý Bạn Tương của Lưỡng Tương tiền trang, cao thủ Ngũ Hành đao Hồ Thất Đao, có thể nói là khá nhiều nhân vật xuất sắc.
Cù Bách Linh không có con nối dõi, giờ rời trần gian, không ai tiếp nối, Cù Vũ là đứa cháu duy nhất, lại một thân võ công không tệ, đương nhiên là có mong mỏi tiếp ngôi môn chủ Lục Hợp môn. Cù Vũ bực bội vì người hỗn tạp quá nhiều, hắn cũng không biết trong những người này rốt cuộc ai là bằng hữu thật sự của Cù lão anh hùng lúc còn sống, chỉ hoài nghi đám người này ai nấy đều bất mãn với hắn, có ý tới giúp Thẩm cô cô và Quách sư thúc. Bản thân hắn trước nay sống phóng đãng, tính tình cuồng ngạo, lúc bé rất được thúc thúc sủng ái nhưng khi lớn lên lại có nhiều thói xấu khiến Cù Bách Linh không ưa. Hắn cũng tự biết tiếng tăm của mình bên ngoài không tốt, sợ chẳng được ai ủng hộ, cho nên việc gia môn hôm nay mới mong người tới càng ít càng tốt, bởi thế đã sớm hạ lệnh cho đóng cửa lớn, bảo gác cửa nói: “Trong nhà có việc riêng, không tiếp khách bên ngoài”, ai ngờ từ sáng sớm, lượt nào lượt nấy toàn là khách không thể ngăn, trong lòng không khỏi buồn bực. Hắn giận dữ, khí sắc lộ hết trên mặt, biết rõ thế này người bên cạnh sẽ đàm tiếu nhưng vì thế lại càng giận, nói năng càng nóng nảy.
Bấy giờ thấy ba người Thẩm Phóng tiến vào, hắn càng không thèm để ý, Dực Liễm tiến tới chỗ Thẩm cô cô, nói: “Kẻ hèn cùng Cù lão anh hùng từng có duyên gặp gỡ một lần, nay đặc biệt tới dâng hương tỏ lòng thành kính.”
Thẩm cô cô vô cùng giữ lễ, khiêm hòa nói: “Người chưa khuất[18] xin thay người đã khuất cảm tạ.”
Thẩm Phóng nhìn Dực Liễm, thấy hắn tối qua vì Cù Bách Linh mà gảy đàn cả đêm, kẻ còn điếu người mất, rất có cảm giác Quý tử treo kiếm[19], vậy mà lúc này lại chỉ lãnh đạm dâng một nén hương, hơi khom mình, không hề nhiều lời. Bên kia, Cù Vũ tiếp lời Thẩm cô cô, hừ lạnh, nói: “Hắc, “người chưa khuất”, chẳng biết tự mình thăng cho mình từ lúc nào thế, đem gia phủ Cù gia ra xem xem, từ lúc nào cho ngươi xưng là người chưa khuất vậy?”
[18] Tức “Vị vong nhân”, lời xưng trang trọng của quả phụ thời xưa.
[19] Thời Xuân Thu, công tử Quý Trát nước Ngô vâng mệnh đi sứ các nước, trên đường ngang qua nước Từ, vua nước Từ khoản đãi nhiệt tình. Vua nước Từ thấy bảo kiếm Quý Trát đeo trên người thì rất thích, nhưng ngại không hỏi xin, Quý Trát nhìn nét mặt liền biết nhưng ngặt còn phải đi sứ nước khác không tiện đem tặng, nghĩ trên đường quay về nhất định dâng cho. Sau khi đi sứ các nước, về qua nước Từ, ai ngờ vua nước Từ đã mất, Quý Trát bèn đem thanh kiếm treo cạnh lăng mộ.

