Gia tộc ma cà rồng (Tập 4) - Chương 36 - 37

Chương Ba Mươi Sáu

Mimi

Với rất nhiều người, Trung tâm Rockefeller là hiện thân của New York.
Khu vực được cấu thành bởi thép, bê tông và kính nằm giữa Midtown là nơi đặt trụ
sở của những tổ chức nổi tiếng và được yêu chuộng nhất thành phố. Tầng trên
cùng của nó là căn phòng Cầu vồng, bên quảng trường là một sân trượt băng tiêu
chuẩn. Ở trung tâm của quảng trường là một địa điểm trưng bày ưu thích của các
triển lãm nghệ thuật đương đại – một chú chó khổng lồ được làm từ những bông
hoa đầy màu sắc rực rỡ, hay một tấm gương ngoại cỡ hướng lên bầu trời. Một
chương trình truyền hình nổi tiếng thậm chí đã lấy địa chỉ này để làm tên cho
mình. Mimi lúc nào cũng thích đi bộ ngang qua một dãy những lá cờ đầy màu sắc
tươi sáng dọc theo phố trên đường tới Saks. Nhưng điều mà rất nhiều người không
biết, dĩ nhiên, là Trung tâm Rockefeller có một lịch sử lâu đời đến thế.

Theo hiểu biết của ma cà rồng thì nó được tôn thờ như là nơi Michael đã
lần đầu tiên nhận danh hiệu Regis khi Tổ chức di chuyển từ Thế Giới Mới. Mảnh đất
đã được ban phúc lành với một phần linh hồn của ông, đó có thể là lí do tại sao
Trung tâm Rockefeller đã trở nên nổi tiếng như thế với các Máu Đỏ. Những con
người, dù đông đúc đến thế, vẫn có thể cảm nhận được luồng điện tích bao quanh
họ, điện trường trong không gian phát ra từ mảnh đất thiêng.

Nơi tôn nghiêm đó nằm ngay tại vị trí của tòa nhà đấu giá Christie danh
tiếng ngày nay. Đã chín giờ ba mươi phút sáng khi Mimi bước qua cánh cửa kính ở
lối vào phía trước tòa nhà. Buổi đấu giá sẽ bắt đầu lúc mười giờ, nhưng cô tới
đây không phải để trả giá cho bộ sưu tập.

Cô đã quay trở về từ Rio tuần trước, và đang bỏ lỡ ngày học đầu tiên ở
trường để tham dự buổi lễ này. Trường Duchesne sẽ phải hiểu thôi – cô có những
trách nhiệm bên ngoài lớp học. Trường học chào đón cặp sinh đôi nhà Force sau
“thời gian nghỉ phép” nên họ có thể bắt đầu năm học cuối phổ thông của mình và
tốt nghiệp trung học. Ủy ban đã quy định rằng các ma cà rồng trẻ tuổi phải hoàn
thành việc học của mình trước khi tham gia vào nhiệm vụ Venator nào khác vì họ
vẫn trong thời kì dễ bị tổn thương của quá trình biến đổi. Các bậc trưởng lão
lúc nào cũng cố gắng giữ những người trẻ tuổi không trưởng thành quá nhanh.
Mimi nghĩ. Đó chẳng phải là vấn đề khi cô là một thành viên có quyền biểu quyết
của Hội Kín! Không. Cô phải có được tấm bằng của mình.

Cô đến lấy tấm bằng đắt giá của mình ở chỗ bảo vệ và vào thang máy lên
phòng đấu giá công khai. Hội trường vắng quá nửa khi cô tới nơi. Một dấu hiệu của
thời gian, có lẽ thế? Hoặc của rất nhiều những người mua nước ngoài đặt giá trực
tuyến hay qua các nhân viên ngồi trực ở bàn điện thoại phía sau căn phòng? Mimi
không chắc. Cô nhớ rõ rằng các buổi đấu giá đã thoải mái và mang tính giải trí
hơn một chút khi bố mẹ cô còn tham gia. Đó có thể là một bữa tiệc cocktail ở
phòng đợi, các quý bà đeo những trang sức quý giá ngang với những thứ mà họ
đang trả giá.

Cô chú ý thấy một vài đồng nghiệp của mình rải rác quanh khu vực. Hội
Kín đã giảm xuống còn bảy thành viên, nhưng bảy người chính là số người tối thiểu
mà họ cần. Josiah Archibald đang nghiên cứu cuốn catalog nghệ thuật tỉ mỉ.
Alice Whitney đang giữ chặt những viên ngọc trai của mình. Abe Tompkins đi lảo
đảo vào ngồi ở phía sau. Buổi đấu giá sẽ bắt đầu lúc mười giờ đúng, và cũng là
buổi họp của Hội Kín. Họ tới địa điểm cổ xưa này để bầu ra người lãnh đạo mới
cho mình. Forsyth Llewellyn đã yêu cầu một Phiếu Trắng.

Lễ nhậm chức của một Regis mới không phải là vấn đề tầm thường, và
không ai trong Hội Kín nhớ rằng đã bao giờ có nhiều người mới lên nhậm chức như
vậy trong một thời gian ngắn ngủi như thế. Họ đã được Michael lãnh đạo trong rất
nhiều kiếp sống con người của ông kể từ buổi đầu sơ khai, và chỉ năm ngoái là
đưa Lawrence Van Alen về đúng chỗ của mình. Nhưng bây giờ Lawrence đã chết,
Charles Force thì đang mất tích, Forsyth đang thúc giục để giành vị trí đó.

Mimi thấy ngạc nhiên khi hai trong số các thành viên, Minerva Morgan và
Ambrose Barlow, bước vào căn phòng và đi thẳng một mạch về phía cô. Minerva và
Ambrose nằm trong số những ma cà rồng sống lâu nhất trong vòng đời của họ,
trong khi đó thì trí tuệ của các ma cà rồng không hề mất đi độ sắc bén, thì cơ
thể tuân theo quy luật của một con người đã bị hủy hoại mà chẳng hề cần tới sự
bảo vệ cần thiết. Hai ông bà già lão lụ khụ màu mè này muốn gì đây?

- Madeleine – Minerva nói, ngồi xuống bên cạnh cô – Ambrose muốn cho cô
xem một thứ.

Ambrose Barlow cẩn thận lấy một chiếc phong bì từ trong túi áo khoác
ra. Nó được gấp làm tư, khi Mimi mở ra, bức thư bên trong đã bị nhăn nhúm, tờ
giấy rất mỏng, như thể đã được đọc đi đọc lại rất nhiều lần.

Cẩn thận với Forsyth Llewwllyn.
Hắn ta không phải là người mà ông vẫn nghĩ đâu.

Nó được kí tên là “Một người bạn.” Mimi không phản ứng gì, đưa trả lại
nó cho Ambrose. Bố cô đã nói với cô rằng đừng bao giờ tin vào những lời nhắn vô
danh.

- Cô có nghĩ nó là sự thật không? – Minerva hỏi.

- Tôi không biết. Tôi không để ý nhiều tới mấy thứ như thế này – Mimi
khụt khịt mũi khó chịu – Nó có thể chỉ là một trò chơi khăm.

- Nhưng tại sao ai đó lại gửi nó đi? Rõ ràng đó là một người trong Tổ
chức. Nhưng mà ai kia chứ? Và tại sao? Tại sao lại gửi nó cho Ambrose? Ông ấy
đã dừng công việc trong Hội Kín để nghỉ hưu ít nhất mười lăm năm rồi. Thêm nữa,
Forsyth chẳng hề có kẻ thù, ông ta là người duy nhất gắn kết chúng ta lại –
Minerva nói với vẻ bối rối – Ông có nghĩ thế không hả Ambrose?

Ambrose Barlow gật đầu.

- Tôi đồng ý, những bức thư nặc danh là hành động của những kẻ hèn
nhát. Nhưng không biết sao tôi cảm thấy chúng ta phải chú ý tới bức thư này.
Đây là khoảng thời gian lạ lùng của chúng ta... và có quá nhiều thay đổi đang
diễn ra...

Mimi chú ý thấy Forsyth Llewellyn đã bước vào căn phòng, cả ba người họ
ngừng nói chuyện. Ngài thượng nghị sĩ trông đặc biệt cường tráng và thậm chí có
phần phô trương hơn bình thường, dù những chuyện xảy ra với gia đình ông ta mới
xảy ra cách đây không lâu. Ông ta thấy ba người bọn họ trao đổi với nhau và tới
ngồi kế bên Ambrose.

- Xin chào, xin chào – ông ta chào Mimi khi Ambrose gấp nhanh lá thư
nhét lại vào túi mình.

- Xin chào, Forsyth. Tôi chỉ vừa mới nói chuyện với Madeleine là tôi vẫn
không hiểu tại sao chúng ta lại phải làm việc này quá sớm như thế - Minerva nói
– Charles chắc chắn sẽ trở lại và được tôn làm Regis chừng nào ông ấy vẫn còn sống.
Tôi không thích chuyện này. Sau những gì xảy ra ở Paris, tôi thấy chúng ta đã hấp
tấp quá.

- Minerva thân mến, tôi rất hiểu sự lo lắng của bà, nhưng điều mà tôi
lo lắng là sau những gì xảy ra ở Paris, thời gian bây giờ là điều cốt yếu.
Chúng ta không thể lãng phí thời gian như trước nữa – Forsyth nói.

Minerva càu nhàu, trong khi Mimi giữ khuôn mặt trung lập. Các tờ báo của
Máu Đỏ tràn đầy những câu chuyện đẫm máu về thảm họa ở Paris – không một ma cà
rồng nào bị giết hay tổn thương, nhưng đã có một vài huyết linh bị giẫm đạp
trong cuộc náo loạn. Bị kịch đó đã được quy cho một gánh xiếc Thái Lan hoạt động
trái phép vì đã không thể kiểm soát những con thú của mình, và những vi phạm về
phòng cháy chữa cháy khi quá đông người.

Jack đã kể với Mimi câu chuyện thực sự khi anh quay trở lại đêm hôm
kia, và làm thế nào mà Charles đã chấm dứt những chuyện tồi tệ nhất. Nhưng thậm
chí với những nỗ lực của Charles, Hotel Lambert chỉ vừa kịp thoát khỏi ngọn lửa
thiêu trụi. Người chủ mới đã nổi giận và đe dọa sẽ hủy bỏ giao kèo mua bán,
nhưng đã được xoa dịu bởi Nữ Bá tước, người đã đề nghị đưa cho họ một số món đồ
nội thất cổ miễn phí.

Cặp sinh đôi đã quyết định rằng họ sẽ không chia sẽ những thông tin
liên quan tới cái chết rõ ràng của Charles với Hội Kín. Jack tiếp tục tin rằng
bất chấp những bằng chứng ngược lại, bố của họ vẫn còn sống và Mimi đồng ý rằng
tốt hơn hết là để Ủy ban tiếp tụ tin rằng Charles biến mất một cách có chủ
đích. Tốt nhất là không bắt đầu gây hoảng loạn, gia tộc Máu Xanh đã bực bội đủ
rồi.

Seymour Corrigan bước vào phòng, gửi một ánh nhìn xin lỗi vì sự chậm trễ
của mình. Tất cả bọn họ đều đã được giải thích. Bảy người có trách nhiệm đại diện
cho bảy gia đình đầu tiên, đúng như truyền thống đã có.

Người điều khiển cuộc đấu giá – một người đàn ông tronng điềm đạm mặc
chiếc áo cộc tay màu xanh da trời và đeo cà vạt đỏ - bước lên bục.

- Xin chào mừng các quý ông và quý bà tới buổi bán đấu giá các tác phẩm
nghệ thuật đương đại và trường phái ấn tượng – ông ta nói. Khán giả lịch sự vỗ
tay, tấm màn chiếu phía sau ông ta hiện ra một bức chân dung của Kurrt Cobain,
bất hủ tràn đầy sức sống và những trang sức màu mè. Mimi nghĩ nó giống như những
bức tranh trong một cuốn kinh cầu nguyện. Ca sĩ hát rock Grunge như thánh – Trước
tiên... một tác phẩm của Elizabeth Peyton. Giá khởi điểm là năm trăm ngàn đô
la.

Khi chiếc búa hạ xuống, cuộc họp của Hội Kín bắt đầu một cách nghiêm
túc.

Chương Ba Mươi Bảy

Schuyler

Họ đang ở Sydney khi nó xảy ra. Ngay giữa trung tâm khu phố Tàu, trong
một cửa hàng dược phẩm nhỏ, nơi bán loại trà xanh tự nhiên mà Schuyler thích uống
vào mỗi buổi sáng. Cơn run rẩy bắt đầu ở chân cô, rồi đến hai tay, sau đó thì cả
cơ thể cô co giật khiến cô ngã xuống sàn, thả rơi chiếc hộp mà cô đang giữ trên
tay vì đau quằn quại và đổ gục xuống sàn nhà lót vải sơn lạnh giá.

- Lùi lại đi... ổn thôi mà... cô ấy... Cô ấy bị động kinh! – Oliver
nói, đẩy mọi người dãn ra – Chỉ cần cho cô ấy không gian để thở! Làm ơn! Nó sẽ
qua mau.

Thật lạ lùng khi Schuyler không thể kiểm soát được cơ thể của mình, thấy
rằng nó đang nổi loạn chống lại mong muốn của cô, dường như nó bị chiếm đoạt bởi
một linh hồn xấu xa vậy. Cô cảm thấy như thể cô đang quan sát chính mình từ một
khoảng cách xa... như thể chuyện này không phải đang xảy ra với cô, mà với một
cô gái nào đó khác, người đang nằm trên đất trong khi chân tay cử động giật cục,
miệng thì sùi bọt mép.

- Xin lỗi, tôi xin lỗi – cô thì thầm khi cơn co giật cuối cùng cũng dừng
lại.

Dù các bộ phận trên cơ thể không còn chuyển động nữa thì trái tim cô vẫn
đập tới cả dặm một phút.

- Ổn mà. Cậu ổn mà – Oliver nói, nhẹ nhàng giúp cô dựa vào vai cậu đứng
dậy.

- Đây... nước đây – người bán hàng nói, đưa một chiếc cốc giấy tới môi
cô.

Schuyler vui mừng vì nhận thấy ánh mắt tử tế của người đàn ông và các
khách hàng khác. Cô vẫn dựa vào Oliver khi bọn họ bước ra khỏi cửa hàng và tới
trạm dừng xe bus, nơi chuyến xe bus quay trở lại The Rock đang đợi.

- Đây là một chuyện tồi tệ - Oliver nói, khi họ đã mua vé và tìm thấy
chỗ ngồi ở phía sau.

Cậu ấy thật tử tế. Đây có thể là giai đoạn tồi tệ nhất mà cô từng trải
qua. Cơn đau đầu khủng khiếp, sùi bọt mép, và cái cách mà lưỡi cô gần như khiến
cô nghẹt thở... Bác sĩ Pat đã nói gì với cô trong lần khám bệnh cuối cùng của
cô nhỉ? Rằng sức mạnh của ma cà rồng là quà tặng, nhưng trong trường hợp của cô
thì cũng là một gánh nặng. Cơ thể con người của cô đang đối xử với quá trình biến
đổi như một căn bệnh, như một thứ gì đó mà nó muốn tống ra khỏi người cô...

- Cậu chắc là cậu ổn chứ? – Oliver hỏi lại, khi Schuyler cúi về phía
trước với hai tay ôm đầu.

- Tớ ổn – cô nói – Tớ thật sự ổn mà – Đó là điều cuối cùng cô nói trước
khi bất tỉnh.

Quay trở lại khách sạn, cảm thấy đỡ hơn nhiều, Schuyler ngồi trên ban
công nhỏ bên ngoài phòng họ, quấn trong một chiếc khăn tắm. Bên trong khu bếp
nhỏ xíu, Oliver đang hoàn thành những bước cuối cùng với món cà ri của mình. Cậu
mang ra một bát nóng hổi và đặt trước mặt cô cùng với một chiếc thìa. Cả hai
người đã tự nấu nướng trong thời gian trốn chạy. Sở trường cuả Oliver là món cà
ri gà và chuối Ấn Độ, trong khi Schuyler thích món kết hợp thú vị với mì ống và
bất cứ thứ gì cô có thể tìm thấy trong tủ lạnh. (Đôi khi Oliver nhận xét rằng
chúng thật quá sức thú vị).

- Cảm ơn – cô nói, vui vẻ cảm nhận hơi ấm của bát cà ri vàng với cơm.
Cô múc một thìa đầy đưa lên miệng và thổi phù phù trước khi ăn, để nó không làm
bỏng lưỡi mình.

Ngoài xa, những chiếc thuyền buồm, những con tàu du lịch biển nằm rải
rác trên vịnh Sydney. Đại dương là một màu xanh lá cây, biển sâu thẳm – không
giống như màu mắt của Jack, cô nghĩ và tự ngăn mình lại. Cô sẽ không nghĩ về
anh, hay những gì anh đang làm, hay liệu anh cũng có đang nhớ cô. Cô tập trung
vào món ăn của mình. Oliver quan sát cô qua cánh cửa kính trượt.

Cậu đang mang vẻ mặt đó, cô biết nó có ý nghĩa gì. Cậu bước ra ngoài, đặt
một cốc trà bên cạnh cô, và ngồi xuống một trong những chiếc ghế nhựa.

- Sky, chúng ta cần nói chuyện.

- Tớ biết cậu định nói gì, Ollie, nhưng câu trả lời là không.

Cô nhấp một ngụm trà. Ngạc nhiên vì thậm chí với tất cả những gì đã xảy
ra, Oliver vẫn nhớ mua một hộp trà. Cậu ấy thực sự là một Conduit tốt.

- Sky, cậu đừng vô lí thế.

- Tớ đừng thế sao? Bọn họ sẽ tống chúng ta vào tù, hoặc bất cứ điều gì
mà họ làm với những người như chúng ta – Schuyler nhún vai. Cô biết rõ sự trừng
phạt dành cho tội lẩn trốn công lí của Hội Kín: một ngàn năm trục xuất. Linh hồn
của bạn sẽ bị khóa chặt trong một chiếc hộp. Nhưng nếu như cô không bất tử thì
sao? Bọn họ sẽ làm gì với cô sau đó? Và chuyện gì sẽ xảy ra với Oliver?

- Cậu đã nghe những gì Jack nói rồi mà. Hội Kín bây giờ có những vấn đề
to lớn hơn chuyện của hai chúng ta. Ngoài ra, có thể lần này bọn họ sẽ tin cậu.
Đám cháy ở Hotel Lambert đã đầy tràn trên các báo, và Hội Kín Châu Âu đã kịch
liệt phản đối – họ có những nhân chứng nhìn thấy Leviathan! Bọn họ không thể phủ
nhận điều đó nữa đâu.

- Thậm chí nếu bây giờ bọn họ có tin tớ đi nữa thì họ cũng không bỏ qua
cho những hành động của chúng ta đâu. Cậu biết điều đó rõ hơn tớ mà – Schuyler
chỉ ra.

- Đúng thế, nhưng đó là khi
Charles Force còn là Regis. Chẳng có ai lãnh đạo Hội Kín bây giờ cả. Bọn họ
đang hoảng loạn và vô tổ chức. Tớ nghĩ chúng ta sẽ về nhà an toàn.

- Những con người hoảng loạn
đưa ra những phán quyết tồi tệ nhất – Schuyler cãi – tớ không tin tưởng vào một
tổ chức đưa ra những quyết sách vì sợ hãi. Còn cậu thì sao? Cậu cũng đang là một
kẻ phản bội đấy, cậu biết chứ? Còn bố mẹ cậu thì thế nào? Bọn chúng sẽ theo dõi
họ.

Cho tới nay, gia đình Oliver
vẫn chưa bị đụng tới, ngoại trừ việc mọi động tĩnh của họ bị theo sát bởi các
Venator: nghe trộm điện thoại, theo dõi các tài khoản. Bố mẹ Oliver đã kể với cậu
trong một cuộc điện thoại vệ tinh hiếm hoi giữa họ rằng họ luôn cảm thấy có người
đang theo dõi mình mỗi lần tới Dean và Deluca.

Oliver uống một ngụm trong
lon bia Foster cỡ lớn của mình.

- Tớ nghĩ chúng ta có thể
mua bọn họ.

Schuyler để chiếc cốc đã hết
trà vào cái bát sạch bong của mình.

- Cái gì cơ?

- Trả tiền cho bọn họ. Hội
Kín cần tiền. Bọn họ gần như đã phá sản. Bố mẹ tớ thì có cả tấn. Tớ có thể trả
tiền để mình thoát khỏi vụ này, tớ biết là tớ có thể.

Tại sao cô lại tranh luận chứ?
Oliver đang nói với cô điều mà cô muốn được nghe – rằng họ có thể về nhà, và
bây giờ nó khiến cô lo sợ.

- Tớ không muốn đi.

- Cậu đang nói dối. Cậu muốn
về nhà. Tớ biết điều đó. Và chúng ta sẽ về. Không tranh luận nữa – Oliver quả
quyết – Tớ sẽ đặt vé về nhà cho chúng ta trên chuyến bay tới. Tớ sẽ không nghe
thêm bất cứ điều gì khác nữa.

Oliver không nói chuyện với
cô trong suốt phần còn lại của buổi tối. Cô thấy buồn ngủ với cái cổ đau vì
căng thẳng. Tại sao cô lại bướng bỉnh như thế, cô băn khoăn nghĩ khi cô dần
chìm vào giấc ngủ. Oliver chỉ muốn điều tốt nhất cho cô.

Tại sao con lại bướng bỉnh quá như thế?

Schuyler mở choàng mắt.

Cô đang ở New York, trên chiếc
giường của chính mình. Những trang bìa bạc màu của tạp chí Playbill về Broadway
được dán thành hàng trên tường đều đã màu vàng và cong ở mép.

Mẹ cô đang ngồi bên cạnh giường.
Đây là một giấc mơ. Nhưng không phải là một giấc mơ bình thường. Một giấc mơ về
mẹ của cô. Cô đã không nghĩ nhiều về bà. Thậm chí cô chẳng có thời gian để chào
tạm biệt bà khi họ rời New York vào năm ngoái. Đây là lần đầu tiên cô thấy mẹ
mình kể từ khi Allegra xuất hiện ở Corcovado với một thanh kiếm trên tay.

Allegra nghiêm khắc nhìn Schuyler.

- Cậu ấy đúng đấy, con biết mà. Các Conduit luôn luôn đúng. Con không thể sống theo cách này. Quá
trình biến đổi sẽ giết chết con nếu không được quan tâm và hướng dẫn cẩn thận.
Con không thể mạo hiểm cuộc sống của mình như thế.

- Nhưng con không thể về nhà – Schuyler đáp – Ngay cả khi con muốn thế
thì con cũng không thể.

- Có chứ, con có thể.

- Con không thể! – Schuyler dụi mắt.

- Mẹ biết con sợ những chuyện sẽ xảy ra khi con quay trở lại. Nhưng con
phải đối mặt với nỗi sợ hãi của mình, Schuyler ạ. Nếu con và Abbadon thuộc về
nhau, thì không có điều gì hay bất cứ ai – kể cả cậu ta, hay thậm chí con – có
thể ngăn cản được điều đó.

Mẹ cô nói đúng. Cô không muốn về nhà bởi vì khi đó Jack sẽ ở rất, rất gần.
Jack, người vẫn còn tự do... Jack, người đã hôn cô đầy đam mê... người vẫn còn
có thể thuộc về cô... Nhưng nếu như cô tránh đi, thì cô sẽ khong bị xúi giục phải
gặp anh và phản bội Oliver.

- Con không thể ở bên cạnh một người chỉ bởi vì con không muốn cậu ta
đau khổ. Con còn phải nghĩ tới hạnh phúc của chính mình nữa – Allegra nói.

- Nhưng thậm chí nếu như chúng con ở bên nhau, thì nó cũng sẽ chỉ giết
chết Jack mà thôi – Schuyler nói. Chuyện này đi ngược lại với Luật. Và anh ấy sẽ
giảm bớt...

- Nếu như cậu ta muốn chấp nhận mạo hiểm để ở bên con, con đâu phải là
người bảo cậu ta phải làm gì với cuộc sống của mình chứ? Hãy nhìn mẹ đi. Hãy
nhìn xem mẹ đã mạo hiểm cuộc sống của mình đến mức nào để được ở bên bố con.

- Bố con chết rồi. Mẹ thì đang hôn mê. Con gần như lớn lên như một đứa
trẻ mồ côi – Schuyler để mặc cho cảm giác cay đắng thoát ra theo lời nói. Cô
chưa bao giờ biết tới bố mình – ông đã chết trước khi cô ra đời. Còn Allegra –
thật sự, ai mà có thể có nhiều mối quan hệ tình cảm với một cái xác còn sống,
bây giờ thì vẫn đang ở đó – Nói con nghe xem. Mẹ, nó có đáng không? Liệu có
tình yêu to lớn của mẹ dành cho bố con có xứng đáng để đổi lấy những gì đã xảy
ra với gia đình mẹ không? – Cô không thể ngăn mình không nói ra những điều gây
tổn thương như thế. Nhưng tất cả trào ra sau những năm phải sống một mình.

Cô thực sự yêu mẹ. Nhưng cô không muốn một thiên thần chỉ xuất hiện một
lần trong đời để trao cho cô một thanh kiếm phép thuật nào đó. Schuyler muốn những
ông bố bà mẹ thật sự: những người sẽ ở bên cô khi cô khóc, động viên, khuyến
khích và khiến cô khó chịu – một chút thôi – chỉ bởi vì họ chăm sóc cô quá kĩ.
Cô muốn ai đó bình thường. Giống như mẹ của Oliver. Cô không biết làm thế nào
mà quý bà H.P biết được nơi bọn đang ở, nhưng cứ vài tháng một gói hàng lại được
gửi tới khách sạn của họ, trong đó sẽ có socola, vài đôi tất mới và những thứ
mà thậm chí bản thân họ cũng không biết là mình cần, như đèn pin và pin.

Allegra thở dài.

- Mẹ hiểu sự thất vọng của con về mẹ. Mẹ hi vọng một ngày nào đó con sẽ
hiểu và tha thứ. Mọi hành động đều để lại những kết quả. Đó là sự thật mà đôi
khi mẹ thực sự vô cùng hối tiếc. Nhưng nếu không có bố con thì mẹ sẽ chẳng bao
giờ có được con. Mẹ chỉ bên con một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, nhưng
lúc nào mẹ cũng trân trọng mỗi khoảnh khắc... bên con và bố con. Mẹ sẽ vẫn làm
lại tất cả những điều đó nếu phải làm thế. Đúng vậy đấy. Nó xứng đáng được như
thế.

- Con không tin mẹ - Schuyler nói – Chẳng một ai có đầu óc sáng suốt lại
lựa chọn cuộc sống của mẹ.

- Dù thế nào đi chăng nữa thì cũng hãy về nhà đi, con gái. Mẹ đang chờ
con. Hãy về nhà đi.

Báo cáo nội dung xấu