Gối đầu lên cỏ - Chương 11
Chương 11
Tôi đi loanh quanh thưởng thức khung
trời bảng lảng ở một ngôi làng sơn cước. Trong khi leo những bậc đá lên chùa
Kankaiji, tôi đã làm được mấy câu thơ:
Một, hai, ba
Ngửa mặt
Ðếm sao trời
Thật ra tôi chẳng có việc gì để tìm
gặp hòa thượng ở đây. Mà cũng chẳng định gặp nhà sư để tán gẫu. Chẳng qua là
lúc ra ngoài đi dạo, tôi cứ mặc cho đôi chân ngẫu hứng tự do di chuyển, rồi một
lúc chợt nhận ra mình đang đứng trước con đường làm bằng những bậc đá dẫn lên
chùa. Sau một hồi mân mê cột đá có khắc dòng chữ “Không dùng rượu và các
loại rau có vị cay”, tôi chợt thấy vui vui rồi nhân tiện leo bậc đá lên
chùa.
Trong tác phẩm Tristram
Shandy[1], tác giả có nói rằng cuốn sách này được viết ra nhờ sự thúc đẩy
của thần linh. Câu đầu tiên là do tác giả viết. Nhưng sau đó thì những câu văn
cứ tự tuôn ra khi tâm hồn tác giả hướng về thần thánh. Vì thế, dĩ nhiên là tác
giả không biết được mình sẽ viết cái gì. Người cầm bút đương nhiên là bản thân
tác giả, nhưng nội dung những gì đã viết thì thuộc về thần linh, nên tác giả
không chịu trách nhiệm về nội dung cuốn sách. Với ý nghĩa tương tự, cuộc dạo
chơi của tôi lúc này cũng không thuộc về trách nhiệm của tôi. Chỉ có điều, tâm
hồn tôi không tìm chỗ dựa nơi thần thánh, nên tôi lại càng vô trách nhiệm.
Sterne trốn tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi mọi chuyện cho thần thánh. Còn
kẻ không dựa vào thần thánh là tôi thì chỉ còn cách ném trách nhiệm xuống ao
bùn mà thôi!
[1] Tiểu thuyết của Laurence
Sterne (1713 - 1768), nhà văn Anh.
Nếu leo những bậc đá mà bị mỏi chân
thì tôi đã không leo nữa. Nếu thấy mỏi chân thì tôi đã trở xuống ngay. Nhưng
khi bước qua một bậc tôi lại cảm thấy sảng khoái lạ lùng, cho nên mới leo qua
bậc thứ hai. Ở bậc này thì tôi chợt nảy ra cảm hứng muốn làm thơ. Tôi lặng lẽ
ngắm bóng mình. Cái bóng bị chặn lại và bị chia cắt bởi đường cạnh của bậc đá
thứ ba, tạo nên một cảm giác thật lạ lùng. Vì cảm giác kỳ lạ ấy nên tôi mới
tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời. Những ngôi sao
bé nhỏ đang còn ngái ngủ sau một giấc say sưa đã bắt đầu tỏa sáng lấp lánh.
Thật là một cảnh nên thơ, tôi thầm nghĩ và bước tiếp. Cứ thế, cuối cùng tôi đã
leo hết những bậc thang.
Lên đến nơi rồi, tôi mới chợt nhớ
về một kỷ niệm. Hồi trước, có lần đi Kamakura chơi, tôi có đến tham quan một
ngôi chùa lớn - chùa Engakuji. Khi tôi tham quan quanh khu tháp và cũng đang
chậm rãi leo lên những bậc đá như thế này, thì thấy từ phía sau cánh cổng xuất
hiện một nhà sư áo vàng, để đầu trần. Tôi đang leo lên, còn nhà sư thì đang đi
xuống. Khi đi ngang qua tôi, nhà sư hỏi bằng một chất giọng đanh sắc: “Thí chủ
đi đâu vậy?”. Tôi dừng chân và trả lời rằng mình đang định tham quan bên trong
khu tháp. Nhà sư nói ngay lập tức, như thể muốn gạt đi: “Chẳng có gì bên trong
cả!”. Rồi nhà sư cắm cúi đi thẳng xuống. Quá sửng sốt trước câu nói của nhà sư
nên tôi cứ đứng trơ tại chỗ. Rồi tôi quay nhìn nhà sư đang tiếp tục đi xuống
dốc, cái đầu để trần cứ lắc qua lắc lại, cho đến khi khuất hẳn vào đám cây
tuyết tùng. Nhà sư không một lần ngoảnh lại. Quả thật Thiền sư là những người
hết sức lạ lùng! Họ luôn có cách phản ứng hết sức nhanh lẹ. Tôi thầm nghĩ và
lững thững bước qua cánh cổng. Nhìn quanh thì thấy cả chánh điện lẫn khu nhà ở
phía dưới đều rộng lớn nhưng vắng tanh, không một bóng người. Lúc đó tự nhiên
tôi nghe dâng lên trong lòng một niềm vui kỳ lạ. Ðầu óc bỗng nhiên sáng láng
khi chợt nhận ra trên đời lại có người nói năng bộc trực, cung cách thẳng thắn
đến mức ấy! Niềm vui trong tôi không phải là do hiểu được ý nghĩa Thiền. Thật
ra lúc đó tôi chẳng hề có chút ý niệm nào về Thiền cả. Ðó chẳng qua chỉ là niềm
vui được gợi lên nhờ vị sư để đầu trần tôi mới gặp mà thôi.
Trên đời nhan nhản những kiểu người
không ra gì. Cố chấp, độc địa, huênh hoang khoác lác hay tủn mủn keo kiệt. Ðến
nỗi người ta không hiểu được họ có mặt ở trên đời để làm gì nữa. Nhưng số người
như thế lại đông kinh khủng! Và họ cảm thấy vô cùng vinh dự khi hiện diện trong
cõi phù sinh. Năm này qua năm khác họ say sưa với việc xét nét, tò mò đời sống
riêng tư của người khác, và lấy chuyện đó làm lẽ sống của mình. Rồi họ đến
trước mặt người ta, dạy bảo những điều vớ vẩn hay thô thiển mà chẳng ai cần
nghe cả. Nếu mà họ nói ngay trước mặt thì người ta còn có thể chú ý đến những
gì họ nói. Nhưng họ còn nói đủ thứ sau lưng người khác, rằng anh ta đã làm
những việc gì, làm bao nhiêu lần trong năm năm hay mười năm. Nếu bảo họ lắm
chuyện thì họ lại càng nói nhiều hơn nữa. Nếu bảo thôi đi thì họ vẫn cứ nói
liên hồi. Bảo hiểu rồi thì họ vẫn không thôi lải nhải. Rồi họ lại khoác lác
rằng đó là phương châm xử thế ở đời. Phương châm thì mỗi người mỗi khác. Nếu mà
họ thôi cái trò lải nhải những chuyện dòm ngó thiên hạ, rồi im lặng mà tìm một
phương châm sống đàng hoàng thì tốt biết bao. Lễ độ tức là biết kiềm chế cách
hành xử của bản thân mình để tránh làm phiền người khác. Còn nếu cho rằng làm
phiền người khác mới là thể hiện phương châm sống, thì hóa ra chuyện người ta
đánh rắm cũng là phương châm sống hay sao? Nếu thế thì chắc là nước Nhật đã hết
thuốc chữa rồi!
Ði tản bộ trong một đêm xuân đẹp
trời như thế này mà chẳng cần quan tâm đến kiểu phương châm nào cả mới đúng là
sự thanh thản ở đời. Cứ để cho niềm vui tự nhiên đến với ta, rồi cũng để cho
niềm vui tự nhiên biến mất. Ðó mới là phương châm vậy. Nếu những vần thơ chợt
đến, thì việc nắm bắt tứ thơ cũng chính là lẽ sống của ta trong lúc đó. Nhưng
nếu không bắt gặp tứ thơ nào thì điều đó cũng là lẽ sống của ta. Và ta chẳng
gây phiền toái cho ai cả. Ðó mới là lẽ sống đích thực. Tò mò chuyện thiên hạ là
công kích người khác. Ðánh rắm là một cách tự bảo vệ chính mình. Còn đi tản bộ
đến chùa Kankaiji như thế này là thể hiện lẽ sống “hành xử tùy duyên” vậy.
Sau khi đã làm được mấy câu thơ và
leo hết những bậc đá dẫn lên chùa, tôi nhìn thấy biển mùa xuân lờ mờ bên dưới
giống như một dải khăn. Tôi bước vào cổng ngôi chùa. Và quên mất chuyện hoàn
tất bài thơ đang làm dở. Vậy phương châm hiện thời là bỏ dở việc làm thơ.
Con đường lát đá phía bên phải dẫn
đến nhà ăn chạy dọc theo một bờ rào hoa đỗ quyên. Bên kia rào hình như là khu
nghĩa trang thì phải. Còn phía bên trái là chánh điện của ngôi chùa. Ở phần
chóp cao của mái ngói lấp lánh sáng. Tôi ngước nhìn và nhận ra vô số vầng trăng
in vào vô số viên ngói trên mái chùa. Ðâu đó có tiếng chim bồ câu gù khe khẽ.
Hình như phía dưới mái ngói có tổ chim bồ câu. Chẳng biết có đúng không, nhưng
tôi nhìn thấy có vẻ như ở chỗ mái chìa bên dưới đầu hồi có những vệt trắng rải
rác, hình như là phân chim.
Ở chỗ mép mái chìa có những vật gì
hình dáng hơi kỳ lạ xếp thành một dãy. Tất nhiên không phải là cỏ mọc, mà cũng
chẳng phải cây. Nói theo tranh vẽ của Iwasa Matabee[2] thì đó là hình dáng
những con quỷ đã thôi niệm Phật và đang nhảy múa. Ðiệu múa trải dài từ đầu mái
bên này sang đầu mái bên kia của khu chánh điện, giống như một cảnh tượng hành
lễ. Những bóng hình thể hiện điệu múa cũng xếp ngay ngắn thành một hàng dài từ
đầu mái bên này sang đầu mái bên kia. Như thể ánh trăng mờ ảo đã quyến rũ những
con quỷ này bỏ cả chuông, cả mõ, cả sổ ghi công đức cúng dường để tập hợp lại,
rồi rủ nhau lên chỗ ngôi chùa trên núi này để mà nhảy múa.
[2] Iwasa Matabee (1578 - 1650)
là một họa sĩ Nhật Bản thời Edo.
Khi nhìn gần lại tôi mới nhận ra đó
là những nhánh xương rồng lớn, cao chừng hơn hai mét. Trông chúng giống như
những quả dưa chuột màu xanh to bằng quả mướp bị ép dẹt ra như một cái thìa xúc
cơm đang dựng ngược lên trời với phần tay cầm chúc xuống. Không biết là bao
nhiêu cái thìa chắp lại mới bằng được chiều cao như thế này. Như thể chỉ trong
vòng đêm nay đám xương rồng sẽ đâm xuyên qua mái chìa và leo lên lớp ngói bên
trên. Có thể là ban đầu có những chiếc thìa xanh bất ngờ từ đâu bay đến mọc ngay
vào vị trí này. Và thật lạ lùng khi những chiếc thìa cũ lại sinh ra những chiếc
thìa mới con con, rồi những chiếc thìa mới cứ lớn dần lên qua năm tháng. Sự nối
tiếp như thế thật là kỳ lạ. Sao lại có loại cây buồn cười như vậy nhỉ? Mà cũng
rất vô chấp nữa. Một nhà sư khi được hỏi “Như thế nào là Phật tính?” đã trả lời
“Cây sồi ở ngoài sân”. Còn nếu được hỏi như thế thì tôi sẽ trả lời ngay mà
không cần đến một giây suy nghĩ: “Xương rồng dưới ánh trăng”.
Hồi còn nhỏ, tôi đã đọc truyện du
ký của Cho Hoshi[3], có những câu bây giờ vẫn thuộc:
“Tháng chín. Bầu trời cao vợi,
sương trong, núi quang mây và trăng sáng. Ngẩng nhìn trời đêm thì thấy những vì
sao rất lớn đang lấp lánh, giống như ở gần ngay trên đầu. Ngoài cửa sổ là bụi
tre, thân cứ cọ vào nhau kêu kẽo kẹt. Bên kia bụi tre, mận và cọ mọc rậm rạp
trông như mái tóc bù xù của một mụ phù thủy. Hai ba người chúng tôi cứ nhìn
nhau, bồn chồn không ngủ được. Trời vừa rạng sáng là chúng tôi đã ra đi.”
[3] Triều Bổ Chi (1053 - 1110)
là một văn hào Trung Quốc thời Bắc Tống.
Tôi đọc lại đoạn văn trên và bất
giác mỉm cười. Nếu vận vào thời gian và khung cảnh lúc này, thì khi vừa nhìn
thấy những nhánh xương rồng tôi đã hoảng hồn và vội vàng quay xuống núi! Tôi
thử sờ vào những chiếc gai nhọn và nghe cảm giác hơi nhoi nhói ở đầu ngón tay.
Ði hết con đường lát đá rồi rẽ trái
thì đến nhà ăn. Trước khu nhà ăn có một cây mộc lan. Gốc cây to gần bằng vòng
tay một người ôm. Ngọn cây cao hơn cả nóc nhà. Tôi ngước nhìn lên thì thấy cành
cây ken dày phía trên đầu, tầng này chồng lên tầng khác. Và trên cả những cành
cây chằng chịt là vầng trăng đang tỏa sáng. Thường thì nhìn từ dưới gốc cây sẽ
không thấy được bầu trời qua đám lá cành rậm rạp. Nếu là cây có hoa thì lại
càng vướng mắt hơn. Nhưng cây mộc lan thì dù có bao nhiêu lớp cành đi nữa vẫn
có những khoảng trống nhìn xuyên qua được. Mộc lan không phải là loại cây cố
tình làm rối mắt những ai ngước nhìn từ dưới gốc bằng những cành nhánh mảnh dẻ
đan chi chít vào nhau. Những bông hoa trên cây cũng rất dễ nhìn. Tuy rằng
khoảng cách khá xa nhưng tôi vẫn có thể nhìn rõ từng bông một. Tôi không biết
hoa trên cây nhiều đến mức độ nào, cũng không biết là hoa đang nở đến đâu,
nhưng có thể thấy rõ từng bông hoa riêng biệt, và cũng thấy rất rõ màu trời
xanh nhạt ló ra qua khoảng hở giữa các bông hoa. Dĩ nhiên hoa không phải thuần
một màu trắng xóa. Trắng quá mức thì lại có vẻ gì lạnh lẽo. Và có thể làm ta bị
lóa mắt khi nhìn. Màu của hoa mộc lan thì khác. Loài hoa này cố ý pha vào một
chút ấp áp của màu kem, như thể muốn giảm bớt sắc độ của màu trắng và gợi lên
cảm giác nhẹ nhàng. Tôi chìm trong cảm giác mơ màng một lúc lâu, cứ đứng trên
con đường lát đá ngước nhìn lớp lớp những bông hoa dịu dàng vươn thẳng lên bầu
trời xa thẳm. Trước mắt tôi chỉ toàn hoa là hoa. Không có lấy một chiếc lá trên
cành.
Chợt nảy ra tứ thơ:
Ngước nhìn lên
Hoa mộc lan
Rợp trời
Ðâu đó lại vang lên tiếng chim bồ
câu gù khe khẽ.
Tôi bước vào nhà ăn. Cửa mở toang.
Dường như ở đây không bao giờ có trộm. Và cũng chẳng bao giờ nghe tiếng chó
sủa.
- Có ai ở nhà không?
Tôi cất tiếng. Không thấy ai trả
lời.
- Cho hỏi thăm một chút.
Tôi gọi lần nữa. Vẫn chỉ nghe tiếng
chim bồ câu đang gù. Tôi cố gọi to hơn:
- Cho hỏi thăm một chút.
- Vâ...âng.
Có tiếng trả lời từ xa vọng lại.
Tôi chưa từng được đáp lời kiểu này khi đến nhà ai đó.
Có tiếng chân bước dọc hành lang,
rồi ánh nến lập lòe ở bên kia vách. Rồi một chú tiểu bất ngờ hiện ra. Ðó là chú
Ryonen.
- Sư thầy có nhà không?
- Có ạ. Anh cần hỏi gì chăng?
- Nhờ chú nhắn lại rằng, có anh họa
sĩ ở chỗ suối nước nóng đến thăm.
- Họa sĩ à? Vậy mời anh vào trong
đi ạ.
- Không cần hỏi trước sao?
- Không sao đâu ạ.
Tôi cởi giày bước lên thềm.
- Anh có vẻ là một họa sĩ hơi tồi
đấy nhỉ!
- Sao cơ?
- Anh để giày lại cho ngay ngắn đi
nào! Nhìn xem!
Chú tiểu nói và soi nến lại gần. Ở
giữa cây cột màu đen ngay cửa ra vào, cách mặt đất chừng hơn một mét có dán một
mảnh giấy bằng một phần tư tấm giấy viết thư pháp, trên có viết mấy chữ “Hãy
sắp xếp gọn gàng”.
- Anh nhìn xem. Ở đây có viết “Hãy
sắp xếp gọn gàng” mà! Ý nói là phải xem lại dưới chân cho tươm tất đấy.
- Vậy sao?
Tôi bèn xếp lại đôi giày cho ngay
ngắn.
Phòng của hòa thượng nằm cạnh khu
chánh điện, bên kia góc phải của dãy hành lang. Ryonen kính cẩn mở tấm cửa
trượt, rồi cũng với dáng vẻ kính cẩn bước qua tấm đệm, quỳ xuống, cúi đầu:
- Bạch thầy, có anh họa sĩ ở chỗ
nhà Shihoda đến ạ!
Chú nói một cách hết sức lễ phép,
đến mức khiến tôi cảm thấy hơi buồn cười.
- Thế à? Bảo anh ta vào đi.
Và tôi bước vào phòng, thay vào vị
trí của Ryonen. Phòng rất hẹp. Ở giữa có bếp lò. Trên lò là một chiếc ấm làm
bằng sắt đang reo khe khẽ. Hòa thượng đang ngồi phía bên kia cái lò, đọc một
cuốn sách đang cầm trên tay.
- Anh vào đi!
Hòa thượng nói rồi gỡ kính và đặt
quyển sách xuống bên cạnh.
- Ryonen. Ryo...nen!
- Vâ...âng!
- Lấy một cái đệm ngồi cho khách.
- Vâ...âng! - Ryonen đáp lời từ
đằng xa.
- Rất vui được gặp anh ở đây. Ði
sang đây có mệt không?
- Thấy trăng đẹp quá nên tôi đi dạo
loanh quanh thôi mà.
- Ừ, trăng đẹp thật!
Hòa thượng nói và mở cánh cửa
trượt. Chẳng nhìn thấy gì ngoài hai bậc đá và một cây thông. Ngay bên kia khu
vườn bằng phẳng là vách đá. Rồi kế tiếp là mặt biển trải rộng ra dưới ánh
trăng. Phong cảnh trước mắt làm tôi bất chợt thấy khoan khoái hẳn. Những ánh
đèn câu thấp thoáng trên mặt biển, như muốn hòa lẫn vào những vì sao tận cuối trời
xa.
- Cảnh đẹp quá! Thầy không thấy
tiếc khi đóng cửa thế này sao?
- Ðúng thế thật. Nhưng cảnh này tôi
vẫn nhìn thấy mỗi đêm mà.
- Phong cảnh như thế này thì có
nhìn bao nhiêu đêm cũng không chán mắt. Tôi mà ở đây thì chắc mải nhìn đến quên
cả ngủ!
Hòa thượng bật cười:
- Thì anh là họa sĩ kia mà. Phải
khác tôi một chút chứ.
- Chỉ cần biết thưởng thức cảnh đẹp
thì thầy cũng là họa sĩ rồi đấy ạ!
- Có lẽ đúng thế thật. Tôi cũng vẽ
được hình Bồ Tát đấy. Anh nhìn bức tranh treo trên vách kia kìa! Ðó là bức tranh
cuộn có từ bao đời trước. Cũng khá đẹp phải không?
Ðúng là có một bức tranh vẽ Bồ Tát
treo ở góc phòng. Một bức tranh chẳng có tính nghệ thuật chút nào. Nó chỉ không
thô thiển vì không có tục ý. Người vẽ tranh chẳng thể hiện chút nỗ lực nào để
tạo ra tác phẩm. Ðây quả là một bức vẽ trong sáng. Bậc tiền bối đã vẽ bức tranh
này chắc hẳn cũng là người chân thật như những gì thể hiện trên tranh.
- Bức họa trong trẻo thật!
- Loại tranh này chỉ cần có thế.
Chỉ cần thể hiện được khí chất của người vẽ tranh thôi...
- Như thế hay hơn loại tranh đẹp
nhưng thiếu sự thanh thoát.
Hòa thượng bật cười:
- Tôi cho rằng đó cũng là một lời
khen đấy! Mà dạo này trong giới hội họa có danh vị nào gọi là “tiến sĩ” không?
- Không có tiến sĩ về hội họa đâu
ạ!
- Ồ, thế à? Hôm trước tôi mới gặp
một người là tiến sĩ gì gì đó...
- Thế ạ?
- Tôi nghĩ rằng tiến sĩ là một cái
gì hơi đáng nể, phải không?
- Vâng. Ðáng nể chứ ạ.
- Vì vậy tôi cứ tưởng rằng trong
hội họa cũng có tiến sĩ chứ. Mà sao lại không có nhỉ?
- Nếu nói vậy thì trong hàng ngũ
tăng sinh cũng phải có tiến sĩ sao?
Hòa thượng lại cười:
- Ừ, đúng thế thật!...Mà anh ta tên
là gì nhỉ? Cái người tôi gặp hôm nọ ấy mà... Tôi nhớ là mình có danh thiếp của
anh ta ở đâu đây...
- Thầy gặp ở đâu ạ? Ở Tokyo chăng?
- Không, ở đây chứ. Khoảng hai mươi
năm nay tôi chưa hề đặt chân đến Tokyo. Dạo gần đây nghe nói có cái gọi là “xe
điện”, tôi cũng muốn đi thử một lần xem sao.
- Chẳng có gì hay ho đâu ạ. Ồn ào
lắm!
- Vậy sao? Người ta thường nói: “Chó
quen sương mù thì sủa mặt trời, bò xứ nóng thì vật vờ dưới bóng trăng”.
Những kẻ quê mùa như tôi chắc sẽ thấy khó chịu với cái loại xe điện ấy.
- Khó chịu thật mà! Nói chung là
chán ngắt!
- Thật sao?
Nước trong ấm đặt trên lò tỏa hơi
nghi ngút. Hòa thượng lấy ấm chén để trong tủ, pha trà mời tôi.
- Anh dùng một cốc trà nhé. Nhưng
không phải loại trà ngon như ở nhà ngài cư sĩ Shihoda đâu.
- Không sao đâu ạ.
- Hình như anh cũng thường đi đây
đó phải không? Ði để vẽ tranh à?
- Vâng. Tôi thường mang dụng cụ
theo, nhưng có vẽ được tranh hay không thì cũng chẳng có gì quan trọng.
- À... vậy phần nào chỉ là đi chơi
thôi nhỉ?
- Vâng ạ. Nói thế cũng không sai.
Chẳng qua là tôi muốn tránh sự soi mói của người đời thôi mà.
Có lẽ hòa thượng cũng không hiểu
được ý tôi muốn nói gì.
- Soi mói thế nào kia?
- Nếu sống một thời gian dài ở
Tokyo, thầy sẽ hiểu thế nào là soi mói.
- Sao lại thế?
Tôi phì cười:
- Nếu chỉ là soi mói không thôi thì
còn chịu được. Nhưng họ còn đem cái xấu của mình ra phân tích nữa kia. Họ toàn
nói những điều vô bổ, như cái kiểu miêu tả mông người khác có hình tam giác hay
là hình vuông vậy!
- À, anh nói về vấn đề vệ sinh phải
không?
- Không phải chuyện vệ sinh. Ý tôi
muốn nói đến thói tọc mạch chuyện thiên hạ ấy!
- Tọc mạch à? Vậy là chuyện về đám
cảnh sát phải không? Thật ra thì cảnh sát có làm nên trò trống gì đâu nhỉ?
Chúng ta đâu cần đến một đám người như thế!
- Ðúng vậy. Giới họa sĩ thì lại
càng không cần đến.
- Tôi cũng chẳng cần đâu. Tôi chẳng
có việc gì cần phải phiền đến chuyện điều tra cả!
- Tôi cũng nghĩ vậy.
- Nhưng mà đám cảnh sát có tọc mạch
đến đâu thì cũng chẳng hề gì. Miễn là tâm hồn mình trong sáng. Nếu ta chẳng làm
điều gì xấu thì sự tồn tại của cảnh sát cũng chẳng ý nghĩa gì.
- Nhưng bị soi mói về con người cá
nhân thì thật là kinh khủng!
- Hồi còn là một tiểu tăng, tôi đã
được sư phụ dạy rằng: nếu không có can đảm của một người dám phơi bày gan ruột
giữa đường phố đông người thì không thể tiến bộ trong tu học. Anh cũng nên học
hỏi theo cách đó. Và sẽ thấy chẳng cần phải tìm đến nơi này nơi khác nữa.
- Nếu đã là một họa sĩ thực thụ thì
lúc nào tôi cũng có thể làm như thế.
- Vậy thì anh nên trở thành một họa
sĩ thực thụ đi.
- Nếu cứ bị soi mói mãi thì làm sao
mà trở thành như thế được.
- A ha! Tôi nói anh nghe điều này
nhé! Cô Nami ở nhà Shihoda mà anh đang trọ ấy, sau khi bỏ nhà chồng trở về đây
thì bị rắc rối phiền não đủ điều. Nhưng từ khi cô ấy đến chỗ tôi học pháp thì
mọi thứ đã bình ổn trở lại, như anh thấy đấy. Cô ấy là kiểu người thông minh và
nhạy cảm.
- Vâng, tôi cũng thấy là cô ấy
không giống như những người bình thường khác.
- Ồ, cô ấy ghê gớm lắm!... Có một
tăng sinh trẻ tên là Taian cũng đến đây tu học đã từng gặp chuyện rắc rối to
với cô ấy đấy... Có lẽ chuyện đó cũng là một bài học bổ ích để chú ấy ngộ ra
được nhiều điều.
Những cây thông ngả bóng lặng im
trong khu vườn thanh vắng. Mặt biển lấp lánh sáng, thoáng ẩn thoáng hiện ở đằng
xa, như muốn đáp lại ánh sáng của những vì sao trên trời nhưng vẫn còn e ngại.
Ánh đèn câu chợt lóe rồi chợt tắt.
- Nhìn những bóng thông kìa!
- Ðẹp quá phải không?
- Chỉ là đẹp thôi sao?
- Vâng ạ.
- Còn hơn cả đẹp. Chúng không suy
suyển gì trước những cơn gió thổi qua.
Tôi uống nốt chén trà, úp cái cốc
lên khay rồi đứng dậy.
- Ðể tôi đưa anh ra cổng.
Ryoooonen! Tiễn khách về này!
Chúng tôi bước ra ngoài. Khi qua
khỏi khu nhà ăn, tôi lại nghe tiếng chim bồ câu gù gù đâu đó.
- Chẳng có gì đáng yêu hơn những
chú bồ câu. Ta chỉ cần vỗ tay là chúng bay đến ngay. Ðể tôi gọi thử cho anh xem
nhé.
Trăng vẫn sáng vằng vặc. Cây mộc
lan vẫn đứng trang nghiêm, đám mây hoa trên mớ cành chằng chịt vẫn vươn cao đến
tận vòm trời. Tiếng hòa thượng vỗ tay vang lên giữa đêm xuân thanh vắng, rồi
chìm đi trong gió lộng. Chẳng có con bồ câu nào bay xuống cả!
- Sao chúng không bay xuống nhỉ?
Tôi cứ nghĩ là thế nào chúng cũng bay xuống chứ!
Chú Ryonen nhìn tôi, thoáng mỉm
cười. Dường như hòa thượng không để ý rằng mắt bồ câu không nhìn thấy trong
đêm. Ðúng là vô tư thật!
Tôi chia tay hai thầy trò ở cổng
chùa. Khi ngoái đầu nhìn lại, tôi thấy hai người, một bóng tròn nhỏ và một bóng
tròn lớn, đang quay lại theo con đường lát đá, rồi lần lượt khuất dần về phía
nhà ăn.

