16. Ơn Đời Biển Rộng (Nguyễn Sĩ Minh)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
Ơn Đời Biển Rộng
Nguyễn Sĩ Minh
Tôi choàng mình thức giấc. Năm
giờ sáng, ngày 19 tháng 10 năm 1979. Căn phòng nhỏ vẫn còn tối mịt. Như cái tối
tăm mù mịt đã theo tôi suốt bốn năm dài đại học. Những sách vở nặng tính giáo
điều đến ngô nghê. Những đêm nội trú ngủ trong lời nhồi sọ chính trị từ loa
phóng thanh. Những hôm bị gọi lên phòng Tổ Chức vì bị tố “không vững lập trường
giai cấp”. Và còn nhiều nữa...
Tôi đã đè nén bao căm hờn, để
chuyển thành sinh lực. Học cho bằng được ngành cơ khí. Lắp đặt và sửa chữa bằng
được máy tàu. Tôi đã nhìn vào biển rộng, và thề sẽ tạo dựng một cuộc đời mới.
Tự do hay là chết.
Đã mấy lần vượt biển không
thành. Bị bắt, và bị kỷ luật tại trường. Hôm nay có lẽ là lần vượt biển cuối
cùng, vì dấu tích đã quá nhiều trong sổ bìa đen. Nghĩ đến những điều xấu nhất
có thể xảy ra, miên man nhớ đến những người thân yêu tôi sắp rời xa trong
chuyến hải trình đơn độc, tôi trầm ngâm sắp xếp chuyện phải làm, rồi ứa nước
mắt cương quyết đứng lên. Ngày đầu cho cuộc vượt biển đã điểm.
Xếp vội một bộ quần áo, vài
gói thuốc lá, vài viên thuốc cần thiết vào một ba lô rất nhỏ, tôi từ giã gia
đình, ngồi ghế sau xe gắn máy của ba tôi, để trực chỉ về Hàng Xanh, Thị Nghè.
Những xe lam, xe đò chở khách về miền duyên hải đã chờ sẵn. Tôi bước vào quán
điểm tâm, gặp gia đình người chú, và một người hướng dẫn vượt biển.
Mười giờ xe lam bắt đầu
chuyển bánh đi Vũng Tàu, xa dần bàn tay vẫy vẫy của ba tôi, xa dần Thị Nghè nơi
ấp ủ bao năm tháng mối tình thơ mộng của một thời sinh viên. Chuyện tình thủa
nọ bắt đầu bằng tia mắt trao nhau trong chân lấm tay bùn một ngày chủ nhật “lao
động Xã hội Chủ nghĩa”, rời bao buổi tối đèn sách bên nhau, bao cuối tuần hẹn
hò. Những dịu êm đến day dứt mở lại từ ký ức, theo cảnh bên đường hiện đến, rồi
lùi vội về phía sau. Trùng trùng điệp điệp.
Đến trưa, xe đi ngang một
làng nhỏ trong tỉnh Bà Rịa. Người hướng dẫn vượt biên ra dấu xuống xe. Bảy
người bước theo, đi hàng một, giữ khoảng cách năm mét, cúi đầu để tránh tia
nhìn của người địa phương, và không một lời nói chuyện. Ba bốn căn nhà lá đã
sẵn sàng đón toán vượt biên. Tôi gia nhập vào một nhóm mười sáu người nằm ngồi
la liệt trong một gian nhà. Mọi cửa được đóng kín. Trong bóng tối lờ mờ, người
ta nhìn thoáng nhau trầm ngâm, yên lặng chờ đợi một bước ngoặt của cuộc đời.
Thỉnh thoảng cơm nước được đem đến. Những miếng nuốt vội, và những giờ chờ đợi
dài dằng dặc.
Đến mười giờ đêm, người hướng
dẫn bước nhẹ vào nhà, gọi khẽ:
- Đến giờ ra ghe rồi. Mọi
người chạy hàng một. Đêm nay không trăng, tối lắm. Người sau nắm lưng áo người
trước mà đi. Tuyệt đối im lặng nghe bà con. Công an đồn này dữ lắm đó. Chúng đã
bắt nhiều người, và đôi khi bắn nữa. Bắt đầu đi thôi.
Người sau nắm áo người trước,
tạo thành ba con rắn dài ngoằng, quằn quại thoăn thoắt xuyên qua những đồng cỏ
và bùn lầy mênh mông, tiến về bờ sông. Một thằng em họ bảy tuổi nắm chặt áo tôi
để chạy đằng sau. Thỉnh thoảng tôi lại gọi:
- Bình! Còn chạy nổi không
em?
Bỗng dưng, tôi không nghe nó
trả lời nữa. Quay lại thì một người khác đang nắm áo tôi. Rời hàng, tôi tất tả
chạy ngược lại tìm nó. Hàng vẫn tiếp tục chạy về phía trước. Tôi điếng người
quờ quạng tìm trong im lặng, không dám gọi lớn. Hàng mỗi lúc một cách xa.
May quá, tôi nhìn thấy Bình
đang lồm cồm bò lên từ một cái hố. Trời tối như mực. Không nhìn thấy đoàn đâu
nữa. Tôi kéo tay Bình cắm đầu chạy trối chết, đuổi theo tiếng thình thịch xa xa
phía trước. Khi bắt kịp đoàn, thì đã đến bờ sông. Khoảng mười ghe nhỏ đang chờ
sẵn. Người hướng dẫn hối:
- Lên ghe nhanh lên. Hình như
bị lộ rồi. Hồi nãy bà con chạy mạnh chân quá. Nhanh nhanh giùm bà con ơi. Chết
hết cả đám bây giờ. Năm sáu người một ghe.
Những ghe nhỏ tròng trành dữ
dội, vì chở nặng và hành khách nhảy lên, hối hả rồ máy đuôi tôm, lao mình ra
sông lớn. Văng vẳng từ bờ vọng đến tiếng quát tháo, như của công an tuần tra.
Trong bóng tối dày đặc, một
ngọn đèn bão soi dật dờ con thuyền mẹ, đang chờ ở giữa dòng sông lớn. Đèn pin
nhấp nháy tín hiệu nhận nhau giữa thuyền mẹ và mười ghe con. Đến phiên ghe tôi
cập, thuyền mẹ sừng sững hiện ra, cải biến từ thuyền đánh cá, độ 18x4m. Khoảng
hơn năm mươi người lần lượt lên thuyền. Thuyền trưởng và phó, thợ máy đều còn
rất trẻ. Biết chút ít về cơ khí, tôi bắt đầu phụ anh thợ máy chuẩn bị cho một
cuộc hành trình dài trên biển.
Gần mười hai giờ khuya, khi
dầu và lương thực đã chuyển lên đầy đủ, việc điểm danh hành khách đã xong,
thuyền bắt đầu rẽ nước chạy nhẹ nhàng ra cửa biển. Dọc đường đi, thuyền lại
nhấp nháy đèn ra hiệu để đón thêm ba tốp nữa. Tổng cộng số người là tám mươi
mốt, sau này trở thành một cái tên nhắc nhở đến nhiều trong các tài liệu quốc
tế.
Một ghe khác, làm mồi, tiến
ra, đi trước dò đường. Nếu bị công an chặn, ghe chính đằng sau, sẽ lủi đường
khác chạy trốn. Thuyền đang lướt nhẹ nhàng, bỗng “rộp” thật lớn vang lên. Tài
công chửi thề:
- Thuyền mắc cạn rồi. Ghe
nặng quá mà. Tàu tuần tra qua thì bỏ mạng cả đám.
Từng đợt thanh niên nhảy
xuống cho nhẹ ghe, và cố đẩy ra chỗ sâu. Hì hục cả nửa tiếng mới xong. Mọi
người thở phào nhẹ nhõm. Ghe lại lướt sóng nhanh hơn, cố tiến gần hải phận quốc
tế trước khi trời sáng. Mọi người phải chui rúc dưới khoang tàu để tránh tia
mắt công an và các tàu bè qua lại. Khi ghe vào cửa biển, sóng bắt đầu nhồi
mạnh. Hành khách bắt đầu ói mửa. Đủ thứ mùi cuộn lẫn với khói máy và dầu làm
tôi cũng choáng váng.
Tám giờ sáng ngày 20 tháng
10, tôi bước lên boong thuyền. Sóng biển cao và đen ngòm. Hải phận quốc tế đây
rồi. Tôi hít thật sâu không khí tự do sau hơn bốn năm dài xa cách. Một phấn
chấn tuyệt vời không thể nào quên.
Đến tối thì một trận bão kéo
đến. Gió giật mạnh và sóng cao như những tòa nhà cao tầng dồn dập đổ tới. Con
thuyền mong manh lao đao giữa biển khơi điên cuồng.
Sóng bắt đầu đổ ập vào khoang
ghe, cuốn bay la bàn, và một số lớn thùng uống nước. Tài công bắt đầu đánh hiệu
SOS cầu cứ tàu bè ngoại quốc qua lại. Nhưng họ đều làm ngơ.
Thuyền mấy lần xuýt lật úp.
Biết tiến tới là dấn thân vào cõi chết, tài công quay hướng thuyền trở lại Việt
Nam. Khi thuyền gần đến, gặp tàu sắt đi tuần tra. Công an bắt loa nói gì không
rõ. Khi thuyền đến gần, có thể nhầm với thuyền ngoại quốc đến đánh cá lậu, họ
bắt đầu bắn vào chúng tôi. Thuyền lại một lần nữa quay nhanh ra ngoài khơi. Máy
được rồ hết ga để chạy khỏi đường đạn. Không thể tiến vào trận bão đêm qua,
thuyền hướng về Nam chạy qua Thái Lan.
Chạy được một lúc thì bỏ xa tàu
công an. Máy nóng quá, anh thợ máy tắt đi cho nguội bớt và sửa chữa những hư
hại trong cuộc chạy quá ga vừa rồi. Hai giờ sau, tài công đề máy để tiếp tục
cuộc hành trình. Hỡi ơi, cả hai bình điện bị sóng bão ngập hôm qua, không làm
việc nữa. Thế là thuyền lênh đênh trên biển.
Những chiếc áo được cởi ra để
làm buồm. La bàn đã bị sóng cuốn, phải dùng mặt trời để định hướng. Buồm quá
thô sơ, không điều khiển được. Thuyền tiếp tục lênh đênh, không phương hướng.
Thỉnh thoảng có vài tàu bè qua lại xa xa. Họ vẫn làm ngơ trước tín hiệu cầu
cứu.
Nước uống đã gần cạn, mỗi
người chỉ được thấm môi. Một số người đã phải uống nước tiểu của chính mình,
rồi bắt đầu mê sảng la liệt trên thuyền. Những thanh niên còn sức thì luân
phiên tát nước hai mươi tư giờ một ngày.
Đã hai mươi ngày lênh đênh
trên biển. Hy vọng sống tắt dần. Tiếng cầu Kinh cứ rỗi bắt đầu vang lên. Mọi
người ứa nước mắt tìm chỗ nằm thanh thản trên con thuyền, mong thuyền sẽ trở
thành mộ phần cho cả nhóm.
Tờ mờ sáng ngày 10 tháng 11,
khi mọi người đang chờ chết, thì một tàu đánh cá từ từ tiến đến. Nhiều gười
mừng quá đến khóc ròng. Tàu đánh cá Thái Lan. Sống rồi. Sống thật rồi. Thoát
Cộng Sản rồi. Thoát thật rồi.
Tàu Thái tiếp tế nước uống,
thức ăn, và cho mượn bình điện để đề máy. Máy lại nổ đều. Mọi người tháo nhẫn
vàng, đồng hồ, dây chuyền tặng cho những người Thái đã cứu mình.
Thuyền rẽ sóng nhắm hướng mặt
trời lặn trực chỉ Thái Lan. Ba bốn tàu nữa cặp vào ghe. Bây giờ không phải
những người Thái nhân hậu nữa, mà là hải tặc. Chúng tra khảo tiền bạc, và dùng
kìm bẻ cả răng vàng của các cụ già. Những tiếng thét thất thanh và máu bắt đầu
nhỏ xuống khoang thuyền. Nhiều người muốn chống cự, nhưng sợ bọn Thái sẽ húc tàu
chết cả đoàn, như những chuyện đã từng xảy ra.
Đến hoàng hôn thì nước biển
bắt đầu có rác, ghe đang tiến vào bờ. Cuộc vui chưa chọn vẹn, thì một tàu Thái
không tìm được gì quý giá còn lại, kéo ghe vào đảo hoang xa xôi Koh Kra ở vùng
đông nam Thái Lan, gần Mã Lai. Chúng đuổi đoàn lên đảo, để lấy máy và bánh lái
của ghe. Ngày hôm sau, tàu hải quân và những đất nước tự do đã rộng vòng tay
chào đón thuyền nhân, Cao Ủy Tị Nạn, Hội Y Sĩ Không Biên Giới, Hội Cứu Nguy
Giúp Người Vượt Biển, những người hùng như ông Schweitzer, bà Thanh Thủy, v.v...
Xin tạ ơn người, ơn đời, ơn thuyền và biển rộng.
San Jose, ngày 14 tháng 2 năm 2003.
Nguyễn Sĩ Minh

