46. Người Ở Lại Biển Đông (Hoàng Quân Trí Nô)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
Người Ở Lại Biển Đông
Hoàng Quân Trí Nô
Như một nén hương muộn màng,
để tưởng niệm hương hồn anh Sáu Hoàng, người đã bị bỏ lại một cách tình cờ, tức
tưởi trong vùng biển Phi Luật Tân, chỉ một ngày trước khi cả đoàn ghe đánh cá
người Phi cứu vớt an toàn! Anh đã bị bỏ lại trong khi cố tìm một tia hy vọng
cho đoàn tàu đang bị trôi giạt một cách tuyệt vọng hơn một tháng trên vùng biển
kinh hoàng này...
Biển Đông ngày thứ ba mươi
tám...
Buổi sáng hôm đó, cả nhóm
chúng tôi gồm hơn ba mươi người còn lại, gồm cả đàn ông đàn bà và cả con nít,
đang nằm, ngồi la liệt, đói khát, mệt lả trong khoang của chiếc ghe cào rách
nát, tả tơi.
Sau hơn một tháng trời trôi
dạt trên vùng biển mênh mông, vô định, chiếc máy “ấn độ” đã chết chỉ sau hơn ba
ngày gầm gừ, thi gan cùng bão gió, bây giờ nằm thù lù giữa lòng ghe như một vật
vô tri vô giác, chỉ dùng làm chỗ dựa lưng cho vài người ngồi nhìn ra biển một
cách tuyệt vọng, hai chiếc máy đuôi tôm loại khá lớn đã lần lượt bị đẩy xuống
biển sau chỉ hơn một vài lần nổ máy mà không đẩy được chiếc ghe đi được bao xa,
vì sóng biển cứ liên tục lên xuống bập bềnh, khiến không cách nào giữ cho chiếc
chong chóng chìm dưới mặt nước được...
Tất cả “động cơ”(!) còn lại
trên ghe chỉ là một chiếc buồm tự tạo bằng một tấm vải bạt khá lớn trước đây
dùng đậy máy, được cột chằng chịt vào một cây “tầm vông” dài khoảng năm thước,
được dựng lên hạ xuống tùy theo mức gió. Có ai đó đã có sáng kiến dùng dầu nhớt
máy, phết lên mấy chữ S.O.S lên “chiếc buồm hộ mệnh”, đã bị nước mưa làm lem
luốc, chảy dài, làm tăng thêm vẻ thê lương của con “tàu định mệnh”. Mặt biển
bây giờ thật yên lặng, không một chút gió nào, chiếc ghe dường như đứng yên,
không nhúc nhích. Tôi nghe rõ từng tiếng vỗ lạch bạch, thưa thớt của nước biển
vỗ vào thành ghe. Không ai nói một lời nào, tất cả mọi người dường như còn bàng
hoàng, ngạc nhiên vì sự ra đi, hay đúng là sự “ở lại” thật vô lý, thật bi thảm
của anh Sáu Hoàng mới chiều hôm qua. Anh chàng này là một cựu Sĩ Quan Hải Quân,
mới ra tù được vài năm, được người chủ ghe móc nối đi theo để làm tài công cho
chuyến đi, vì biết anh ta trước đây đã từng nhiều lần lái tàu đi về trên vùng
biển này. Cho đến ngày hôm đó, anh là người tương đối còn khỏe mạnh, năng động
nhất trên tàu, anh vẫn thường dùng những kinh nghiệm đi biển của mình để tính
toán, đoán mò là theo sức gió thế này, đi theo hướng này thì bây giờ phải đi
qua khỏi vĩ tuyến số mấy, và nếu cứ tiếp tục với tốc độ này, thì bao nhiêu ngày
sẽ đến vùng biển nào, và ta có thể tấp vào vùng đảo nào, v.v...
Mọi người, ai cũng thích nghe
anh nói, đặt cho anh những câu hỏi ngây ngô: bây giờ đi tới đâu rồi? Còn bao xa
nữa? Chừng nào tới? Mình sẽ di tới đâu?... Mặc dù không mấy ai tin tưởng lắm,
vì chưa có gì thật sự xảy ra đúng như lới anh tiên đoán!
Tôi còn nhớ rõ như in, buổi
chiều hôm đó, anh ngồi tựa lưng bên thành ghe, chân tựa vào bánh lái đã được
buộc hờ vào khoang ghe, anh chỉ cho tôi và một vài người kế đó xem: Mặt nước
biển bây giờ có vẻ đục hơn, không còn màu đen đậm như khoảng một tuần trước
đây, có nghĩa là mình đã qua khỏi vùng biển sâu, nước biển như có lẫn cát, và
thỉnh thoảng có những mảnh rác nổi trên mặt, hy vọng là mình đã tới gần bờ hơn,
và nếu như anh không tính toán sai thì có lẽ đây là vùng biển Philippines. Dù
không tin tưởng lắm, nhưng ai nấy đều có thoáng một chút hy vọng mong manh,
biết đâu lần này anh ta nói đúng...
Và rồi, kia kìa, có một vật
gì trăng trắng nổi lên mặt nước biển, trôi từ từ về phía bên hông ghe, anh
nhoài người ra nhìn và chỉ cho chúng tôi, có lẽ là một vỏ nhựa của bình sữa,
hoặc một loại nước uống nào đó từ đất liền trôi ra. Và đột nhiên, không nói một
lời nào, anh ta nhào xuống biển, để vớt lấy bình nhựa lên may ra thấy nhãn hiệu
mà có thể xác dịnh xuất xứ của chúng, để biết mình gần đến đâu, tôi chỉ thầm
đoán như thế. Nghe tiếng động, mọi người quay lại nhìn theo. Chiếc bình nhựa
cách thành ghe không xa, khoảng mười thước, anh sải tay bơi về phía đó, với lấy
chiếc bình, lặn hụp vài cái để nhìn rõ hơn, vài người trên ghe nhao nhao hỏi có
thấy gì không? Đến đâu rồi?...
Anh vẫy tay, ra dấu hiệu
không ai biết gì, rồi ôm chiếc bình, bơi ngược trở lại ghe. Mặt biển vẫn yên lặng,
sóng chỉ gờn gợn nhẹ, sức gió yếu ớt không căng nổi chiếc buồm. Chiếc ghe vẫn
vô tình lướt tới, dường như không biết đến chuyện gì xảy ra. Anh Sáu Hoàng một
tay ôm chiếc bình nhựa, một tay sải nước cố bơi theo chiếc ghe, mọi người trên
ghe đứng cả dậy, nhìn về phía anh, không có gì nguy hiểm lắm... Mọi người hớn
hở, chờ đợi tin vui.
Một phút... Hai phút... Rồi
năm phút trôi qua, anh vẫn chưa theo kịp chiếc ghe, vài người trên ghe vớ lấy
thanh gỗ, áo quần nhoài người đưa xuống cho anh với lấy, có người la lên – Anh
ấy đuối sức rồi! Tôi vội vàng nắm lấy cần lái, cố đẩy hết mức về phía phải mong
cho chiếc ghe vòng lại. Hay ít ra cũng giảm tốc độ... nhưng không hiểu sao bánh
lái không hoạt động, tôi cố kéo ngược về bên trái, chiếc ghe vẫn ù lì tiến
tới... Chết rồi.! Làm sao bây giờ?... Khoảng cách chiếc ghe và anh Sáu càng
lúc càng xa hơn, tôi nhìn thấy tay anh đập chậm hơn, tay kia đã buông trôi bình
nhựa, chân đạp yếu dần... Không có cách nào khác cho ghe dừng lại, hoặc giảm đi
tốc độ, vài người trên ghe hì hục tháo dây cột buồm, cố sức lấy dây, hoặc cả
cột buồm mong đưa xuống cho anh bám, nhưng đã trễ...
Anh Sáu mỗi lúc một trôi lùi
lại phía sau, chiếc ghe vẫn tiến về phía trước, khoảng cách mỗi lúc một xa dần,
mấy người trên ghe cố quăng xuống cho anh bất cứ thứ gì có thể bám được... Cuối
cùng anh vớ được một tấm ván khá to, vẫn dùng để đậy nắp hầm sau ghe, tôi thấy
anh cố nhoài người cưỡi lên tấm ván, nằm sấp người, ôm chặt lấy nó, và rồi anh
cùng tấm ván trôi ngược dần về phía sau.
Tôi đứng chết lặng nhìn theo
anh đang cố vẫy vùng, trồi lên hụp xuống, tay vung vẩy một cách tuyệt vọng,
càng lúc càng xa dần, xa dần cho đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ lay động ở
chân trời. Hình như anh đang còn cố vẫy gọi chúng tôi một cách tuyệt vọng... Trời
ơi! Dễ dàng thế sao? Tại sao anh ta nhảy xuống vớt cái bình quỉ quái ấy... làm
gì? Sao trước khi nhảy, không tìm sợi dây, hay vật gì để buộc vào cho chắc?
Thôi đành vĩnh biệt anh... Số
phần anh đã vậy! Cầu xin Thượng Đế phù hộ cho anh. Xin biển, trời nâng đỡ thân
xác anh, hoặc xin cho phép lạ nào run rủi... Tôi không dám nghĩ tiếp nữa, bất
giác tôi từ từ đưa tay ngang trán, chào anh lần cuối, một vài người đưa tay
chào theo. Không ai thốt được một lời nào.
Màn đêm dần dần buông xuống,
theo thói quen của những ngày trước, tôi đưa mắt nhìn về phía chân trời để đoán
mò thời tiết đêm nay. Theo kinh nghiệm của anh chàng vốn là dân chài trước đây,
nếu chân trời trong là biển lặng, sóng êm, mà nếu có nhiều áng mây, đóng như
vẩy cá là coi chừng có gió bão... Trời hôm nay có vẻ trong xanh, cầu xin cho
anh không bị sóng gió dập vùi, cũng cầu xin cho những người còn lại trên tàu
thêm một đêm nữa yên lành trên biển cả!
Tiếng hát cầu kinh của các
anh em công giáo trầm buồn vang lên như thường lệ mỗi đêm, nhưng đêm nay có vẻ
thê thiết hơn, ngậm ngùi hơn: “Lạy Mẹ... Là ngôi sao sáng... Soi lối cho con,
lúc vượt biển... thế gian...” Có người đế nghị đọc thêm vài lời kinh cầu cho
anh Sáu Hoàng được bình an!
Bóng tối đã hoàn toàn bao phủ
vùng biển mênh mông, chiếc ghe vẫn bồng bềnh trôi giạt, lầm lủi như một chiếc
tàu ma. Không khí thật yên lặng, nhưng tôi biết rõ là không có người nào chợp
mắt trong đêm nay.
Ngày thứ ba mươi chín...
Trời đã sáng hẳn, mặt trời
lên khá cao, chiếu những tia nắng nóng xuyên vào trong lòng ghe, làm tôi tỉnh
hẳn sau một đêm dài trằn trọc. Như một phản ứng tự nhiên như đã có từ những
ngày lênh đênh trên biển, tôi nhỏm dậy nhìn quanh tứ phía, vẫn chưa thấy bến
bờ, vẫn là biển cả mênh mông! Thêm một ngày lênh đênh trôi dạt! Nhìn về sau
ghe, mặt biển phản chiếu ánh sáng mặt trời lấp lánh như một tấm thủy tinh khổng
lồ loang lổ.
Hình ảnh anh Sáu Hoàng ôm
mảnh ván vẫy vùng tuyệt vọng như còn ẩn hiện cuối chân mây. Anh có thể chịu
đựng được bao nhiêu lâu trong hoàn cảnh bi thảm đó?! Tôi cố ghi ngày tháng, để
sau này có dịp còn báo lại cho gia đình anh cúng giỗ, ma chay. Kiếp người sao
quá mong manh! Biên giới của cái sống cái chết chỉ là một lằn ranh thật nhỏ,
một cái bình nhựa, một ý nghĩ vội vàng, một cái sẩy tay trong gang tấc... cũng
có thể đổi lấy một mạng người...
Còn đang miên man với những ý
nghĩ mơ hồ, lẫn lộn, thì đầu phía khoang có tiếng la lớn: “Có tàu đến! Có tàu
đến!” Tôi bật ngồi dậy, nhìn quanh thấy một vệt dài, xám đen, chưa rõ hình thù
đang ẩn hiện ở phía trái của chiếc ghe. Không ai bảo ai, mọi người đều đứng
lên, vớ lấy những gì có thể thấy được, quần áo, khăn giẻ, nón mũ... đưa lên
cao, vẫy qua vẫy lại.
Một vài thanh niên còn có
sức, đưa tay lên miệng làm loa la lớn: “Help!Help!”... Những động tác này,
chúng tôi đã từng lặp đi lặp lại nhiều lần trong những ngày lênh đênh trên biển
cả, mỗi khi thấy có bóng dáng một chiếc tàu xuất hiện từ xa, và cũng đã bao
nhiêu lần chúng tôi thất vọng não nề nhìn theo những chiếc thương thuyền đi qua
một cách lãnh đạm, không hề quay lại, hoặc có một dấu hiệu nào cứu vớt. Thậm
chí còn có những chiếc tàu đã vội vã quay mũi chuyển hướng khi nhìn thấy chúng
tôi vẫy gọi. Tôi đã từng nghe nói đến từ ngữ: “Tình thương mệt mỏi... Ngân sách
không còn... Trại tỵ nạn sắp đóng cửa...” Trong những ngày còn ở quê nhà. Nhưng
tôi không ngờ họ có thể vô tình đến như vậy! Đành lòng đến như vậy!
Chiếc tàu lạ dần dần hiện rõ.
Ồ, cũng không to lắm, có lẽ cũng xấp xỉ ghe chúng tôi thôi, hình thù trông có
vẻ khác lạ, có nhiều màu xanh đỏ, lại có cái gì giống như hai cái “giàn cào”(?)
dang rộng hai bên, trông vững chắc. Có lẽ là ghe đánh cá của dân địa phương
chăng? Thì ra anh Sáu Hoàng đã tiên đoán rất đúng, đây quả là vùng biển Phi
Luật Tân rồi! Hình như họ đã nghe thấy chúng tôi và đang tiến thẳng tới.
Mọi người vẫy tay hăng hơn,
mấy thanh niên la lớn hơn. Tôi nhận ra được có mấy người trên chiếc ghe lạ, mặc
quần áo kín mít. Đầu trùm thứ mũ vải che kín cả mặt, chỉ chừa hai lỗ mắt. Một
người có vẻ vạm vỡ, đứng lom khom trước mũi ghe, tay cầm cuộn dây thừng cuốn
vòng lại, nhìn chúng tôi, quan sát. Mấy người trên ghe chúng tôi càng la to hơn:
“Help! Help!”...
Chiếc ghe lạ tiến thẳng đến,
quay mũi lại, cặp sát vào, người đứng trước mũi ghe lẹ làng truyền qua giàn
cào, nhảy gọn lên ghe chúng tôi. Ông ta dùng sợi dây thừng cột vào chiếc cọc
trước mũi ghe, rồi từ từ nhìn mọi người, nói ư a những tiếng gì không ai hiểu.
Có lẽ ông ta đang đếm xem có bao nhiêu người. Chúng tôi thi nhau nói với ông ta
bằng một thứ tiếng Anh cố dặn ra từng chữ “Vietnamese refugee... boat people...
no food...no water... help... please!” Có mấy người đàn bà chắp tay xá xá tỏ vẻ
cầu khẩn... Ông ta vẫn nói ư a những tiếng gì khó hiểu, lần đi vào trong lòng ghe,
nhìn vào chiếc máy chết rồi quay trở ra. Ông dùng tay ra hiệu cho mấy người ở
bên kia ghe, họ liền nhanh chóng bê ra một tấm ván dài, chuyền tay bắc qua
thành ghe chúng tôi, và ra hiệu cho chúng tôi bước qua. Mọi người reo hò, vui
mừng khôn xiết, luôn miệng nói những tiếng: “Thanh you, thank you...”.
Tạ ơn Thượng Đế đã cứu mạng
chúng con, đã cho chúng con đến được bến bờ! Thôi, hết rồi, những ngày lênh
đênh, trôi dạt. Hết rồi, những cơn sóng gió hãi hùng! Qua rồi những ngày đói
khát triền miên!
Cảm ơn tấm lòng vàng của
những người dân chài đơn sơ chân chất! Cám ơn một dân tộc tuy không giàu của
cải, nhưng tràn đầy lòng nhân ái, đã dang tay đón nhận chúng tôi trong lúc mọi
người chỉ muốn đóng cửa, phủi tay, vì... “tình thương đã mỏi mệt...!”.
Kể từ buổi sáng nhiệm màu đó,
họ đã cưu mang chúng tôi như những người anh em ruột thịt, họ đã chia sớt cho
chúng tôi từng mẩu bánh, chén cơm, từng manh quần, tấm áo, đến cả những viên
thuốc hồi sinh. Họ đã giúp đỡ chúng tôi những điều kiện ban đầu trên bước đường
tị nạn, trước cả những trợ giúp chậm chạp, đầy nguyên tắc, giấy tờ của Cao Ủy
Tỵ Nạn! Dân tộc này, đất nước này đã đem lại cho chúng tôi những niềm tin yêu
mới, những hình ảnh tốt đẹp nhất của một “NGƯỠNG CỬA TỰ DO”.
Anh Sáu Hoàng ơi, chỉ một
ngày nữa thôi, sao anh không nán lại để cùng chúng tôi hưởng nhờ những kết quả màu
nhiệm của một chuyến đi liều chết để tìm lẽ sống! Chính anh đã lèo lái con
thuyền trong giông bão, đã cùng chúng tôi chia sẻ những nhọc nhằn, đói khát,
mòn mỏi, tuyệt vọng... Trong những ngày lênh đênh trôi dạt trên vùng biển cả
mênh mông. Anh đã đưa con thuyền đi đúng hướng. Anh đã đoán đúng khi con thuyền
sắp đến bến bình yên, anh đã đoán đúng mà! Xin anh tha thứ cho những lời trêu
chọc, bông đùa vì quá mòn mỏi, tuyệt vọng... Đâu có cần anh phải liều mình
chứng minh cho những suy đoán của mình. Chúng tôi thật sự tin tưởng ở sự lèo
lái của anh mà!
Hay là trong những lúc tận
cùng khổ ải, anh linh của anh đã sáng suốt, thấy trước những nhục nhằn của cuộc
đời tị nạn, những nghiệt ngã của cuộc sống tha hương lưu đầy mà đã sớm ra đi về
miền miên viễn...!? Dù sao đi chăng nữa, chúng tôi – những người còn lại – thật
sự mang ơn anh. Chúng tôi thật sự tiếc thương anh. Và mỗi lần có dịp gợi lại
những kỷ niệm đau buồn đó, là hình ảnh anh ôm chặt tấm ván thuyền, tay vùng lên
vẫy gọi, trôi tuột vào vùng giông bão mênh mông, lại trở về trong tâm tưởng
chúng tôi.
Xin thắp một nén hương, để
tưởng nhớ và ghi ơn anh Sáu Hoàng, người đã liều mình trong nỗi chết, để chứng
minh cho niềm tin của mình, đã hy sinh chỉ một ngày trước khi con thuyền được
tới bến bình yên.
Với lòng tin tưởng mãnh liệt
đó, anh đã chọn làm.. .NGƯỜI Ở LẠI BIỂN ĐÔNG!
Cali mùa thu 2002
Hoàng Quân Trí
Nô

