Thiếu niên ca - chương 01
Chiến tranh đã kết thúc được bảy năm.
Những chư hầu hùng mạnh thu lại móng vuốt, tranh thủ thời gian này để
dưỡng sức và tích lũy lực lượng. Những địa bàn lớn cũng đã được bọn họ
phân chia xong xuôi. Mấy mươi năm binh hoang mã loạn, giờ là cơ hội cho
mảnh đất Thang Lâm này nghỉ ngơi để hồi phục lại phần nào.
Nhưng xung đột dường như chưa bao giờ ngừng lại một giây phút nào, và
bóng mây chiến tranh vẫn đang lởn vởn nơi chân trời. Các thế lực vẫn
ngày đêm tranh chấp, mọi lúc mọi nơi, tựa như những cơn sóng ngầm cuồn
cuộn ngang dọc dưới mặt sông yên ả.
Như một lời nhắc nhở với người dân Thang Lâm, họ vẫn đang ở trong thời kỳ loạn thế.
Không sai, là loạn thế.
Vương triều đã sụp đổ, uy vọng huy hoàng một thời nay chập chờn như ngọn
nến đầu mưa gió. Thiếu đi kỷ cương và pháp luật kiềm hãm, nhân tính bắt
đầu phô bày hết mọi mặt tốt xấu của nó, chỉ vài đốm tàn nhỏ cũng sẽ dễ
dàng bùng lên thành một trận bão lửa quét bay đi tất cả. Không ai đoán
được khi nào thì những năm tháng yên bình mong manh này sẽ tan vỡ, nhưng
ai cũng biết rằng đây vốn chỉ là một quãng lặng tạm thời trong bản nhạc
chiến chinh.
01. Báo Rừng
Hồ Cạn, nơi duy nhất có nguồn nước trong chu vi bốn trăm dặm cát trắng,
nằm dưới sự thống trị của trại Ngạc. Khu trại nhỏ vốn chỉ có mười mấy
nóc lều, được bao quanh bằng một hàng rào thấp ngang lưng người, lại là
một trong những địa điểm trung chuyển nô lệ quan trọng trong vùng. Mười
mấy bang hội buôn người hoành hành suốt một vùng đất lớn từ sông Thị Tầm
đến dãy núi Bà Đen chập chùng, đã liên kết với nhau dựng thành tám trại
trung chuyển. Mỗi trại được xây dựng cách nhau không quá ba trăm dặm.
Đó là nơi thu nhận và phân loại tất cả nguồn hàng đến từ vùng Đông Nam
Thang Lâm, rồi sau đó đưa đến những tòa thành lớn có chợ buôn người để
bán lại. Hàng hóa của họ chỉ có một loại: nô lệ.
Những nô lệ đến từ khắp nơi, có dân tộc thiểu số bản địa, có dị tộc quái
nhân, có nạn nhân của chiến tranh, có người bị bắt cóc, có kẻ tự bán
mình, thậm chí có cả bại binh từ chiến trường. Do chiến loạn kéo dài
không dứt, người trở thành một mối hàng hóa nhiều nhất và dễ dàng nhất. Ở
những khu trại này họ sẽ được phân loại, dưỡng sức, huấn luyện và chờ
đợi đến ngày trở thành một món hàng hóa được rao bán ở một khu hội chợ
nào đó.
Chế độ sở hữu nô lệ ở Thang Lâm có một lịch sử lâu đời, thậm chí còn bắt
đầu trước cả ngày vương triều ra đời. Nó bắt nguồn từ trước khi cuộc
chiến bảy nước thuở hồng hoang, khi hình thức bộ tộc vẫn còn tồn tại và
kéo dài không dứt đến tận vương triều Tinh Đế. Chế độ này chỉ kết thúc
trên danh nghĩa khi Chiến đế trả tự do cho mười tám ngàn nô lệ, những
người đã sát cánh cùng với vương triều chinh chiến ba năm dưới chân
thành Ly Ca. Kể từ đó sở hữu nô lệ ở Thang Lâm là một chuyện bất hợp
pháp.
Thế nhưng ngay cả những vị đế vương hùng mạnh của vương triều Tinh Đế
cũng không thể kiểm soát hoàn toàn những dòng họ quý tộc dưới tay mình.
Có đôi khi, một dòng họ kiểu như vậy có lịch sử còn lâu đời hơn cả vương
triều.
Và khi cuộc chiến Năm Vua Chín Chúa bùng nổ, nô lệ lại trở thành một tài
sản mà ai cũng có thể mua bán. Ba mươi bảy năm chiến loạn, nô lệ trở
thành món hàng đắt đỏ nhất của Thang Lâm.
Hoàn cảnh sinh tồn ở những khu trại người như thế này rất nguy hiểm. Rất
ít trẻ nhỏ và người già có thể tồn tại, hầu hết đều bỏ mạng dưới sự
khắc nghiệt của thiên nhiên và sự tàn ác của đồng loại. Phụ nữ là một
món hàng đắt giá, và họ được bọn chủ nô tách biệt ra khỏi cộng đồng nô
lệ nhằm tránh thất thoát. Vì thế trong trại Ngạc, toàn bộ gần sáu trăm
người đều là nam tính, trừ một số hầu gái của giới chủ nô.
Dưới ánh mặt trời chói chang của mùa hè, mặt cát tỏa ra hơi nóng đến
cháy da cháy thịt, hầu như không một ai muốn bước chân ra ngoài mái lều
vải. Ngay cả những tên bảo vệ đang ở phiên trực cũng tìm đủ mọi cách thu
mình vào trong bóng râm, giương mắt nhìn cảnh mấy thằng bé nô lệ nhỏ
tuổi bị sai ra múc nước ở bờ hồ.
Ngay cả là trong một cộng đồng dưới chót của xã hội như vậy, cũng có
phân ra trên dưới, cũng có ngược đãi và bất công, cũng có ỷ mạnh hiếp
yếu. Trẻ con đồng tuổi với Dư Lệ trong trại chẳng có mấy, đều là đối
tượng bị chèn ép nhiều nhất. Và có lẽ ở đây chỉ có vài lão già đã sắp
xuống lỗ là không thể ức hiếp được bọn nó nữa mà thôi.
Suốt cả cuộc đời về sau này, Dư Lệ sẽ chẳng bao giờ quên được quãng thời
gian lăn lộn dưới làn roi, bị tàn phá bởi nhân tính, được rèn luyện bởi
sự tàn bạo ở Hồ Cạn.
Và thằng bé cũng sẽ chẳng bao giờ quên được cảnh tượng nơi vùng cát ngày
hôm ấy, khi trại Ngạc bị xé nát bởi cuộc tấn công do trại Long Hổ phát
động.
Chẳng phải là nó chưa nhìn máu chảy, chưa thấy đầu rơi, chưa nghe tiếng
thét chết. Năm năm trời lăn lộn ở khu trại buôn người vốn xem nhân mạng
như rác rưởi này, chuyện tàn nhẫn dã man nào mà nó chẳng phải nhìn qua
kia chứ. Đứa trẻ mới vừa chín tuổi ấy, vốn đã sớm quen với chuyện người
ăn sống người rồi.
Nhưng, đó là lần đầu tiên nó thấy cảnh chiến đấu thực sự, ở khoảng cách một tầm tay với.
Những thanh mã tấu vung cao, phản chiếu ánh sáng lòa lòa, mỗi nhịp vung
lên hạ xuống là kèm theo máu đỏ bắn tung tóe khắp nơi. Bọn chủ nô và bảo
vệ ở Hồ Cạn ngày thường hống hách cậy mạnh, nay dưới tay những kẻ còn
mạnh mẽ hơn, tàn bạo hơn, từng đám từng đám rã ra như tuyết tan dưới
nắng.
Lúc ấy Dư Lệ đang đứng bên cạnh hàng rào gỗ, khi người kỵ mã đầu tiên
thúc ngựa nhảy vọt qua. Bóng dáng cao lớn của người ngựa hợp lại làm
một, tựa như một bóng đen khổng lồ che lấp hết ánh mặt trời đang thiêu
đốt trên đầu nó. Người kỵ mã ấy không phí thời giờ vung mã tấu trong
tay, chỉ kéo cương ngựa một nhịp thì hai vó trước đã bổ vào đầu gã canh
gác đứng đằng sau. Sức nặng của con chiến mã cộng với đà lao đến ngay
lập tức vùi gã lính gác xui xẻo ấy vào cát, không kịp kêu lấy một tiếng
nào. Máu và óc của gã văng tung tóe, bắn cả vào mặt Dư Lệ, khiến cho
cảnh vật trước mắt thằng bé bỗng nhuộm thành màu đỏ.
Dư Lệ nghiến răng lùi lại, cố gắng nép mình thật sát vào hàng rào gỗ
thấp phía sau. Đám kỵ sĩ trại Long Hổ thúc ngựa vọt qua hàng rào, miệng
gầm lên những tiếng la hét chói tai, tay vung cao mã tấu. Trong nháy mắt
mọi thứ trong mắt Dư Lệ như trôi chậm hẳn lại, nhòa nhòa. Giống như
từng đám mây đang lừ lừ trôi qua bầu trời, kèm theo đó là những ánh chớp
lóa tử vong.
Mây đỏ. Mang mùi máu tươi.
Cuộc tấn công diễn ra cực kỳ chớp nhoáng. Không một ai trong trại Ngạc
đề phòng rằng họ sẽ bị tấn công ngay giữa ban ngày ban mặt. Không một ai
phát hiện kẻ địch đã tới gần. Sau khi cuộc chiến kết thúc, Dư Lệ mới
biết sáu trạm canh gác vòng ngoài của trại Ngạc đã bị nhổ đi cùng một
lúc, đến cả báo động cũng không kịp.
Khi người cuối cùng của trại Long Hổ xông qua hàng rào thì hàng đầu tiên
của họ đã đánh tới khu lều trại chính. Những người đi đầu vung tay ném
mấy sợi dây thừng to chắc như bắp tay lên nóc lều, chỉ vung tay là đã
giật sập lều xuống. Đám chủ nô vốn chưa nắm bắt được tình hình chiến
đấu, lại bị vướng trong đám vải lều bùng nhùng không thoát ra được,
trong nháy mắt đã bị đâm chém trọng thương hoặc bị vó ngựa dẫm nát nhừ.
Cảnh tượng ấy diễn ra khắp nơi, chủ yếu do tốc độ của người trại Long Hổ
quá nhanh và cuộc tấn công quá bất ngờ.
Cũng có một số lính gác ở trong phiên trực cố gắng tụ lại thành nhóm để
chống cự. Thế nhưng do thời tiết nóng bức, rất ít người đeo theo đao
kiếm và giáp trụ nặng nề, trong tay chỉ có ngọn roi da. Dưới ánh sáng
lạnh lẽo của mã tấu, những kẻ này rất nhanh ngã gục xuống, máu tươi chảy
thành dòng, đỏ rực trên cát trắng.
Trại Ngạc thật ra không thiếu kẻ vũ dũng.
Nguyễn Hổ, người to như tháp sắt, cơ bắp cuồn cuộn, đội phó đội bảo vệ
trại Ngạc là một kẻ như vậy. Gã phản ứng cực nhanh, quơ lấy mã tấu trong
tay chặt đứt chân hai người nô lệ đang bị xích ở cạnh bên, rồi túm lấy
đoạn xích sắt dài sáu thước vung lên vù vù. Tay đao tay xích, chỉ nháy
mắt gã đã đánh gãy chân hai con ngựa, đập nát đầu một chiến binh trại
Long Hổ, chém đoạn một tay người còn lại.
Thế nhưng người của trại Long Hổ rất nhanh đã tụ thành một đội bốn
người, xoay quanh gã như đèn kéo quân. Ngọn giáo trong tay họ thò ra
thụt vào như lưỡi của một bầy rắn độc. Đến khi họ tản ra thì Nguyễn Hổ
đã trở thành một cái xác thủng nát ngã quỵ xuống.
Sức chiến đấu quá chênh lệch của hai bên đã nhanh chóng biến trận chiến thành cuộc tàn sát.
Đám nô lệ còn sống đến lúc này, về cơ bản đều là người từng trải. Bọn họ
rất nhanh đã quỳ úp mặt xuống, hai tay giơ cao lên trời, bất chấp bên
dưới là mặt cát nóng bỏng. Chỉ có như vậy họ mới có hy vọng giữ được
mạng sống. Dù hai phe ai thắng ai thua, cũng sẽ không liên lụy tới bọn
nô lệ, đó là luật sắt của các trại buôn người vùng cát trắng này.
Dư Lệ không bỏ chạy.
Bởi vì trong lúc hộn quân hỗn quan ấy nó đã thấy Văn Sửu, gã thanh niên
hai mươi bảy tuổi cường tráng nhất trại nô lệ. Gã xui xẻo bị vó ngựa xéo
gãy chân, lăn lộn trên chiến trường. Thế nhưng ý chí cầu sinh mãnh liệt
và sức mạnh hơn người đã giúp gã cố gắng lê người ra ngoài rìa trận
chiến để bảo toàn mạng sống. Đoạn đường chỉ có vài chục trượng, ngày
thường gã nhún mình vài cái là qua, giờ đã biến thành một hành trình lăn
lộn giữa sanh tử hai đường. Hai vệt máu đỏ tươi nổi bần bật trên mặt
cát trắng, ngoằn ngoèo khúc khuỷu.
Dư Lệ nhổm dậy, thân hình nhỏ nhắn lom khom gần như dán sát vào mặt đất,
xuyên qua xuyên lại giữa trận chém giết hỗn loạn. Bằng vào một phép màu
nào đó, nó đã tiến tới gần Văn Sửu. Gã thanh niên đang lê lết bỗng dưng
thấy hai cánh tay nhỏ bé mà rắn chắc, luồn vào dưới nách và một mạch
kéo gã ẩn nấp vào đống thùng gỗ đổ nát sát hàng rào.
Cho đến khi nhìn thấy gương mặt đỏ bừng và hơi thở hổn hển vì quá sức
của Dư Lệ, Văn Sửu vẫn không thể tin vào mắt mình, sững sờ đến nỗi thốt
không nên lời.
Và gã cũng không có cơ hội đó.
Dư Lệ thở hào thở hển tựa như sắp đứt hơi, nhưng vẫn nhe răng ra cười
một nụ cười méo mó. Nó xoay người, quỳ lên bụng Văn Sửu, vung tay cắm
luôn một thanh dao găm vào ngực gã. Thanh dao cực kỳ sắc bén ấy nó đã
lấy cắp được từ thi thể của gã canh gác ban nãy.
Văn Sửu thét lên một tiếng xé ruột, vung tay đấm vào đầu Dư Lệ. Thằng bé
ngửa người né ra, một tay cong lên nện mạnh vào đoạn chân gãy, một tay
nắm lấy cán dao xoáy một vòng, đầu gối vẫn vững vàng đè chặt trên ngực
gã thanh niên. Văn Sửu đau đến chết ngất, hai tay vung loạn lên, thế
nhưng ngày càng vô lực giãy dụa, bị thằng bé vốn chỉ hơn bảy mươi cân đè
nghiến xuống đất.
Dư Lệ nhe ra hàng răng trắng ởn, một tay nắm tóc Văn Sửu, một tay rút
dao đâm thêm mấy lỗ trên người gã, vừa đâm vừa hào hển đếm:
- Cái này cho Dần, cái này cho Tính, cái này là của bác Một, cái này, cái này là của bác Vân đi.
Văn Sửu lúc này đã lịm đi, bên tai vẫn nghe từng cái tên tựa oan hồn đòi
mạng. Mấy người này, phần lớn đều do sự chèn ép ngược đãi của gã mà
phải chết đấy.
Cho đến khi Dư Lệ báo thù xong, thì Văn Sửu đã chết cứng. Thằng bé lúc
này đã thoát lực, chẳng ngần ngại ngồi bệt ngay bên cạnh vũng máu chảy
từ cái xác nát nhừ mà thở. Dù đối thủ đã gãy chân và bị đâm lén thì sức
lực của một thằng nhóc chưa đủ mười tuổi vẫn không thể sánh bằng người
trưởng thành. Trong lúc hai bên vật lộn nó bị đấm mấy cái thật nặng vào
đầu choáng váng. Thậm chí trong lúc vung dao đã tự cắt vào cánh tay mình
một đường thật dài, máu vẫn đang chảy ra ngoài thành dòng. Lúc nãy đánh
nhau kịch liệt thì không thấy gì, giờ mới thấy đau rát.
Ngoài kia trận tàn sát vẫn chưa kết thúc. Dư Lệ không bỏ chạy. Kinh
nghiệm mấy năm ở vùng cát này cho nó biết nếu không có chuẩn bị, trên
người lại mang thương thế thì chạy vào hoang dã thì cũng chỉ có chết sớm
hơn mà thôi. Việc đầu tiên mà nó phải làm là tìm cách băng bó vết
thương trên tay đang rỉ máu đã. Ở nơi thiếu thốn thuốc men này, một vết
thương nhỏ cũng có thể lấy đi mạng người.
Thế nhưng trong lúc đang lúi húi xé áo để băng vết thương, một cảm giác
rờn rợn đột nhiên chạy dọc khắp sống lưng khiến Dư Lệ ngẩng phắt lên.
Một gã đàn ông cưỡi trên con chiến mã, chẳng biết đã đứng cạnh hàng rào
từ bao giờ, đang chăm chú nhìn nó.
Đó là một người cao lớn và vạm vỡ. Ngay cả khi đã giấu mình trong tấm áo
choàng lữ hành dày cộm, vẫn có thể thấy được những đường nét cơ bắp của
y hằn lên sau lằn vải. Y cao lớn khiếp người, so với Văn Sửu chỉ sợ còn
cường tráng hơn một vòng. Gương mặt y giấu sau tấm khăn che, chỉ để lộ
ra đôi mắt đen nhánh dưới hàng lông mày rậm rạp xếch ngược.
Bên hông y gài một thanh mã tấu trần, so với loại mã tấu thường thấy ở
vùng này thì hơi ngắn và cong hơn. Thanh mã tấu ấy thoạt trông thì giống
như được dắt rất tùy ý, thế nhưng cán của nó luôn nằm trong vùng khống
chế của cả hai tay người đàn ông, đảm bảo luôn có thể rút ra với tốc độ
cực nhanh. Cán mã tấu tiện bằng gỗ, phía cuối khảm một lớp vỏ kim loại
sáng bóng, khắc mấy hoa văn hình lá lạ lẫm.
Con chiến mã của y cưỡi cũng cực kỳ cao lớn, Dư Lệ đoán chừng với tầm
vóc của nó, thậm chí chỉ cần hơi cao chân là đã có thể vượt qua hàng rào
gỗ này. Người đàn ông cũng không có cử động hay nói năng gì, chỉ đơn
giản ghìm ngựa đứng đó. Cả người y toát ra khí thế hào hùng mà thản
nhiên, thậm chí gần như chẳng buồn để mắt đến cuộc chiến đấu vẫn đang
diễn ra sôi nổi trong trại Ngạc.
Thằng bé cũng không nói lời thừa nào, từ từ quỳ xuống, cúi đầu, hai tay giơ lên cao.
Trong mắt người đàn ông xoẹt qua một tia nửa hứng thú, nửa bất nhẫn. Y
lỏng cương, dường như chẳng buồn để ý đến tình cảnh máu tanh trước mắt,
chỉ hỏi:
- Thằng nhóc, ở đây lâu chưa?
Dư Lệ trả lời:
- Thưa thủ lĩnh, năm năm rồi.
Ngươi đàn ông hỏi lại:
- Mày biết ta là thủ lĩnh?
Y rất ngạc nhiên. Bởi lẽ thoạt nhìn thoáng qua thì y trông cũng không
khác gì những kỵ mã đang tung hoành bên trong là mấy. Áo choàng lữ hành,
khăn che kín mặt, mã tấu giắt hông, tựa hồ là phục trang chung của toàn
bộ đám thổ phỉ vùng này. Y cũng không có dẫn theo hộ vệ, không có dắt
cờ dắt quạt gì trên ngựa, không biết vì sao thằng bé nô lệ này lại nhận
ra mình.
Dư Lệ chỉ chỉ vào đôi giày dưới chân y:
- Đây là giày làm từ da tê tê, rất quý giá. Năm ngoái ta thấy có hai vị
thủ lĩnh trại Ngạc mang loại giày giống như vậy. Chỉ những người mạnh
nhất mới có thể mang nó.
Ánh mắt người đàn ông càng lúc càng tỏ ra hứng thú:
- Mày lanh lẹ đấy, mắt cũng rất độc nha.
Dư Lệ bĩu bĩu môi, nghĩ thầm trong bụng:
“Đánh nhau ầm ầm trong kia, ngươi một người một ngựa thong dong lững
thững ngoài này, đồ vật trên người toàn là thứ đắt tiền, lại khinh người
ta không biết mình là thủ lĩnh à.”
Người đàn ông vỗ nhẹ vào gù yên ngựa, từ tốn nói:
- Ta là Trần Công Minh, trại chủ trại Long Hổ. Nhóc con, mày rất được, từ rày theo bọn ta đi.
Tuy y không biết vì lý do gì mà thằng bé con lem luốc này lại ra tay tàn
nhẫn với gã thanh niên đến như vậy, thế nhưng y không có ý định quản
chuyện này. Ở trại Long Hổ, có ai là không liếm máu đầu đao để sống kia
chứ.
Đó là lần đầu tiên Dư Lệ gặp Trần Công Minh.
Đó cũng là lần đầu tiên Công Minh nói với thằng bé ba chữ: mày rất được.
Khi Dư Lệ theo chân đám người trại Long Hổ ra khỏi trại Ngạc, nó không
kềm được mà quay lại nhìn lưỡi lửa hừng hực đang nuốt lấy những tàn tích
còn sót lại kia mấy lần. Lửa đỏ, máu tươi, xác người chất đống, tiếng
gào thét của thương binh bị vất bỏ, tiếng cười ha hả của phe chiến
thắng. Tất cả giống như một bức tranh xưa cũ nào đó, thoáng lạ thoáng
quen, lởn vởn trong đầu thằng bé.
Vỏn vẹn trong tám ngày, trại Long Hổ chia binh nhổ bật tám trại nô lệ
trong vùng, triệt để hủy diệt toàn bộ cơ nghiệp của mười mấy bang hội
buôn người từ nhỏ đến lớn. Số nô lệ được giải thoát lên đến vài ngàn, có
quá nửa đều đến nương tựa vào trại Long Hổ.
Đó cũng là bước đầu tiên, mở màn cho cuộc chinh phạt tứ phương tám hướng
kéo dài bốn năm của trại Long Hổ. Thằng bé chín tuổi Dư Lệ, từ trong
máu lửa mà từ từ trưởng thành, từ trong chém giết mà trui rèn. Cho đến
khi trại Long Hổ vững vàng ở vị trí một trong ba bang hội mạnh nhất vùng
Ma Lãnh, thì nó cũng đã thành danh.
Người ta gọi nó là Báo Rừng.

