Biểu Tượng Một Dòng Họ - Chương 26
XXVI
Liên tục nửa tháng nay,
các báo từ Trung ương đến địa phương đăng mục “Mời họp mặt”:
Từ
làng Mây, hai cháu đích tôn của ông Đào Quýnh - thường được gọi là ông Bá - là
Đào Văn Bỉnh và Đào Văn Hoan xin trân trọng kính mời mọi thành viên Đào nội tộc
và ngoại tộc về giỗ ông nội chúng cháu vào ngày 24 tháng 6 âm lịch tới, sau đó
hiến kế cho việc khôi phục lại thanh danh dòng họ. Trang viên đã được xây dựng
lại như trước khi bị ngộ nạn, nay đã đủ chỗ thờ phụng và tiếp đón họ hàng xa gần
về tham gia các ngày kị. Có ban tổ chức thường trực tiếp đón trước và sau ngày
kị một tuần. Chúng cháu tha thiết kính mời các bậc ông bà, cha chú, thúc bá
huynh đệ hồi hương vì hương hồn người quá cố, vì danh dự và truyền thống của
dòng họ.
Kính
mời
Đào
Văn Bỉnh - Đào Văn Hoan
Tin trang viên được tái
dựng dấy lên trong lòng toàn gia tộc niềm phấn khích tột độ, niềm tự hào dòng họ
bấy nay vẫn được trân trọng cất giữ, nay được dịp bùng lên. Nên mọi bếp, mọi
chi đều tề tựu đông đủ. Họ đi thành nhiều tốp, hớn hở, trầm trồ chiêm ngưỡng.
Toàn bộ quần thể không có gì khác xưa, chỉ thấy được khoác vẻ mới tinh.
Từ đường, nhà tế, nhà
ngang và nhà khách, cả thiên đăng cũng được đúc lại, đến cả nhà bếp và chuồng
chim câu cũng được tái hiện y nguyên. Cái chạm ngay vào cảm giác là vẻ tươi
sáng và mùi nồng của vôi ve bao trùm lên toàn tổng thể, nơi đã thành quá quen
thuộc như lòng bàn tay, vẫn được mọi người ngắm nghía rất kĩ các họa tiết. Trên
tường hồi của từ đường, bốn con rồng nạm sứ hoa ở tư thế bay, giữa đường nóc có
đôi nghê chầu nguyệt. Ông Cuộc-tanh-tách thành viên ban khôi phục, đã lên tận
Bát Tràng đặt ngói cổ và gạch vuông lát sân, với yêu cầu các viên đều phải nổi
màu gan gà. “Đoàn tham quan” ngạc nhiên đến không tin nổi mắt mình: các đồ thờ
từ bài vị nhang án, bát hương đại đến đỉnh, lư, cây nến, đài rượu bằng đồng
thau, rồi hòm sắc, phú ý v.v… đều hoàn toàn như xưa. Chẳng lẽ chúng được cất giấu?
Cách nào có thể giấu được, quá nhiều thứ, lại cồng kềnh thế này trong khi trang
viên bị canh gác nghiêm ngặt?
- Chị Thư ơi - Cụ
Giáo không kìm được thắc mắc - Dạo ấy chị là người cuối cùng
bị đuổi ra khỏi trang viên, hẳn phải biết những đồ thờ này đi đâu khi từ đường
bị chiếm?
- Dạ thưa chú, Đội đem
chia quả thực cho họ hết. Tôi cũng đang nghĩ không hiểu sao những thứ đó lại
quay về đầy đủ thế này.
- Để tôi giải thích về
các đồ thờ này. Lúc đầu cử người đi Hải Phòng, Hà Nội tìm mua, đều không thấy
bán. Hai tỉnh to ấy không có thì chẳng nơi nào có. Mấy hôm trước ngày kị, tôi cứ
nằm khàn cả ngày để nghĩ cách. Trong khi đang đếm nhịp đời bằng những hơi thở
dài ngao ngán thì vợ chồng Lông-mũi
ì ạch khiêng cái bát hương đại - ông Quyên vỗ vỗ vào bát hương - đến trước mặt
tôi nói:
- Bác khỏi cho người đi
mua. Chúng em kiếm được đây, một chinh cũng không mất. Em đố bác kiếm bằng cách
gì?
- Chị chịu tài cô chú - Tôi
ngồi nhỏm dậy, chạy đến vừa ngắm vừa xoa đi xoa lại lên da nó. Dịp cũng
hưởng ứng động tác của tôi.
- Em mang bát sang xin
bà Lân tí mắm cáy xổi, thấy bà đang kì cọ cái bát hương này, hỏi bà rửa để làm
gì. Bà bảo hũ đựng không hết, phải dùng cái này. Em gạ đổi cho bà cái hũ đại to
ngang bát hương, lại có nút, nhặng không vào đẻ bọ được. Bà thích mê. Em về gọi
chồng em sang khiêng ngay về đây cho bác.
… Nào ngờ cái bát hương
mở đường cho tiệm thu mua đồ cổ. Tôi phao tin: Trang viên cần mua mọi đồ thờ có
lần là quả thực chia cho các ông bà nông dân trong cải cách. Trong vòng có 3
hôm, thu lại có thể nói là gần hết. Riêng cái đỉnh hương này thì hơi vất vả. Phải
qua 3 cầu, cầu cuối ở nhà con cháu ông chánh Đa thôn Thạch. Đỉnh có lẽ cao bằng
thằng bé lên 6 lên 7 thế này, lại có cả chú nghê ngồi chễm chệ nhe răng cười, hấp
dẫn chưa nào! Bên ấy kể khi mua được sướng như trúng số độc đắc, thực bụng không
muốn bán lại. Sau tôi phải gợi đến sinh thời 2 cụ chánh Đa và chánh Quýnh là đồng
nghiệp với nhau, lại đồng tuế, họ mới động tâm mà rời ra. Khiêng đỉnh về đến
nhà, đến lượt mình cũng có cảm giác như người trúng số độc đắc, và mình mới là
người trúng thật. Thế là bỗng thành ông lái đồ cổ. Khi được chia quả thực,
không biết sẽ dùng làm gì, cũng phải tỏ vẻ như vớ được vàng, một là do phải nịnh
hở ông Đội, hai là cảm thấy hãnh diện thật, vì còn đầy người không được chia gì
cơ mà. Như mấy cái đài rượu chẳng hạn, cho con đem ra sân lăn mấy vòng, nó
chán, phải quẳng vào gầm giường cho khỏi vướng chân. Rồi hoành phi đem quây chỗ
cho vịt ngủ, câu đối đem bắc cầu ao… Nhà mình tấp nập suốt ngày, toàn khách gạ
bán đồ. Có một bà tận xóm “Củng”, cái tên hơi khó nhớ… À bà Đổm, khoác đến một
cái chiếu hoa, mầu bợt gần hết, mép vừa sờn vừa gẫy lởm chởm như bị cá rô đớp,
lại thủng mấy chỗ. Một bà khác bưng đến cái nghiên mực, quên mất tên…
- Bà Ngợt, người xóm
trong - Cụ Bê nhắc.
- Vâng. Cả hai bà thề sống
thề chết: “Không phải là chiếu ngày xưa cụ Bá ngồi, tôi chết bỏ 9 đứa con”.
Công nhận đã liều mồm thề độc. Bà kia thì: “Hồi cụ còn sống, tôi trông thấy cụ
kê đơn bằng cái nghiên này. Tôi nói điêu, tôi cũng làm con ông.” Không nói điêu
thì bà ta cũng chỉ bằng tuổi con mình. Có thứ như bộ tượng tam đa kia, chu du tới
mãi Tú Đôi, cũng được cho vào thúng lót rơm chu đáo đội đến, kèm theo 2 bát
Giang Tây bịt bạc cáu ám vàng khè. Hỏi sao bẩn thế. Đáp: vẫn để uống nước vối.
Tiếc cho hạt gạo tám xoan, thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà! Còn mấy cái sập
gụ, tủ chè có lẽ đang du ngoạn ở tỉnh khác, chưa được nghe ai kháo nhà cụ Bá
xưa giờ thành cơ sở thu mua ve chai, nên chưa xui chủ khiêng đến.
Cụ giáo giơ tay ra hiệu
cho ông Hân:
- Có lẽ ta ra chỗ con
Lu một lát, thắp hương gọi nó về đón chủ.
Trong khi mọi người dừng
chân trên sân ngắm khu lăng con Lu, cụ Giáo một mình trèo lên, bước tới sát tượng
nó rồi ngồi xổm xuống, vừa vuốt ve vừa ghé sát mặt nó, lẩm bẩm câu gì. Cụ ngoái
lại:
- Loan lấy cho chú chậu
nước mưa và cái khăn mặt.
Cụ khom người cắm hương
vào bát rồi xấp nước khăn lau rửa cho con chó mà sinh thời cụ yêu chiều như một
đứa con nhỏ, do tình nó dành cho cụ quan nhiều năm chỉ có một. Hình ảnh nó nằm
trên thềm cổng cả buổi chờ cụ từ Nam Định về nghỉ hè, đang hiện lại rõ nét, tưởng
đưa tay ra là sờ thấy. Ôi “thiên khuyển hồi thiên sào” mất rồi! Nếu không,
trong lần hội ngộ này, hẳn gây xúc động lớn cho những người đang đứng trước
lăng đây. Cụ quay lại ông Hân:
- Tôi đọc Le Monde lâu rồi, hình như con Lu được
tờ báo nhắc đến trong cái tên tiểu thuyết của nhà văn Hoan viết về họ Đào. Tôi
quên mất.
- Dạ thưa cụ, “Đào Lu -
con chó đá”. Từ lúc cháu nói cái tên ấy đến nay, cứ ngẫm mãi cái ngụ ý sâu xa của
nó.
- Ý nghĩa ra sao, cũng
khó đoán, vì ta chưa đọc truyện.
- Theo con, sự phát triển
của họ Đào gắn liền với con Lu. Năm nào cũng vậy, sau cả năm xa chủ đằng đẵng,
khi gặp lại nó quấn quýt chủ như hình với bóng, nó liều chết hạ kẻ tử thù để cứu
chủ, ngay cả sau khi lìa đời vẫn không quên trách nhiệm bảo vệ trang viên. Dòng
họ mà cụ Bá là đại diện tạc tượng thờ nó, chính là để tôn vinh nhân nghĩa, lòng
trung thành, đức hi sinh v.v… Tựu trung là tôn vinh đạo lí.
Cúng bái và cỗ bàn
xong, mọi người hàn huyên tới khuya mới lên giường. Mỗi người một nỗi niềm
riêng: nào nuối tiếc một thời lộng lẫy, huy hoàng, nào đau đáu những kì vọng về
tương lai, song tâm trạng chung là tràn trề nỗi mừng về trang viên đã được khôi
phục gần như hoàn toàn.
Riêng bà Loan, ruột gan
mỗi lúc một cồn cào, khiến bà không thể nằm yên, khẽ khọt hé cửa, ra thềm ngồi.
Gió đêm hè từ mặt ao
mơn man khuôn mặt phẳng lặng của bà. Trăng hạ tuần mảnh như một vàng móng tay vẫn
còn đậu trên ngọn đề, tỏa một nguồn sáng xanh nhạt lên nền sân gạch còn chưa hết
mùi nồng của gạch mới. Ngay đằng sau nhà khách là tán đề vẫn rì rầm lời tâm
tình, nghe lúc nào cũng rất quen mà cũng rất lạ. Bà ngước nhìn đỉnh thiên đăng
sau 9 năm ngọn đèn biểu tượng đã sáng lại, báo hiệu thời kỳ phục hưng của họ
Đào. Chín năm liền, ngọn đèn tuy tắt nhưng vẫn cháy sáng trong lòng mọi thành
viên từ họ nội đến họ ngoại. Thời ấy, ban đêm nó làm ta yên lòng như đức tin
cho các tín đồ, ban ngày nhìn nó lồng lộng trên nền trời mà thấy mình như có
huân chương trên ngực. Lúc này, ngọn đèn đang lung linh trong đáy mắt bà, đưa
bà trở lại miền kí ức bộn bề kỉ niệm vừa đậm đà chất lãng mạn vừa trần trụi
tính hiện thực, lắm ngọt bùi và cũng không ít đắng cay. Ôi những tháng ngày nghẹt
thở trước họa xâm lăng, những giây phút hãi hùng do đạn lửa khét lẹt và máu
loang, cả những năm dài hoảng loạn, tan hoang. Ôi cha! Sao người đức độ nhường ấy
lại bị trời áp đặt một bản mệnh bất công đến thế, để lần này quay lại, con
không được hội ngộ cùng cha?! Đối với cha, nỗi oan khiên này là quá lớn, nên
năm tháng sẽ chẳng dễ gì xoa dịu và niềm thương xót cha cũng sẽ không nguôi đè
nặng lên trái tim con!...
Trăng đã xuống hẳn bên
kia núi Cột Cờ. Bà Loan vẫn ngồi chỗ ấy trên hè nhà ngang, im lìm trong đêm
thâu và giữa gió nam lộng thổi và trong kí ức của bà cũng đang nổi gió, đánh thức
toàn bộ quá khứ với những hình ảnh sắc nét như một cuốn phim mầu, và bà đang thả
hồn mình trôi ngược về miền kí ức đầy ắp những buồn vui, hào hùng, đê mê, ngọt
lịm… mãi đến lúc trời bừng sáng, bà mới được kéo trở về hiện thực. Ngoài cổng
đã có tiếng gọi í ới của mấy bếp đến giỗ sớm.

