Dế mèn phiêu lưu ký - Phần III - Phần 1

Phần III

Xóm
ở chơ vơ trong cái cù lao giữa nước, muốn vào đất liền phải qua bãi lầy và một
dòng sông nhỏ. Theo thói quen ở bãi, vả lại, đường sá đi lại diệu vợi, mọi nhà
trong cù lao không mấy ai ra ngoài, không ai nghe biết tin tức mọi nơi. Suốt
ngày bàn tán quanh quẩn lúc nào cũng vang động tiếng cãi cọ, tranh nhau đoán
suông xem bao giờ thì trời mưa. Suốt đời họ mong mưa. Bởi có mưa, đất lầy
nhuyễn ra, dễ đào bới, mới được cái ăn. Cứ điều qua tiếng lại, mỗi miệng thêm
một lời, không ai nhịn ai, uồm uồm oang oang mãi lên. Cánh này đã to tiếng thì
thì phải biết là ầm ĩ. Mới có cậu ễnh ương căng mép, phình bụng chỉ nói một câu
bình thường cũng váng tai cả xung quanh rồi.

Chúng
tôi vào đây, nghe loạn xạ, mà đi một lúc chưa gặp ai. Mãi sau có anh Rắn Mòng
trông thấy chúng tôi Rắn Mòng ngoe nguẩy trườn ra - chỉ có trẻ em nhút nhát thì
sợ Rắn Mòng chứ thật ra anh Rắn Mòng hiền như cái đụn rạ, Không ai thấy anh nói
bao giờ, tưởng câm, nhưng anh ấy chỉ có tính ít nói thôi. Hàng ngày, anh Mòng
vơ vẩn trên mặt nước đợi mồi. Một Muỗi Mắt, một gã Bọ Bèo lạc tới, anh tợp
ngay. Nhưng thường đợi cả tháng cũng chẳng được cái tợp nào. Mòng đương lúc
đói, mới nghe tiếng chân chúng tôi đi tới liền bò ra. Nhưng khi thấy chúng tôi
to lớn, chân càng gai ngạnh không thể là mồi của anh thì, thì Mòng lại cúp mắt
xuống, nhìn chỗ khác và trườn đi.

Sau
có Nhái Bén trông thấy chúng tôi. Nhái Bén tính nhau nhảu liền ra bảo ễnh ương
đi rong khắp nơi đánh lệnh vang vang rao cho cả làng nước biết có người lạ vào
địa phận. Thế là, cả xóm lô nhô kéo ra. Trông những cái bụng lép và nét mặt vêu
vao, tôi đoán biết họ kéo ra làm gì. Họ ra xem chúng tôi có gì cho ăn hoặc
chúng tôi có phải là thức ăn được không. Nhưng thấy chúng tôi sừng bướng, đầu
mình bọc giáp sắt, chân mang khí giới nhọn hoắt thì họ lại lờ vờ lảng dần.

Đã
lâu trời không mưa, không có nước dềnh vào xóm - nước hồ lâu mưa thì trong vắt,
chỉ đẹp mắt mà không có thức gì ăn nên dân cư trong hồ đói lắm. Bao giờ cũng
vậy, sự cùng quẫn hay khiến ta nghĩ ngợi và giận dữ. Không biết vặc vào ai.
Chẳng biết trời ở đâu mà lôi xuống bắt làm mưa - dù cho tiên sinh Cóc có được
tiếng là cậu ông trời đi chăng nữa thì cũng đành chịu, cho nên họ đâm ra nóng
tính, động một tí cũng cáu kỉnh, bực tức ầm cả lên. Trong xóm không lúc nào dứt
tiếng chửi vã. Nhà này đòi nợ nhà kia, chỗ này bàn, chỗ kia tán, inh ỏi những
uôm oạp, những kèng kẹc ngày đêm không bao giờ ngớt, bởi vì không biết giải
quyết thế nào.

Thấy
chẳng ăn thua gì, mấy anh nọ lảng đi như Rắn Mòng. Chỉ còn đôi ba bác Cóc ngẩn
ngơ đứng lại. Một Cóc tóp tép miệng, như tợp được mồi, vờ nhai cho đỡ thèm. Một
Cóc khác bước ra, cất lên một giọng rất văn vẻ ( Cóc vẫn nổi tiếng thầy đồ,
thầy đồ Cóc trong tranh Tết ):

-
Hà cớ mà nhị vị tráng sĩ du nhàn qua bản thôn?


chán, nói chữ mà chưa chắc đã biết nghĩa, tôi bấm bụng nhịn cười thầy đồ Cóc
rồi dùng cái khoa giao thiệp hoa mỹ khôi hài đó đáp đùa lại:

-
Thưa tiên sinh, chúng tôi đi du lịch.

-
Kèng kẹc! Du lịch! Kèng kẹc! Du lịch! Vậy bỉ phu xin hỏi nhị vị tráng sĩ, nhị
vị xưa rày là tay dọc ngang nào biết trên đầu có ai, thế thì chắc nhị vị phải
nghe tiếng từ lâu rằng bỉ phu mặc dầu thanh bạch ở hang dưới đất nhưng bỉ phu
là cậu thằng Trời đấy! Nhị vị qua chơi nhiều nơi trên hoàn cầu, nhị vị có gặp
thằng cháu "trời đánh thánh vật" nhà tôi ở đâu không?

Trũi
mỉm cười, dùng càng hích tôi một cái. Tôi nháy, ý bảo phải nghiêm một chút, gặp
đứa dở hơi thì cũng cứ liệu lời cho qua chuyện mới được. Tôi bèn lấy điệu vuốt
râu tưởng tượng, làm vẻ đứng đắn trả lời rằng:

-
Thưa tiên sinh, chúng tôi có gặp ông Trời.

-
Kèng kẹc! Rất tiếc! Kèng kẹc! Rất tiếc không được tương kiến trước. Thế thì nếu
như từ nay về sau nhị vị tráng sĩ có còn gặp nó thì hỏi nó cho bỉ phu rằng: Vì
lẽ gì mà lâu nay bản thôn không có nước mưa? Cái thằng "trời đánh thánh
vật" cháu tôi mê mải tổ tôm xóc đĩa ở đâu mà không biết suốt đêm cậu Cóc
nó phải nghiến răng kèng kẹc đến nỗi đâu đâu cũng nghe như tiếng trống đăng văn
ấy chăng, đến đỗi cậu nó đã nghiến mòn hết cả răng rồi đấy chăng?

Suýt
nữa tôi bật cười thành tiếng. Giỡn chơi thế chứ nào tôi biết cái lão Trời
"trời đánh thánh vật" ấy ở mô tê! Tôi còn đương bụm miệng nhịn cười,
nhưng Trũi đã ngứa tai không giữ nổi vai kịch, bỗng choang một câu:

-
Trời với đất, cậu với cháu, chỉ vớ vẩn! Nói thẳng thừng là muốn ăn mà chỉ ngửa
tay thế thì kêu đến sái cổ, gãy răng, gãy hàm nữa cũng chẳng quả sung nào rụng
trúng vào mồm đâu.

Cóc
còn đương ngơ ngác nghe chưa thủng câu nói mỉa mai của Trũi, tôi đã chen vào,
át đi, tôi cung kính, lễ phép nói to:

-
Thưa tiên sinh, tôi nhớ ra rồi, tôi nhớ dù chưa được tiên sinh dặn thế, chúng
tôi cũng đã có tâu hỏi việc lâu nay sao hạ giới không mưa. Ông Trời ông ấy cứ
xua tay nhăn mặt mà rằng hồi này tôi mắc bận, chưa mưa được, chưa mưa, bận lắm
lắm. Việc ông Trời là việc làm mưa mà ông ấy lại kêu mắc bận, chẳng hiểu bận
gì, tôi cũng chẳng hiểu ra sao cả, nhưng không dám hỏi nữa.

Tôi
nói thế, Cóc ta đã kêu kèng kẹc vẻ mãn nguyện, ầm ĩ:

-
Bỉ phu hiểu rồi! Hiểu rồi! Hiểu rồi! Thế ra cháu nó bận quá đến nỗi quên cả cho
cậu nó uống nước. Cháu nó bận quá! Có thế chứ! à ra thế! Thảo nào!

Cóc
cứ dấm dớ lý sự và lẩm nhẩm một mình nghĩ, một mình nói thế trong khi cả đàn
cóc nhô nhốp nhảy ra lại nhảy vào, vừa kèng kẹc, vừa gật gù: Có thế chứ, à ra
thế! Thảo nào! Tự an ủi mình bằng câu chuyện tầm phơ của tôi. Các cậu cóc chỉ
quanh quẩn xó hang mà khoái cái oai hờ "con cóc là cậu ông trời" là
như thế.

Chúng
tôi nhắm mắt, nhắm mũi lại lăn ra cười. Đến khi mở được mắt, không thấy Cóc đâu
nữa chỉ thấy đi tới một chàng Nhái Bén gầy, lêu đêu cao, hai cái đùi bé quắt mà
dài quá nửa thân mình. Bộ quần áo thể thao của Nhái Bén bó sát người, cứ so le,
xộc xệch, càng có cảm tưởng như cái cẳng chân nó dài thêm ra. Chúng tôi lại
toan cười. Nhưng mặt Nhái Bén vốn nhợt bây giờ nghiêm xám hẳn lại. Tôi im. Tôi
ngờ có điều gì đây.

Quả
thật. Lão Cóc có tính khuyếch khoác chứ không phải lão Cóc là cục đất mà ai
chửi vào mũi lão cũng được! Còn có câu ví "gan cóc tía" cơ mà. Lão
cũng thâm lắm, cho nên sự chế giễu và nhạo báng lão của chúng tôi không qua nổi
ý tứ lão, đến lúc chúng tôi nhắm mắt lại cười vào mũi lão như thế thì lão cáu
lắm, và thành cái kết quả ngay là các lão đi khắp xóm là có kẻ trộm vào xóm.

Nháy
mắt, Nhái Bén nhảy thoắt đến trước mặt, nói:

-
Đại vương ếch có lệnh đòi.

Chúng
tôi theo Nhái Bén đến dưới một búi cúc tần ẩm thấp, nhớp nháp, trông vào thấy
ếch chồm chỗm ngồi vênh mõm trên viên gạch vuông như kiểu ngồi trên sập, ra
điều uy nghi lắm. Đôi mắt lồi nghiêm nghị của lão ta cứ giương trừng trừng. Hai
khoeo chân trước khoảnh ra, đôi chân sau xếp tè he lại. Ngực và bụng trắng bóng
giống lối cổ áo thầy kiện, cứ phập phồng đưa lên đưa xuống lấy hơi sắp nói,
nhưng mãi chẳng thấy nói gì. Đặc biệt trên gáy lão ra điểm mấy miếng xanh ở cổ
áo và lưng áo như hạt cốm. Bởi thế, lão cũng có tên là ếch Cốm.


có lẽ trong hoàn cảnh đói kém này, lão cậy mình còn to béo khoẻ mạnh nhất vùng
nên lão xưng là đại vương, đại vương ếch Cốm! Với chúng tôi, đại vương hay là
cái gì thì cũng chẳng bận tâm, qua câu chuyện tôi chỉ có nhận xét tính lão cũng
hệt bọn đồ cóc đã dốt lại còn hay khoe chữ, còn cái tính khoác lác của ếch thì
một tấc đến trời, hơn Cóc nhiều. Chuyện với anh nói khoác nó chỉ biết nói cho
nó nghe và không biết nghe ai nói cả, cứ tức anh ách như bị bò đá.

ếch
cốm hỏi ( hay nói cũng không rõ )

-
Chúng bay sang buôn ngọc bên vùng Rùa Rùa trong chân núi...

Tôi
đáp:

-
Thưa, tôi...

-
Biết rồi, ta biết rồi, đây vào đến vùng Rùa Rùa còn xa một phiên chợ. Ngày
trước ta đã...

Trũi
sẵng tiếng ngắt lời:

-
Không, tôi không đến vùng Rùa Rùa!

-
Ta biết rồi... Ngày trước ta đã vào chơi vùng Rùa Rùa trong chân núi ấy...Ngày
trước ta...Ngày trước ta...Ngày trước ta...

Nói
có mấy câu thì đầu đuôi câu nào cũng "ngày trước ta..." và "ta
biết rồi...". Nên cho anh chàng khuếch khoác này thêm cái biệt hiệu là anh
"ngày trước ta" hay anh "biết rồi". Cái lão đại vương ếch
Cốm này chẳng biết cóc gì nhưng cái gì cũng nói trước, mình chưa nói hết câu nó
đã nói nốt câu mình nói, cái gì cũng tỏ vẻ biết, và cái gì ta cũng giỏi. Bây
giờ tôi mới rõ câu tục ngữ "ếch ngồi đáy giếng" thế mà thâm và ý
nghĩa sâu.

Không
ai chịu được những anh đã dốt lại hay tự đắc và dở hơi. Trũi có tính nóng nảy.
Thấy trái tai, Trũi cãi phăng, nói phăng. Rồi muốn ra sao thì ra!

Trũi
văng một câu:

-
Này ông hỏi chúng tôi, chúng tôi đã trả lời đâu mà ông biết được, ông chẳng
biết cóc gì hết! Ông là ếch ngồi đáy giếng, ếch ngồi đáy giếng chỉ trông thấy
mẩu trời trong miệng giếng đã tưởng nom thấy cả vòm trời! Ha ha! ếch ngồi đáy
giếng. Hôm nay mới thấy thật ếch ngồi đáy giếng.

ếch
cốm tức quá, hét ầm ỹ đuổi Trũi, Trũi điềm nhiên giơ càng. ếch Cốm không dám
xông đến. Chúng tôi không chạy, cũng không nói, chúng tôi ung dung đi ra. Làm
vẻ ngông nghênh cũng không tốt, nhưng lúc ấy chúng tôi thú vị như thế đấy.

ếch
cốm gọi cả xóm lại, bàn cách nện chúng tôi. Nhưng buồn cười thay, xóm này mới
chỉ rỉ tai bàn bí mật mà đi tận xa xa cũng nghe tiếng uôm oạp. Nói thế này, thế
nọ, cứ ầm ỹ rối xoè. Ai cũng kêu là ghét hai thằng lếu láo, giá thấy mặt bây
giờ thì phải đánh cho chúng mấy đánh. Những quân lang chạ ở đâu đến rõ bọn đầu
trộm đuôi cướp. Phải vặn cổ nó xuống, tức lắm, phải nện cho chúng nó một trận
nhừ tử.

ếch
cử ễnh ương và Chẫu Chàng đi đánh chúng tôi, cả hai anh chàng cùng nhăn nhó là
có bệnh đau bụng kinh niên. ếch bảo Cóc. Đáng lẽ Cóc phải hăng hái đi nhất thì
Cóc trả lời rằng với chúng tôi, Cóc là chỗ quen biết, xưa nay có giao thiệp, vả
chăng, đã là thầy đồ nho nhã biết ngậm cái bút lông mèo thì không bao giờ
thượng cẳng chân, hạ cẳng tay như kẻ tầm thường. Đến lượt Nhái Bén, Nhái Bén
ngoẹo mình, giơ mạng sườn, làm hiệu và kiếu: tôi gầy lắm, đứa nào thổi mạnh một
cái tôi cũng ngã huống chi chúng nó những hai đứa... Rắn Mòng khước mình vừa
lột, xương cốt mình mẩy còn mỏng manh lắm, chưa làm việc nặng được.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.