36 Mưu Kế Và Xử Thế - Phần 2

CƯỜNG CHIẾN KẾ

KẾ THỨ BẢY:

DĨ VU VI TRỰC

Lấy đường vòng làm đường thẳng

A. Nguồn gốc:

Kế này có rút từ sách “Tôn Tử. Quân tranh thiên”: Cái khó nhất trong cuộc chiến giữa ta và địch là ở chỗ làm thế nào để thông qua con đường “vu hồi, khúc triết” (ngoằn ngoèo, phức tạp) để đạt được mục đích mà lẽ ra phải đi thẳng. Biến bất lợi thành có lợi, cố ý đi vòng vèo và lấy cái lợi nhỏ để dẫn dụ đối phương, như vậy thì làm được cái việc: Hành động sau đối phương nhưng lại chiếm được cứ điểm (yếu địa) mà hai bên đang tranh giành trước. Đó gọi là thực hiện được mưu kế “dĩ vu vi trực”.

B. Chú bình:

Nhà lý luận quân sự người Anh Harte trong cuốn: “Chiến lược: con đường gián tiếp” đã viết: về chiến lược, con đường vu hồi dài nhất thường là con đường ngắn nhất để đạt được mục đích. Con đường gián tiếp tức là tránh đường tiến công hoặc mục tiêu mà địch vẫn chờ đợi theo tự nhiên, trước hết làm cho địch mất cân bằng trước trận chiến” Luận điểm này có thể coi là một sự lý giải mới cho kế: “Dĩ vu vi trực” trên ý nghĩa rộng.

Mục tiêu ở hướng đông, nhưng tiến quân về hướng tây, muốn tiến thì trước hết hãy lùi, đó là sự biểu hiện về mặt không gian của “dĩ vu vi trực”. Để nhanh chóng đánh bại kẻ địch mạnh đang tiến công thì sử dụng chiến lược kéo dài, đó là biểu hiện về mặt thời gian của “dĩ vu vi trực”. Hai bên đang đối kháng quân sự, cả hai đều cố tìm mọi cách để cản trở và phá hoại kế hoạch và hành động của đối phương. Cho nên, bất kỳ một quân đội nào, muốn đạt được mục đích của mình đều cần và nên phải thực hiện hành động “vu hồi” tạo thành “ảo giác khúc xạ” trong tư duy phán đoán của địch, chứ không thể tiến thẳng, lui thẳng khiến cho đối phương dễ dàng nắm được ý đồ của ta.

Cũng như vậy, trong chính trị, ngoại giao, kinh tế… nếu chúng ta biết khôn khéo sử dụng kế “vu hồi” thì chúng ta có thể thu được hiệu quả tốt hơn nhiều so với các cách thông thường.

C. Dẫn truyện:

1. Nước Thục trúng kế diệt vong:

Tháng 5 năm thứ 4 đòi Ngụy Nguyên đế (năm 263 TCN), nước Ngụy mở một trận quyết chiến cuối cùng diệt nước Thục. Trung Hội dẫn quân chủ lực của nước Ngụy hơn 10 vạn người tiến công chính diện, đánh Hán Trung và truy bức Thành Đô. Khương Duy dẫn quân Thục phòng thủ ở vùng đất yết hầu hiểm yếu Thiểm Xuyên. Quân Ngụy bị thương vong suy yếu nghiêm trọng. Kế hoạch diệt Thục của Ngụy đứng trước nguy cơ thất bại. Lúc đó, Đặng Ngải hiến kế cho Tư Mã Chiêu: không nên cường công quyết chiến với địch, nên sử dụng chiến lược vu hồi về phía sau, từ Âm Bình, Giang Du, men theo Quảng Hán, Đức Dương chiếm lấy Miên Dương rồi tấn công Thành Đô. Âm Bình là cửa ngõ Lũng Nam vào đất Thục. Nằm ở giữa hai nhánh bắc nam của sông Bạch Thủy. Tháng 10 năm đó, Đặng Ngải dẫn hơn một vạn quân tinh nhuệ, vũ trang nhẹ tiến theo đường nhỏ sườn núi khe suối, đi hơn 700 dặm đường, vượt qua những hẻm núi cao, tới đất Giang Du và tiến vào vùng hậu phương nước Thục. Nhờ Đặng Ngải sử dụng kế sách vu hồi chiến lược, ngoài dự đoán của quân Thục mà đã bí mật vượt Âm Bình thành công, làm thay đổi hoàn toàn chiến cục, từ đó đặt đại quân của Khương Duy vào thế bị tấn công từ phía sau và nước Thục nhanh chóng bị tiêu diệt.

2. Kế không cự mà tuyệt của Chu Thắng Phi

Thời Tống Cao tông, Miêu Phó và Lưu Chính Ngạn làm phản, bức Cao tông cho phép Long Hựu Thái hậu buông rèm nghe chính sự. Quân đội cứu viện cho Hoàng đế bao vây kinh thành. Để bảo vệ Hoàng đế, Chu Thắng Phi đã thuyết phục Miêu, Lưu đầu hàng. Trong khi quẫn bách, Hoàng đế đã phải hạ chiếu thư phong Miêu, Lưu làm quan vùng Hoài Nam, cho nắm giữ toàn bộ quân đội. Triều đình hy vọng họ nhanh chóng đi nhậm chức, bộ hạ của Miêu Lưu là Trương Quỳ mới bày mưu rằng, phải yêu cầu Hoàng đế lập khế ước bằng đồng để làm chứng cho chắc chắn. Thế là, bọn Miêu Lưu mang theo chiếu thư đến phủ của Chu Thắng Phi yêu cầu thực hiện việc lập khế ước. Chu Thắng Phi gọi người giúp việc đem bút ra, tấu xin Hoàng thượng cho phép làm khế ước bằng đồng, đồng thời lệnh cho quan thuộc hạ tra tìm kỹ những chuyện tương tự như vậy trong lịch sử để thực hiện theo những cách làm trước đó. Miêu, Lưu vô cùng hồ hởi. Ngày hôm sau trước khi nhập triều, viên quan dưới của Miêu Phó là Phó Túc tới gõ cửa phủ Chu Thắng Phi, nói có việc gấp cần gặp Chu Thắng Phi, Chu Thắng Phi lệnh cho phép ông ta vào. Phó Túc nói: hôm qua đã nhận được thông tri của Hoàng thượng, chuẩn cho hai tướng Miêu, Lưu được lập khế ước bằng đồng, đây là dịp vui hiếm có, vậy hôm nay có thể tổ chức khao vui được chưa? Chu Thắng Phi nhận thông tri Phó Túc đem tới, gọi mấy viên quan giúp việc tới xem, đột nhiên, Chu Thắng Phi nhìn mấy viên quan đó, hỏi: sai các ông tra tìm những cách xử lý của người xưa, các ông đã tìm thấy chưa? Các quan đáp: việc này không có tiền lệ. Lại hỏi: làm khế ước bằng đồng theo cách trước đây, các ông có biết làm thế nào không? Các quan đều trả lời: “Không biết”.

Thế là Chu Thắng Phi nói: “Như vậy có thể cho họ khế ước bằng đồng được không?” - Các quan đều cười. Phó Túc cũng cười, lắc đầu nói: vậy thì tôi cũng không còn cách nào khác. Nói rồi, ông ta quay về. Và thế là nhờ biện pháp vu hồi này. Chu Thắng Phi đã tránh được xung đột trực tiếp mà vẫn đạt được hiệu quả như ý muốn.

3. Mao Trạch Đông dùng kế “vu hồi” phá tan lần bao vây tấn công thứ ba của Tưởng Giới Thạch

Tháng 7 năm 1931, Tưởng Giới Thạch chiêu tập 30 vạn quân, tự phong chức Tổng tư lệnh, bắt đầu cuộc bao vây tấn công lần thứ ba đối với Hồng quân Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch thề rằng: lần tiến công này, nếu không toàn thắng thì có chết cũng không trở về Nam Kinh.

Khi đó quân chủ lực của Hồng quân có không quá 3 vạn người, lại chinh chiến gian khổ, không được nghỉ ngơi chỉnh đốn và bổ sung lại, đang phân tán ở miền tây Phúc Kiến làm công tác dân vận, địch mạnh, ta yếu, tình hình vô cùng nan giải. Trước tình thế như vậy, Mao Trạch Đông quyết định dùng phương châm né tránh quân chủ lực của địch, vòng lại phía sau đánh bộ phận mỏng yếu, phá vòng vây của địch.

Ngày 31 tháng 7, khi Hồng quân tiến quân từ Hưng Quốc đến Phú Điền theo phương án đã định, bị đối phương biết được, hai sư đoàn địch đã tới Phú Điền trước, Hồng quân buộc phải quay trở lại đồi Cao Hưng phía tây bắc Hưng Quốc. Trước tình hình 3 mặt đông, nam, bắc đều bị địch bao vây, chỉ còn phía tây là sống Cán, Mao Trạch Đông quyết định dùng một bộ phận binh lực nghi binh hướng sống Cán để dụ dỗ và kiềm chế quân chủ lực của đối phương. Bộ phận chủ lực còn lại lợi dụng đêm tối, luồn qua khe trống địch ở phía bắc và phía đông nam chui về phía sau, tấn công bộ phận mỏng yếu của địch ở đây.

Từ 6 đến 11 tháng 8, liên tiếp đánh ba trận ở Liên Đường, Lương Thôn và Hoàng Phá, tiêu diệt được phần lớn sinh lực địch. Khi địch biết được tình hình liền vội và quay về hướng đông, Mao Trạch Đông lại tiếp tục dùng một bộ phận binh lực nghi binh về hướng Đại Kim Trúc rồi đích thân dẫn quân chủ lực lặng lẽ vượt qua khe hở không đến 20 dặm (dặm Trung Quốc = 0,5 km) ở giữa lòng địch và lại một lần vượt vòng vây một cách tài tình. Sau đó, thừa cơ địch rút lui, Hồng quân liên tiếp đánh hai trận lớn tại Lão Doanh Bân đồi Cao Hưng và đỉnh Phương Thạnh. Như vậy trước kẻ địch hùng mạnh, Hồng quân không những không bị bao vây tiêu diệt mà ngược lại còn tiêu diệt được hơn 3 vạn quân Quốc dân đảng, phá tan lần bao vây thứ ba của Tưởng Giới Thạch.

4. Mao Trạch Đông luận “dĩ vu vi trực”

Binh gia Trung Quốc, đặc biệt là Đạo gia đều hết sức coi trọng “dĩ thối vi tiến, dĩ vu vi trực”: có lúc để tiến thì rút lui là điều rất cần thiết, Mao Trạch Đông trong cuốn “Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc” có nói: kịp thời rút lui, đặt mình vào vị thế hoàn toàn chủ động, rút về sau để chỉnh đốn đội ngũ, tích thêm quân lực và chuyển thành phản công… Toàn bộ tác dụng của việc rút lui chiến lược là ở chỗ chuyển thành phản công, rút lui chiến lược chỉ là giai đoạn thứ nhất của phòng ngự chiến lược, mấu chốt quyết định của toàn bộ chiến lược là ở chỗ giai đoạn phản công nối tiếp sau đó có thể giành thắng lợi hay không?

Việc rút lui không phải là tùy tiện. Nhưng nhiều người không biết được bí quyết của việc rút lui ở chỗ nào, vì dưới con mắt của họ thì rút lui và bỏ chạy không có gì khác nhau cả. Chỉ nhìn về hình thức thì có thể là như vậy, vì thế yếu hơn, địa bàn mất, không còn khả năng chống trả thì có cách nào khác là sợ hãi mà bại trận bỏ chạy.

Mao Trạch Đông cho rằng rút lui không phải là vô điều kiện. Khi địch mạnh, tương quan lực lượng cách nhau quá lớn thì không thể cố gan mà liều chết. Tất nhiên rút lui thì chắc chắn sẽ mất một bộ phận địa bàn, thậm chí là quan trọng, nhưng đổi lại là sự chấn chỉnh quân đội và phản công sau đó. Rút lui cũng không phải là vô hạn. Địa hình có lợi và gặp phải lực lượng địch dễ đánh là điểm cuối của rút lui, mà chung điểm của rút lui lại là khởi điểm của phản công. Rút lui thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến sĩ khí quân đội. Nhưng nếu được chuẩn bị tốt về tư tưởng thì sẽ không có gì là hại cả, nội bộ đều biết rằng rút lui và thất bại là hai việc khác nhau. Tào Quệ đã từng xuống xe quan sát vết bánh xe rút lui của địch xem có hỗn loạn không để phán đoán địch có phải giả bại trận để dụ đối phương mắc lừa không. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, sự rút lui của Bát Lộ Quân Trung Quốc là “đi sâu về địch hậu” phát động lôi kéo quần chúng triển khai chiến tranh du kích độc lập tự chủ.

Thời kỳ đầu chiến tranh giải phóng Trung Quốc, Hồ Tông Nam nhận lệnh của Tưởng Giới Thạch tấn công Thiểm Bắc. Trước khi xuất quân đã thề rằng không chiếm được Diên An quyết không cưới vợ. Mao Trạch Đông dẫn hai ba trăm người chủ động rút khỏi Diên An. Lúc đầu, có một bộ phận không đồng ý rút khỏi Diên An, yêu cầu “không bỏ rơi một tấc đất” “thề chết quyết bảo vệ Diên An, yêu cầu “bảo vệ Trung ương Đảng”. Phía Matxcơva cũng cho rằng quyết định rút lui là sai lầm, từ đó sẽ dẫn đến thất bại của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng Mao Trạch Đông không cho như vậy, ông nói: mất một tòa thành không cũng chẳng hề gì, mục đích là đập tan quân đội địch. Tạm bỏ Diên An, rồi sau quay lại. Về sau, Mao Trạch Đông giải thích về việc này: Tưởng Giới Thạch chỉ cần chiếm được Diên An là ông ta có thể bỏ tất cả. Chúng ta phải biết cải “thuật” của đấm bốc như thế nào, thu nắm tay về là để có sức mạnh nhiều hơn cho đòn tấn công tiếp theo. Chúng ta không sợ Tưởng Giới Thạch tấn công Diên An, mà chúng ta sợ điều ngược lại.

Tưởng Giới Thạch đắc ý tới Diên An, phá hủy tất cả thành luỹ ở đó và tuyên bố: chỉ cần ba tháng là có thể tiêu diệt được toàn bộ Hồng quân. Nhưng sau 3 tháng, quân đội Tưởng chiếm lĩnh Diên An cứ bị tiêu diệt dần. Đây là điều ông ta không hề nghĩ tới trước đó.

Một năm sau, Diên An lại trở lại tay Đảng cộng sản. Nhưng Mao Trạch Đông và Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc không quay lại Diên An nữa mà tiến về phía Hoàng Hà theo sự phát triển của tình hình, tới Tây Bá Pha thuộc tỉnh Hà Bắc. Nơi đó có nhiều thuận lợi cho chỉ huy các chiến trường toàn quốc.

Cuối cùng, Mao Trạch Đông đã đổi Diên An lấy toàn bộ Trung Quốc.

KẾ THỨ TÁM:

TỴ THỰC TỰU HƯ

Né chỗ mạnh đánh chỗ yếu

A. Nguồn gốc:

Sách “Hoài nam tử. Binh lược huấn” viết: “Tị thực tựu hư, nhược khu quần dương” (né chỗ mạnh, đánh chỗ yếu giống như là lùa đàn cừu vậy). Trong “Tôn. Từ. Hư thực thiên” cũng có ghi: “Phu binh hình tượng thủy, thủy chi hình, tỵ cao nhi xu hạ; binh chi hình, tỵ thực nhi kích hư” (việc dùng quân giống như là thế nước; thế nước, tránh cao mà chảy xuống thấp; dùng binh, tránh thực mà tấn công hư). Đại ý là: quy luật dùng binh giống như nước, quy luật của nước là tránh nơi cao mà chảy xuống nơi thấp, quy luật dùng binh là tránh nơi địch mạnh (kiên cố, vững chắc) mà tấn công vào vùng mỏng yếu.

B. Chú bình:

Né chỗ mạnh, đánh vùng yếu là một nguyên tắc cơ bản để giành thắng lợi trong chiến đấu. Trong chiến tranh, thường sử dụng lực lượng không đều nhau ở các hướng. Có hướng cần tập trung một lượng lớn binh lực, binh khí, tăng cường và bảo đảm về mọi phương diện giúp quân đội hướng đó có sức chiến đấu tương đối mạnh. Có hướng thì lực lượng được sử dụng mỏng yếu hơn. Bởi vì, với cùng một lực lượng nhưng bố trí khác nhau thì có hiệu quả tác chiến khác nhau. Tránh mạnh đánh yếu, yếu bị phá thì mạnh cũng tiêu hao, yếu bị diệt thì mạnh cũng không còn. Phía tấn công khi lựa chọn mục tiêu tác chiến, xác định hướng tấn công và phương hướng chủ yếu, nếu kiên trì nguyên tắc né mạnh đánh yếu thì quá trình tác chiến sẽ như “gió thu quét lá rụng”, nhanh chóng giành thắng lợi. Vì vậy, trước hết cần phán đoán chính xác sự phân chia lực lượng của đối phương. Từ cổ chí kim, binh gia không ai không hiểu quy luật “nước chảy xuống dưới thì thuận, quân đánh chỗ yếu thì lợi” nhưng trong thực tế chiến đấu, tấn công được vào vùng yếu của địch không phải là một việc dễ dàng. Kẻ tấn công vì phán đoán sai lầm cứ nghĩ rằng lợi dụng kẽ hở để tấn công điểm yếu, nhưng kết quả lại “vấp đinh” hoặc vì tấn công vùng yếu mà không chú ý kiềm chế vùng mạnh thì tình hình sẽ lật ngược hoàn toàn. Muốn “ăn thịt” nhưng rồi phải “gặm xương”. Vì vậy, đánh vùng yếu và kìm chế vùng mạnh của địch luôn phải kết hợp hữu cơ, chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, không thể thiếu đi một vế.

Ngoài ra, theo nghĩa rộng trong quan hệ ngoại giao, cạnh tranh trên thương trường cho đến việc lựa chọn phương hướng nghiên cứu khoa học, muốn đạt được kết quả tốt nhất thì cũng nên học một chút thuật “tỵ thực tựu hư: trường hợp nhiều kẻ mạnh cùng tranh giành thì nên tránh, những đề tài hấp dẫn nóng bỏng thì nên nhường, đi tìm những vùng đất chưa khai phá, ít người quan tâm thì dễ có được thành tựu. Mục đích chân chính của né mạnh đánh yếu là chỗ chuyển sự chú ý của đối phương sang một hướng khác, khiến đối phương lơi lỏng phòng bị, còn ta thì lợi dụng chỗ yếu mà tấn công vào tất đạt được mục tiêu.

C. Dẫn truyện:

1. Thuật né mạnh đánh yếu trong trận chiến Thành Bộc

Năm 632 TCN, Tấn Văn Công dẫn quân Tấn, Tề, Tần đi cứu Tống, quyết chiến với quân Sở đang bao vây nước Tống ở Thành Bộc (phía tây nam huyện Quyên Thành tỉnh Sơn Đông ngày nay). Khởi đầu trận chiến, quân Tấn để tránh phải đối đầu với cánh trung quân chủ lực trong thế trận quân Sở đã dùng chiến pháp né mạnh công yếu. Cách bố trí cụ thể là: quân Tấn trùm da hổ lên toàn bộ số ngựa và chiến xa của mình, trước tiên tấn công cánh bên phải quân Sở. Vì cánh quân này do quân của hai nước đồng minh của Sở là Trần và Thái ghép lại nên sức chiến đấu yếu, liên kết rời rạc, gặp phải sự tấn công của đoàn chiến xa giả hổ của quân Tấn, ngay lập tức tan tác. Chủ tướng cánh quân Tấn thượng là Hồ Mao, để dụ dẫn và tiêu diệt cánh quân Sở phía trái tương đối yếu đã cố ý dựng thẳng 2 lá cờ lớn (hành động thua chạy) rút lui nghi binh. Lúc này cánh quân hạ của Tấn sau khi đắc thắng liền tích cực hiệp đồng với cánh quân thượng cho các chiến xa của mình kéo theo những cành cây lớn khiến bụi bay mù mịt giả trang bại trận. Chủ tướng quân Sở là Tử Ngọc không biết đó là mưu kế đã hạ lệnh truy kích. Nguyên soái quân Tấn đã chỉ huy trung quân chủ lực thừa cơ cắt ngang đội hình quân Sở. Cánh quân Tấn thượng cũng quay lại giáp kích, cánh tả quân Sở đại bộ phận bị tiêu diệt. Tử Ngọc vội hạ lệnh rút lui mới bảo toàn được trung quân chạy về nước Sở.

2. Trận Bồ Bản, Hàn Tín vượt Hoàng Hà

Hàn Tín dẫn quân đánh Ngụy vương, cần phải vượt qua sông Hoàng Hà, theo địa thế vùng Hoàng Hà, Bồ Bản (miền tây huyện Vĩnh Tế, Sơn Tây ngày nay) là vùng thuận lợi cho vượt sông. Ngụy vương sai tướng là Bách Trực dẫn toàn bộ quân Ngụy đến đóng quân ở Bồ Bản. Thấy tình hình như vậy, Hàn Tín biết rằng vượt sông ở đó sẽ rất khó khăn, bèn sử dụng kế “dương đông, kích tây”, đem lán trại và một số lượng lớn thuyền đóng ở Bồ Bản, hàng ngày đều cho đánh trống, gõ chiếng huyên náo, đêm đến thì thắp đèn lồng, đốt đuốc sáng rực, để quân Ngụy tưởng rằng Hàn Tín đang tích cực chuẩn bị để vượt sông ở Bồ Bản. Nhưng Hàn Tín lại để cho đội quân chủ lực lặng lẽ di chuyển tới vùng thượng lưu Hoàng Hà, ở nơi quân Ngụy không phòng bị, dùng gỗ, kết thành bè rồi làm cầu nổi trên mặt sông và vượt qua Hoàng Hà, từ phía bên sườn và phía sau tấn công đội quân chủ lực của Ngụy đang đóng ở Bồ Bản. Quân Ngụy bị bất ngờ, trở tay không kịp, đại bại.

3. Thuật né mạnh công yếu trong hùng biện

Khi gặp trở ngại trong tranh luận, để giữ được thực lực của mình, tránh tiêu phí thời gian và tinh lực cho những tranh cãi vô ích phí lời tốn sức thì hãy né tránh chướng ngại, tìm khe hở, điểm yếu của đối phương mà tấn công. Hoặc nói vòng vo, nói ngoài lề, né tránh đường hoặc mục tiêu tấn công mà đối phương mong đợi, bề ngoài nói tới những vấn đề dường như chẳng liên quan đến sự việc, khiến đối phương lơ là, mất tâm lý cảnh giác, rồi sau đó dần lật trở lại vấn đề chính mà ta đã chuẩn bị sẵn, tìm ra thế yếu của đối phương mà tấn công thì sẽ thu được hiệu quả. Đây không phải là biện luận chính diện với đối phương mà là đi tuần tự từ cái này đến cái kia, đối phương thừa nhận sự việc này thì ta chuyển đến lý lẽ khác, lòng vòng 360 độ, đến khi đối phương phát hiện ra cái mình đồng ý lại là cái lẽ ra mình phải phản đối.

Trong những năm cách mạng văn hóa Trung Quốc, một lần trong Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, hơn chục đại biểu Hồng vệ binh quây quanh Thủ tướng Chu Ân Lai tranh luận, ngoan cố cho rằng nhất định phải đánh đổ Trần Nghị. Tranh luận thỉnh thoảng lại trở nên kịch liệt, gay gắt, nhưng Chu Ân Lai trước sau vẫn vẻ mặt hiền từ, giọng nói nhẹ nhàng, chậm rãi để ứng đối với những tên đại biểu được lựa chọn trong số hàng vạn Hồng vệ binh khắp nước. Ông nói hết sức có lý, có tình.

Ông không hề dao động, nhân nhượng một bước nào trong khi lập luận. Có những lúc hai bên tranh luận giằng co ở những điểm quan trọng, ông bình tĩnh nói: “Thôi được rồi, chúng ta hãy chuyển sang một chủ đề khác vậy”. Đại biểu Hồng vệ binh tất nhiên là vui vẻ chấp nhận lời đề nghị mà họ cho rằng có lợi cho họ và lại tập trung tâm lực để tổ chức hỏa lực tấn công. Thế nhưng khi bắt đầu một chủ đề mới thì đại biểu Hồng vệ binh giật mình phát hiện thấy họ lại quay lại chủ đề cũ mà ông Thủ tướng dẫn dụ lúc nào không biết và mấy vị đại biểu này vô tình đã tiến gần thêm một bước tới quan điểm của Thủ tướng. Và cuối cùng, Thủ tướng Chu Ân Lai tỏ rõ quan điểm của mình mà vẫn nắm chắc trận địa ban đầu: Bây giờ thì tất cả đã rõ, ai muốn ngăn cản xe của đồng chí Trần Nghị, tôi sẽ xuất hiện ngay lập tức. Các anh muốn lật đổ Trần lão tổng, thì sẽ không được với tôi.

Linh hoạt nắm lấy mục tiêu của cuộc tranh luận và những sai khác nhỏ giữa các mẹo tranh luận, trong quá trình đó cần tỉnh táo ghi nhớ mục đích của tranh luận, linh hoạt vận dụng các cách thức tranh luận mà về hình thức nhiều khi rất xa với mục đích chính yếu, đồng thời phối hợp điều chỉnh mục tiêu trước mắt, cần có dự kiến đối với những bước tiếp theo của cuộc tranh luận, thích ứng với sự thay đổi của tình hình… đó là mấu chốt để giành thắng lợi.

4. Trần Nghị, Túc Dụ tránh mạnh đánh yếu, diệt 3 lữ đoàn địch trong chiến dịch Túc Bắc

Dùng lực lượng mạnh của mình, đánh lực lượng yếu của địch, đó là những kiến thức thông thường trong chỉ đạo chiến tranh. Dù địch có mạnh thế nào thì cũng có điếm yếu. Giỏi phát hiện được kẻ địch yếu và điểm yếu của kẻ địch mạnh là mấu chốt để giành chiến thắng của một đội quân không mạnh.

Thời kỳ chiến tranh kháng Nhật của Trung Quốc, trong giai đoạn phòng ngự chiến lược, vào lúc quân Nhật tiến công mãnh liệt nhất, Bát lộ quân và Tân tứ quân Trung Quốc đã né tránh mũi nhọn tiến công của quân Nhật, kiên trì lối đánh du kích ở địch hậu. Nếu cứ liều mình mà đối chọi với lực lượng tinh nhuệ của Nhật thì chỉ như trứng chọi với đá. Thế nhưng, lực lượng ngụy quân do Nhật tổ chức lại đều ô hợp, nhiều chủng loại, trang bị kém, sức chiến đấu yếu, tương đối dễ đánh. Vì vậy, Mao Trạch Đông đưa ra phương châm: tập trung phân tán và cô lập địch. Đánh địch yếu trước, đánh địch mạnh sau. Ngụy quân bị tiêu diệt dần và quân đội Nhật ngày càng cô lập, sức chiến đấu cũng yếu đi, không còn hùng mạnh như lúc đầu nữa. Vùng Tân Hải, Sơn Đông đã sử dụng linh hoạt phương châm này, từ 1942 đến 1944, liên tục đánh hạ các cứ điểm Đàm Pha, Cán Du, Doanh Huyện… tiêu diệt tổng cộng 3 lữ đoàn ngụy quân và liên kết 4 khu chiến lược Tân Hải, Lỗ Trung, Lỗ Nam, Giao Đông, hình thành một cục diện mới cho căn cứ địa kháng Nhật vùng Sơn Đông.

Chiến dịch Túc Bắc trong thời kỳ chiến tranh giải phóng cũng là một ví dụ điển hình đánh địch yêu trước, đánh địch mạnh sau của quân giải phóng Trung Quốc.

Tháng 12 năm 1946, Quốc dân đảng tập trung 25 lữ đoàn chia thành 4 mũi từ Đông Đài, Hoài Âm, Túc Thiên và Phong Huyện tấn công chiếm lĩnh vùng Tô Bắc, tiêu diệt lực lượng chủ lực giải phóng quân Hoa Đông. Quân Quốc dân đảng khí thế hùng mạnh lấn át Quân giải phóng Trung Quốc, nhưng họ lại có nhược điểm lớn là chính diện tấn công quả rộng, khe hở giữa các mũi tấn công quá lớn rất khó hiệp đồng giúp đỡ lẫn nhau. Nhược điểm này tạo điều kiện cho Quân giải phóng Trung Quốc thực hành tác chiến cơ động ở vùng giữa của đối phương.

Chọn chỗ yếu mà đánh trước, Trần Nghị, Túc Dụ qua phân tích tình hình cho rằng: cánh quân từ Túc Thiên tấn công Mộc Dương và thị trấn Tân An do Ngô Kỳ Vỹ chỉ huy được biên chế sư đoàn 11 và sư đoàn 69, so với những cánh quân khác tương đối dễ đánh. Trong đó, sư đoàn 11 là đội quân mạnh, là một trong 5 đội quân chủ lực của Tưởng Giới Thạch. Nhưng sư đoàn 69 chỉnh biên là đội quân liều lĩnh, trong đó có 3 lữ đoàn là đội quân ô hợp, sức chiến đấu không mạnh, nội bộ nhiều mâu thuẫn. Sư trưởng Đối Chi Kỳ xuất thân là mật thám. Mặc dù là phần tử liều chết chống cộng nhưng thiếu tài chỉ huy quân sự. Trong bố trí chiến dịch, 3 lữ đoàn của ông ta triển khai thành đội hình kéo dài từ đông sang tây, Bộ chỉ huy Sư đoàn chỉ dẫn theo một trung đoàn, nằm ở mé đầu cánh phải, hai bên sườn rất hở, dễ cho quân giải phóng đánh ép từ hai hướng nam, bắc. Ta trước tiên sẽ mở một cửa từ cánh trái của địch, sau đó thực hiện giáp kích hai mặt. Qua phối hợp bao vây chiến dịch và chia cắt chiến thuật khiến cho đầu và đuôi đối phương không thể liên hệ được với nhau và không thể chi viện được cho nhau. Trần Nghị và Túc Dụ quyết định tập trung binh lực đánh sư đoàn 69 mới được chỉnh biên của Đới Chi Kỳ. Kết quả tiêu diệt tổng cộng 3 lữ đoàn, hơn 2000 quân. Đới Chi Kỳ không đường tháo chạy, phải tự sát.

Trong điều kiện địch mạnh, ta yếu, chọn nơi yếu mà đánh không khác gì biến thế yếu về chỉnh thể thành thế mạnh cục bộ, biến phòng ngự chiến lược thành phản công cục bộ trong chiến đấu chiến dịch. Đó là điểm mấu chốt của thắng lợi.

KẾ THỨ CHÍN:

NHẤT TIỄN SONG ĐIÊU

Một mũi tên trúng 2 đích

A. Nguồn gốc:

Sách “Tùy thư. Trường Tôn Thạnh truyện”, ghi: Thời Nam Bắc triều, (557-581 TCN) ở Bắc Chu có một võ tướng tên gọi Trường Tôn Thạnh, người Lạc Dương. Ông thông minh hiếu học, rất tinh thông về binh pháp, võ nghệ cao cường, đặc biệt là tài bắn cung, nổi tiếng khắp nơi.

Khi đó, thủ lĩnh dân tộc thiểu số Đột Quyết ở vùng tây bắc Trung Quốc là Nhiếp Đồ đến Bắc Chu cầu hôn. Quân chủ Bắc Chu quyết định gả một công chúa cho ông ta. Để đảm bảo an toàn, phái Trường Tôn Thạnh dẫn một đoàn quân hộ tống Công chúa đến Đột Quyết. Nhiếp Đồ rất kính trọng Trường Tôn Thạnh, thường cùng ông đi săn. Dân địa phương cũng vô cùng kính phục sức khỏe phi thường và võ nghệ tinh tuyệt của ông. Có một lần, Nhiếp Đồ cùng Trường Tôn Thạnh đi săn, Nhiếp Đồ ngẩng đầu nhìn, trông thấy trên cao có hai con đại bàng lớn đang tranh nhau một miếng thịt, để thử tài bắn cung của Trường Tôn Thạnh, Nhiếp Đồ đưa cho ông hai mũi tên, mời ông bắn hạ hai con đại bàng. Trường Tôn Thạnh nhận tên ra roi cho ngựa chạy lên phía trước, ngắm đúng thời điểm hai con đại bàng đang tranh giành nhau rất hăng, giương cung, “vút” một mũi tên bay đi và hai con đại bàng cùng rơi xuống.

Về sau, người ta dựa vào câu chuyện Trường Tôn Thạnh dùng một mũi tên bắn rơi hai đại bàng để khái quát thành thành ngữ “một mũi tên trúng hai đích”, ý nói là dùng một biện pháp, nhưng được hai cái lợi hoặc làm một việc nhưng được hiệu quả cả hai mặt.

B. Chú bình:

Nhất tiễn song điêu - một mũi tên trúng hai đại bàng - còn gọi là: nhất thạch nhị điểu - một viên đá trúng hai con chim - tức là sử dụng một nước cờ (kế sách) mà diệt được từ hai đối thủ trở lên. Kế này ngay từ trước thời Nam Bắc triều Trung Quốc đã được vận dụng rất rộng rãi trong đấu tranh chính trị và quân sự. Thực hiện được mưu kế này không phải là đơn giản, cùng không phải dễ dàng, vì kẻ đối đầu với ta rất nhiều, chỉ một chút không thận trọng là dễ gây rắc rối, tai họa, vì vậy trước và sau khi hành sự, không được lộ mình, lại càng không thể nóng lòng sốt ruột, cần có sự khảo nghiệm của thời gian, không gian, nếu không sẽ gặp phải kết cục bi thảm, hậu quả khôn lường.

C. Dẫn truyện:

1. Tề Yến Anh dùng hai trái đào để giết ba võ tướng

Tề Cảnh Công khi còn tại vị, Yến Anh làm Tướng quốc. Đông triều cộng sự còn có “Tề bang tam kiệt”, tức là Điền Khai Cương, Cổ Trị Tử và Công Tôn Tiệp. Ba người này đều dũng mãnh phi thường, uy hùng bốn phương, được Tề Cảnh Công vô cùng quý mến.

Một lần, Tề Cảnh Công đến nước Tấn, Cổ Trị Tử cùng đi. Khi qua sông Hoàng Hà, Cảnh Công buộc con ngựa quý của mình ở đầu thuyền. Thuyền đến giữa dòng, đột nhiên, một con ba ba lớn ngoi đầu lên khỏi mặt nước, đớp lấy cổ con ngựa rồi lôi xuống sông, Cổ Trị Tử tay cầm kiếm nhảy ngay xuống nước đuổi theo con ba ba, đuổi tới 9 dặm, cuối cùng chém chết được ba ba, lấy lại được ngựa quý cho vua. Cảnh Công vô cùng mừng rỡ mới thưởng cho Cổ Trị Tử 5 xa mã, liệt vào hàng “ngũ thừa chi tân” (khách ngũ thừa).

Điền Khai Cương cũng dũng mãnh không kém. Có một chư hầu là Từ Tử không chịu khuất phục nước Tề, không thừa nhận địa vị bá chủ của Tề hầu. Cảnh Công lệnh cho Điền Khai Cương dẫn quân đi đánh. Quân Điền Khai Cương chiến đấu quyết liệt với quân Từ Tử ở Bồ Tuỵ. Điền Khai Cương hăng hái dũng mãnh đi đầu, chém chết đại tướng của Từ Tử là Doanh Sảnh, bắt hơn 500 giáp sĩ. Từ Tử khiếp sợ vô cùng mới vội thần phục Cảnh Công. Tề Cảnh Công cũng liệt Điền Khai Cương vào hạng “ngũ thừa chi tân”.

Lại nói về Công Tôn Tiệp: Tề Cảnh Công cùng Công Tôn Tiệp đi săn trong núi. Đột nhiên một con hổ lớn từ trong núi chạy ra, con hổ gầm lên rồi lao về phía Cảnh Công. Chỉ thấy Công Tôn Tiệp tay không xông tới, một cú đấm trời giáng làm con hổ chết ngay lập tức, cứu sống được Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công cũng liệt Công Tôn Tiệp vào hạng “khách ngũ thừa”.

Công Tôn Tiệp, Điền Khai Cương và Cổ Trị Tử kết làm huynh đệ. Ba người rất gắn bó, thề cùng sống chết. Nhưng họ cậy vào công lao và dũng lực của mình mà huênh hoang hống hách, vô cùng ngạo mạn, vô lễ. Đại thần nước Tề là Trần Vô Vũ tán phát tiền tài khắp nơi, mua chuộc lòng người, ngấm ngầm chuẩn bị cướp quyền thống trị nước Tề. Trần Vô Vũ và ba người bọn Điền Khai Cương kết thành bè đảng. Yến Anh vô cùng lo ngại. Nhiều lần ông định tìm cách giết chết mấy người này, nhưng lại sợ Tế Cảnh Công nổi giận, không những không giết được 3 người mà lại khiến họ cảnh giác phòng bị sẽ dẫn đến đại loạn.

Một hôm, Lỗ Chiêu Công cùng với Tướng quốc là Thúc Tôn Nhược tới thăm nước Tề. Yến Anh cùng Tề Cảnh Công mở tiệc chiêu đãi quân thần nước Lỗ. “Tề bang tam kiệt” cầm kiếm đứng gác ngoài cửa. Rượu được nửa tuần, Yến Anh nói với Tề Cảnh Công: “Đào tiên trong vườn đã chín, có thể trẩy xuống thưởng thức mừng thọ hai vị Quốc quân”. Tề Cảnh Công đồng ý, Yến Anh nói: “Đào tiên là giống quý hiếm, thần phải đích thân đi giám sát trẩy đào mới được”. Thế là Yến Anh cầm khóa vườn đào đi ra. Tề Cảnh Công nói với Lỗ Chiêu Công: “Khi tiên vương còn tại thế, có một người ở Đông Hải cống cho tiên vương một hạt đào lớn, nói là hạt đào tiên vạn thọ. Tiên vương sai đem trồng trong vườn này, hơn 30 năm sau, mặc dù cây đào rất xanh tốt, nhưng không nở hoa, về sau có hoa lại không kết quả. Mãi năm nay mới kết mấy trái đào, đó là của quý hiếm vô cùng nên mới cho khóa cửa vườn đào lại. Nay quân hầu tới thăm, tôi không dám hưởng một mình xin được cùng quân hầu thưởng thức?

Lỗ Chiêu Công chắp tay tạ. Một lát sau, Yến Anh dâng đĩa quả lên, chỉ thấy trong đĩa có 6 quả đào, mỗi quả đều to như cái bát, đỏ như lửa, mùi hương thơm nức, kỳ lạ. Yến Tử phụng mệnh dùng chén ngọc rót rượu mời Lỗ hầu. Người hầu dâng một trái đào, Lỗ hầu nhấp rượu, lấy đào ăn, cảm thấy vị thơm ngọt vô cùng, không ngớt lời khen ngợi. Tiếp đó, Tề Cảnh Công cùng nhấp chén rượu, ăn một trái đào, nói: loại đào này là thứ hiếm quý. Thúc Tôn Nhược đại phu hiền danh nổi khắp bốn biển cũng nên nếm thử một trái”. Thúc Tôn Nhược khiêm tốn nói: đức hạnh của tôi sao có thể sánh nổi Yến Anh, trái đào này nên để Yến Tử thưởng thức mới phải”. Tề Cảnh Công nói: Thúc Tôn Đại phu đã nhường như vậy, vậy xin mời cả Yến Tử và Thúc tiên sinh mỗi người nếm thử một trái”. Thúc Tôn Nhược và Yến Tử lạy tạ rồi mỗi người ăn một trái, uống một cốc rượu. Yến Tử nói: “Trong đĩa vẫn còn hai trái đào, trong các đại thần, ai có công lao lớn nhất thì có thể ăn hai trái này”. Tề Cảnh Công thấy phải, đồng ý để cho các đại thần tự kể công lao của mình cho Yến Tử luận công xét thưởng. Công Tôn Tiệp đứng ra trước nói: năm xưa thần phò Chúa công đi săn ở trong núi, giết chết mãnh hổ mà cứu Chúa công, công lao như vậy thì đã đủ để nếm đào chưa?” Yên Tử nói: “Ồ, ông tay không diệt mãnh hổ, bảo vệ an toàn cho Chúa công, vĩ đại như dùng hai tay đỡ trời cho khỏi sụp xuống. Công lao lớn như vậy tất nhiên nên uống một cốc rượu, ăn một trái đào”. Nói rồi đưa cho Công Tôn Tiệp một cốc rượu một trái đào. Công Tôn Tiệp uống rượu, ăn đào, rồi quay về đứng trong hàng. Lúc này, Cổ Trị Tử nhảy ra, nói: “Giết chết một con hổ thì có gì là kỳ tích? Năm xưa tôi từng chém chết yêu ngư trên Hoàng Hà, cứu nguy cho Chúa công, công lao như vậy không đáng được ăn đào hay sao?” Yến Tử nghe, nhanh chóng ban cho Cổ Trị Tử một cốc rượu, một trải đào. Đang lúc Cổ Trị Tử uống rượu, ăn đào thì Điền Khai Cương giận dữ xông ra, thét to: “Ta từng phụng mệnh Chúa công, thảo phạt Từ Tử, chém chết đại tướng trứ danh của Từ Tử, bắt sống hơn 500 giáp sĩ, khiến Từ Tử phải thần phục nước Tề, kinh động các chư hầu, khiến bọn họ đều phải mau chóng đến tôn Chúa công ta làm minh chủ. Công lao như vậy chẳng lẽ không đủ để được ăn đào của Chúa công?” Yến Tử nói với Cảnh Công: công lao của Điên Khai Cương quả là lớn gấp 10 lần của Công Tôn Tiệp và Cổ Trị Tử, nhưng thật đáng tiếc là không còn đào nữa, thôi đành thưởng một chén rượu vậy, đợi mùa đào sau có đào thì ban cho”. Tề Cảnh Công cũng nói với Điền Khai Cương: “Công lao của khanh lớn nhất, nhưng đáng tiếc khanh nói quá muộn. Bây giờ đã hết đào rồi, đáng tiếc, đáng tiếc”. Điền Khai Cương nắm chặt tay kiếm, giận dữ nói lớn: ” Chém ba ba, giết hổ, vài chuyện vặt vãnh như vậy mà được thưởng thức đào của Chúa công, tôi trèo non lội suối ngàn dặm, chinh chiến đổ máu, lập bao công lao lại không được ăn đào. Tôi bị xỉ nhục như vậy trước hai vị quân thần đây, bị người ngàn đời sau chê cười, vậy thì còn mặt mũi nào mà sống giữa trời đất nữa? ” Nói rồi, rút kiếm tự vẫn. Công Tôn Tiệp thấy vậy kinh hoàng, cũng rút bảo kiếm nói: “Chút công lao của chúng tôi nhỏ mọn như vậy mà được ăn đào, Điển quân công lao trời bể lại không được ăn đào. Như vậy thì quả là chúng tôi đã tham lam tranh phần của Điển quân, cũng chẳng còn gì đáng được tôn trọng nữa, Điền quân vì việc này mà chết đi thì chúng tôi cũng còn mặt mũi nào mà sống nữa”. Nói rồi cũng rút kiếm tự vẫn. Cổ Trị Tử kêu lớn: “Ba người chúng tôi đã kết nghĩa anh em, thề cùng sống chết, bây giờ hai người đã đi rồi, tôi có sống thì người đời cũng nguyền rủa”. Rồi cũng rút kiếm chết theo hai người. Tề Cảnh Công kinh hoảng kêu người can ngăn, nhưng không còn kịp nữa.

Như vậy, Yến Anh đã lợi dụng điểm yếu trong tâm lý của “Tề bang tam kiệt”, khéo lợi dụng mâu thuẫn để trừ bỏ cái gai cho triều đình, đó là nghệ thuật một tên trúng nhiều đích.

2. Lã Bất Vi cứu Dị Nhân, tặng mỹ nữ, leo lên chức Thừa tướng

Thái tử nước Tần là An Quốc quân có một cung phi được lập làm chính phu nhân gọi là Hoa Dương phu nhân, rất được Thái tử yêu chiều, nhưng đáng buồn là không thể sinh con trai. Còn thiếp Hạ Cơ lại sinh được một con trai là Công tử Dị Nhân. Chỉ vì mẹ mình không được Thái tử yêu quý nên Công tử Dị Nhân bị đưa tới nước Triệu làm con tin. Khi đó, vì nước Tần nhiều lần tấn công nước Triệu nên nước Triệu cũng đối xử không mấy tử tế với con tin. Không tiếp đãi Dị Nhân theo đúng lễ tiết khiến Công tử cảm thấy tủi thân vô cùng.

Ở vùng Dương Địch có một thương nhân lớn là Lã Bất Vi đến quốc đô nước Triệu là Hàm Đan buôn bán, sau khi gặp Công tử Dị Nhân mới nói: “Vị công tử này quả là một món hàng quý”. Rồi gặp Công tử Dị Nhân dâng lời: “Thái tử yêu quý Hoa Dương phu nhân, nhưng Hoa Dương phu nhân lại không có con trai, vì vậy không có khả năng lập được con đích nối dõi. Ngài là con trai của Thái tử, đương nhiên sẽ có cơ hội được truyền ngôi, nhưng anh em của ngài có tới hơn 20 người, cho nên xét tình hình thì ngài khó mà tranh được ngôi kế vị với họ. Lã Bất Vi tôi xin dùng tiền của đi tới nước Tần du thuyết cho ngài, để Thái tử lập ngài làm người thừa kế”. Công tử Dị Nhân nghe vậy, nói: “Nếu như kế sách của ông mà thành được thì tôi nguyện sẽ cùng ông chia sẻ giang sơn nước Tần”.

Sau khi thỏa thuận xong, Lã Bất Vi đem theo một số lớn tiền bạc tới nước Tần xin bái kiến chị gái của Hoa Dương phu nhân, thông qua bà ta, hiến tặng lễ vật tới Hoa Dương phu nhân. Khi tặng lễ vật, Lã Bất Vi thừa cơ ca ngợi Công tử Dị Nhân là người có tài, đức, hiếu thuận, nói rằng Công tử đêm ngày khóc lóc vì nhớ thương Thái tử và Hoa Dương phu nhân. Lã Bất Vi còn nhờ bà ta chuyển lời tới Hoa Dương phu nhân: “Phu nhân tuy được yêu chiều, nhưng không có con trai nối dõi, Công tử Dị Nhân là người tài đức vẹn toàn, nhưng ông ta tự biết mình là con thiếp không thể được làm người thừa kế. Nếu như phu nhân nhân cơ hội này đề bạt Công tử, nhận Công tử là con đích thừa kế của Thái tử, như vậy thì Công tử Dị Nhân từ chưa có quốc gia riêng mình trở thành người đứng đầu quốc gia, phu nhân cũng từ không có con trai trở thành có con trai nối dõi, như vậy thì suốt đời phu nhân sẽ được sủng ái, kính trọng ở nước Tần. Người đời sẽ ca ngợi phu nhân rộng lòng nhân hậu. “Hoa Dương phu nhân nghe thấy chị gái mình nói những lời như vậy cho rằng ý kiến của Lã Bất Vi rất hay. Thế là một mặt bà cùng Thái tử bàn bạc lập Công, tử Dị Nhân làm người thừa kế, một mặt phái Lã Bất Vi về nước Triệu báo cho Công tử Dị Nhân. Công tử Dị Nhân biết tin, thay đổi trang phục, cải trang thành thường dân rồi trốn về nước Tần, đổi tên thành Tử Sở.

Lã Bất Vi mua một cô gái đẹp ở Hàm Đan, lấy làm thiếp, không lâu sau cô ta có mang. Một lần, Công tử Dị Nhân uống rượu ở nhà Lã Bất Vi, trông thấy cô gái thích thú vô cùng, bèn xin Lã Bất Vi cô gái đó. Lã Bất Vi vờ tức giận không cho, nhưng sau đó lại tặng ngay cô gái cho Công tử. Thời gian sau, cô gái này sinh ra một con trai đặt tên là Doanh Chính, kế thừa vương vị của Tử Sở, lập làm Tần vương, tức là Tần Thủy Hoàng sau này. Không lâu sau, Lã Bất Vi được phong làm Thừa tướng, phong làm Văn Tín hầu cai quản mười vạn hộ. Sau khi Thái tử kế vị, lại tôn Lã Bất Vi làm Tướng quốc, xưng là “Trọng phụ”. Chỉ trong 15 năm, từ một thương nhân, Lã Bất Vi đã trở thành Thừa tướng nắm mọi quyền hành quốc gia. Đó chính là một mũi tên trúng hai đích của việc tặng mỹ nữ.

3. Lưu Tú báo thù cho anh trai và chiếm Lạc Dương.

Những năm cuối thời Tây Hán, nội bộ quân khởi nghĩa chống lại Vương Mãng xảy ra tranh chấp. Anh trai Lưu Tú là Lưu Diễn bị mưu hại. Lý Dật cùng tham gia vụ mưu hại này. Về sau, Lưu Tú độc lập khởi binh, lợi dụng cơ hội quân Xích Mi đánh nhau với quân Canh Thủy đế Lưu Huyền, cho quân đóng ở gần Trường An, với mưu đồ không chính đáng. Lưu Huyền phải Chu Vĩ, Lý Dật đóng quân ở Lạc Dương, đề phòng Lưu Tú. Bộ thuộc của Lưu Tú là Bằng Dị biết Lý Dật có ý muốn hòa giải vôi Lưu Tú bèn ra mặt khuyên Lý Dật quy thuận. Lý Dật viết thư trả lời, ám chỉ rằng nếu như Lưu Tú tấn công Lưu Huyền thì ông ta sẽ không dẫn quân cứu viện. Quả nhiên, Bằng Dị liên tiếp tấn công hạ 13 huyện thành, nhưng Lý Dật vẫn khoanh tay đứng nhìn, án binh bất động. Bằng Dị thấy Lý Dật giữ lời hứa, bèn lấy bức thư của Lý Dật gửi cho ông ta trao cho Lưu Tú. Lưu Tú bèn tuyên đọc bức thư cho chư tướng toàn quân nghe. Kết quả, tin truyền ra ngoài bị chủ tướng của Lý Dật là Chu Vĩ biết được. Chu Vĩ bèn hạ lệnh giết Lý Dật vì tội tư thông mưu phản với Lưu Tú. Lý Dật bị giết, Lạc Dương hỗn loạn, những người đồng mưu với Lý Dật trốn cả sang quân Lưu Tú. Lưu Tú thừa cơ tấn công Lạc Dương, giành được hai mục đích vừa mượn dao giết được Lý Dật, báo thù cho anh, vừa chiếm được Lạc Dương.

4. Lý Quang Bật chuyển trận địa, mưu hàng hai tướng.

Thời Đường Túc tông, Tư Không Lý Quang Bật đối chọi với tướng quân phiến loạn sử Tư Minh ở Hà Dương (phía tây huyện Mãnh, tỉnh Hà Nam ngày nay), công thủ đều không thuận lợi. Sử Tư Minh muốn chặt đứt đường lương thảo của Lý Quang Bật mới chuyển quân đến huyện Hà Thanh, Quang Bật biết được, cũng ngay lập tức dẫn quân tới đóng ở Dã Thủy Độ, xây thành luỹ kháng cự, nhưng sau đó, Quang Bật lại trở về thành Hà Dương chỉ để lại 1000 quân, phái bộ tướng là Ung Hy Hạo ở lại và chỉ thị: “Sử Tư Minh có hai dũng tướng là Cao Đình Hy và Lý Nhật Việt. Đêm nay nhất định sẽ sai một tướng đến cướp doanh trại của ta. Ông chỉ được phép cố thủ, không được nghênh chiến, nếu tên tướng đó đầu hàng thì ông hãy dẫn hắn đến gặp tôi”. Ung Hy Hạo không hiểu mệnh lệnh kỳ quái đó, nhưng chỉ biết tuân lệnh cố thủ.

Quả nhiên, sử Tư Minh quyết định đang đêm cướp doanh trại, hắn nói với Lý Nhật Việt: “Lý Quang Bật lâu nay vẫn cố thủ giữ thành, khiếp sợ dã chiến, nay hắn dẫn quân đến vùng thôn dã là đã vào vòng kiềm tỏa của ta, tất sẽ bị tóm gọn dễ dàng. Đêm nay, ông hãy dẫn quân đi cướp doanh trại của hắn, ông phải bắt sống được hắn về đây, nếu không bắt được Lý Quang Bật thì ông đừng có quay về gặp ta”. Lý Nhật Việt tuân lệnh, dẫn 500 kỵ binh tinh nhuệ xuất phát.

Ung Hy Hạo nghiêm chỉnh cố thủ trận địa. Sáng sớm, quả nhiên thấy tướng giặc dẫn mấy trăm kỵ binh tiến gần đến hàng rào quân doanh bèn nói với tả hữu: “Hắn đến rồi đó, hãy ra xem hắn như thế nào? ” Hy Hạo dẫn quân ra, nhưng không có biểu hiện gì đối địch cả. Lý Nhật Việt thấy lạ, hỏi: “Tư Không ở đâu? Gọi ông ta ra đây trả lời”. Ung Hy Hạo đáp: “Đêm qua, ông ấy đã trở về Hà Thành rồi”. “Ông ta để lại bao nhiêu quân? Chủ tướng là ai?” “Chỉ để lại 1000 quân, chủ tưởng là tôi Ung Hy Hạo”. Lý Nhật Việt trầm ngâm không nói gì, Ung Hy Hạo hỏi: “Ông họ Lý hay họ Cao?” “Họ Lý”. Ung Hy Hạo cười nói: “Ồ, thì ra là Lý Nhật Việt tướng quân, Tư Không vốn biết Lý tướng quân có lòng hòa hảo, trung quân, nhưng vì tình hình bức bách nên đặc phái tôi ở đây nghênh tiếp tướng quân”. Lý Nhật Việt ngạc nhiên và có chút do dự, nghĩ lại lời nói của sử Tư Minh “Không bắt được Lý Quang Bật, thì ông đừng có về gặp tôi” thì e ngại nói với bộ hạ của mình: “Bây giờ không bắt được Tư Không mà tay không trở về thì cả bọn chúng ta khó mà thoát chết, chi bằng đầu hàng thì hơn”. Kỵ binh không một lời phản đối, thế là đồng loạt hạ vũ khí, xin đầu hàng. Ung Hy Hạo mở cửa tiếp kiến, hỏi rõ tên, quả đúng là Lý Nhật Việt mới mừng rỡ vô cùng, ngay lập tức dẫn đi gặp Lý Quang Bật.

Lý Quang Bật tiếp kiến Lý Nhật Việt, tiếp đãi vô cùng trọng thị, Lý Nhật Việt rất cảm kích, rồi tự mình viết một lá thư kêu gọi ông bạn Cao Đình Hy đầu hàng. Lý Quang Bật nói: “Không cần thiết, ông ta sẽ tự dẫn quân đến đầu hàng”.

Mấy ngày sau, quả nhiên Cao Đình Hy dẫn quân đến đầu hàng, Lý Quang Bật lại chiêu đãi trọng thể rồi bổ nhiệm quan chức cho cả hai người.

Lúc đó, có người hỏi Lý Quang Bật làm sao có thể dễ dàng thu phục được hai mãnh tướng của địch. Lý Quang Bật trả lời: “Đó chính là biết mình biết địch, sử Tư Minh thường nói tôi chỉ biết thủ thành mà không biết dã chiến, tôi chuyển trận địa về Dã Thủy Độ, ông ta cho rằng tôi đã vào vòng của ông ta nên tất sẽ sai dũng tướng đến tấn công, nhưng tôi đã bỏ đi, Lý Nhật Việt không bắt được tôi tất nhiên không dám về, không đầu hàng thì cũng không còn đường nào khác. Đình Hy tài dũng đều hơn Nhật Việt, thấy Nhật Việt được trọng dụng ở bên này tất cũng đến đầu hàng, mong chiếm một vị trí, hai con người đó phản bội là do hoàn cảnh đưa đẩy chứ không phải thực lòng. Ta biết lợi dụng cái đó mà thu phục, thì tay không mà bắt được hai dũng tướng.

5. Tư Mã Luân mưu khuyên Giả Hoàng hậu sát hại Thái tử

Huệ Đế thời Tây Tấn là một kẻ ngu đần. Làm Hoàng đế không lâu thì quyền hành bị Hoàng hậu Giả Nam Phong nắm giữ hết. Thái tử của Huệ Đế không phải là con đẻ của Giả Hoàng hậu, nhưng có cá tính mạnh mẽ, cương trực. Giả Hoàng hậu vờ lấy cớ Hoàng đế có bệnh cho gọi Thái tử vào cung, nói rằng Hoàng đế ban ngự tửu cho Thái tử uống, Thái tử không còn cách nào từ chối buộc phải uống đến say. Giả Hoàng hậu thừa cơ đưa ra một bức văn cầu được thảo sẵn với giọng văn của Thái tử “Cầu thần linh phù hộ cho mình phát động chính biến, phế truất ngôi vị của phụ vương được thành công”, nói dối rằng là chiếu thư của Hoàng đế, cần Thái tử viết lại đúng nguyên văn. Thái tử say rượu, không thể phân biệt được nội dung và cứ viết lại đúng như cũ. Sau đó, Giả Hoàng hậu lấy tờ văn tế này làm chứng cứ Thái tử mưu phản, Hoàng đế và các đại thần xem đúng là nét bút của Thái tử, không còn lời nào khác, thế là Thái tử bị phế bỏ. Các quan lại thủ hạ của Thái tử đều thấy oan khuất cho Thái tử, bèn tới thuyết phục tướng quân hoàng tộc là Tư Mã Luân, Tư Mã Luân nắm binh quyền trong tay, lại cũng có mâu thuẫn với Giả Hoàng hậu, nên ông dự định lấy việc Giả Hoàng hậu hãm hại Thái tử làm tội danh để phát động chính biến phế bỏ Giả Hoàng hậu. Nhưng cận thần thân tín của Tư Mã Luân là Tôn Tú nhắc ông ta: “Chi bằng ta hãy xúi giục Giả Hoàng hậu sát hại Thái tử, rồi mượn cớ Thái tử báo thù, phế truất Giả Hoàng hậu, như vậy thì về sau sẽ nắm được triều chính”.

Tư Mã Luân phái người đi tán phát dư luận rằng trong triều có người mưu phế truất Giả Hoàng hậu và khôi phục địa vị cho Thái tử, một mặt lại ngầm khuyên Giả Hoàng hậu phải sớm từ bỏ Thái tử để tuyệt đường những kẻ mưu phản. Giả Hoàng hậu quả nhiên trúng kế, hãm hại Thái tử. Không lâu sau, Tư Mã Luân lấy danh nghĩa thảo phạt kẻ gây tội sát hại Thái tử, dẫn quân phạt tội, liên kết với các chư hầu, phế truất Giả Hoàng hậu, giành đại quyền triều chính.

Chiêu bài này của Tư Mã Luân vừa mượn dao giết người, mượn tay Giả Hoàng hậu giết hại người kế thừa chính tông, lại vừa là một mũi tên trúng hai đích, khiến cho đội quân thực hiện phế truất Giả Hoàng hậu nổi tiếng, danh chính ngôn thuận, đạt được mục đích tranh đoạt quyền lực.

KẾ THỨ MƯỜI:

GIÁ HỌA VU NHÂN

Vu họa cho người, đẩy họa cho người

A. Nguồn gốc:

“Giá họa vu nhân” xuất phát từ cuốn “Sử ký. Triệu thế gia”. Năm262 TCN (hậu kỳ chiến quốc). Thái thú Thượng Đảng nước Hàn (khu vực Thái Hành Sơn, tỉnh Sơn Tây ngày nay) là Bằng Đình phái người đến nước Triệu gặp Triệu quốc Hiến Thành vương, nói rằng nước Hàn vốn đã dự định cắt 17 huyện thành khu vực Thượng Đảng cho nước Tần phía Tây cai quản, nhưng quan dân vùng đó không đồng ý, họ đòi phải cắt vùng đó cho nước Triệu phía đông cai quản, hỏi ý kiến xem nước Triệu có đồng ý tiếp nhận không. Triệu Hiến Thành vương nghe vậy mừng rỡ vô cùng, cho gọi Bình Dương quân Triệu Báo vào bàn bạc, Hiến Thành vương nói: Thái thú Bằng Đình muốn cắt cho ta 17 thành ấp, ta có nên nhận không? ” Triệu Báo nói: “Thánh nhân đối với những việc lợi mà vô cớ có được thường rất lo lắng”. Triệu Vương nói: “Người ta thấy được cái đức của ta mới đem dâng, vậy sao gọi là vô cớ?”. Triệu báo nói: “Nước Tần lớn mạnh ở phương tây luôn gặm nhấm dần lãnh thổ nước Hàn, đối với mảnh đất Thượng Đảng này, họ đã sớm ngắm vào tầm mắt rồi. Nước Hàn sở dĩ không cắt vùng đất này cho nước Tần bây giờ mà chủ động đem tặng nước Triệu, đó là đẩy cái họa cho nước Triệu ta. Nước Tần to lớn kia ngày ngày trông chờ mà không được, nước Triệu bé nhỏ ta lại ngồi hưởng lộc trời. Thế chẳng phải là được một cái lợi vô cớ hay sao? Tần dẫn quân đánh Triệu, diệt Triệu, như vậy thì nước Hàn cũng bớt được một đối địch, ta chớ có trúng kế nước Hàn”. Triệu Báo nhắc đi nhắc lại rằng, Triệu Hiên Thành vương nhất thiết không được nhận mảnh đất đó. Nhưng Triệu Vương nói: “Dẫn trăm vạn quân đi đánh hàng chục năm cũng khó mà đoạt được một thành, bây giờ người ta đem biếu không 17 thành, lộc trời lớn như vậy, sao lại không nhận”. Triệu Báo nghe vậy bèn rút lui. Triệu Vương lại cho gọi Bình Nguyên quân Triệu Thắng vào hỏi, Triệu Thắng đồng ý nhận. Thế là Triệu Vương phái đại tướng Liêm Pha dẫn quân đến đóng ở Trường Bình Thượng Đảng (huyện Cao Bình, Sơn Tây ngày nay).

Năm thứ 7 đời Triệu Hiến Thành vương. Triệu Khoát thay thế Liêm Pha đóng giữ Trường Bình bị quân Tần đánh bại, quân Tần trong nháy mắt chôn sống cả thảy hơn 40 vạn quân Triệu. Lúc này Triệu Hiến Thành vương mới vô cùng hối hận đã không nghe lời Triệu Báo, chuốc lấy đại họa Trường Bình.

B. Chú bình:

“Giá họa vu nhân” là một trong những thủ đoạn trong đấu tranh giữa hai bên đối địch. Mục đích là tiêu diệt đối phương hoặc loại bỏ cái đối lập với mình. Giá họa cho người thường đi liền thành cặp với “bịa đặt dựng chuyện, biến không thành có”. Giá họa vu nhân có hai dạng. Dạng thứ nhất là: mình có họa, chuyển nó cho người khác, nhờ đó mà bản thân mình thì tránh được tai họa còn họa thì được chuyển sang kẻ thù của mình, tức là một tên trúng hai đích. Dạng thứ hai là: mình không có họa, nhưng muốn quy tội cho kẻ thù của mình hoặc muốn tiêu diệt kẻ đối lập với mình thì cố ý tạo dựng nên tội mà đổ lên đầu kẻ đối địch, trừ khử kẻ đối lập.

Mọi cách thức như bịa đặt dựng chuyện, biến không thành có để bài xích, thanh trừng kẻ bất đồng ý kiến với mình đều là những ví dụ của kế này. Bằng những hiện tượng bề ngoài (không có thật), người dựng chuyện khiến người đương quyền dễ dàng tin mà thực hiện mục đích bài xích kẻ đối lập với mình. Vì vậy, việc thực hiện quyền thuật này vừa cần phải có người gây dựng nên hiện tượng giả tạo, lại cần có kẻ đương quyền tin vào hiện tượng này. Thiếu một yếu tố không thể thực hiện được. Cho nên, hiểu rõ được quyền thuật này có thể giúp cho những người đương quyền nâng cao cảnh giác, sớm nắm rõ được âm mưu của kẻ bịa đặt và vạch trần bộ mặt thật của kẻ gây chuyện thị phi, vu họa cho người.

C. Dẫn truyện:

1. Võ Tắc Thiên bóp chết con mình rồi vu họa cho Vương Hoàng hậu

Khi Võ Tắc Thiên được Đường Cao tông thu nhận vào nội cung, chỉ được phong làm một Chiêu nghi, chưa được đến cấp bậc cung phi. Mãi về sau, bằng nhiều cung cách yêu chiều, Đường Cao tông ưu ái đã phong cho Võ Tắc Thiên lên bậc thứ phi. Lúc này, Vương Hoàng hậu, Võ Tắc Thiên, cả hai cùng cố gắng để được Hoàng đế sủng ái. Mặc dù Cao tông yêu Võ Tắc Thiên, nhưng vẫn chưa có ý phế trừ Vương Hoàng hậu. Võ Tắc Thiên đã dùng rất nhiều thủ đoạn đối với việc này.

Trước tiên, bà ta nhằm vào những điểm yếu của Vương Hoàng hậu, tập trung thu phục những người bất mãn với bà và thu thập được không ít “tài liệu đen”.

Về sau, Võ Tắc Thiên sinh một con gái. Cao tông, Hoàng hậu rất yêu quý đứa bé này, thường tới thăm. Võ Tắc Thiên bèn lập âm mưu. Một lần, Hoàng hậu lại tới thăm đứa bé. Võ Tắc Thiên mượn cớ ra ngoài một lát để cho một mình Hoàng hậu chơi với đứa trẻ. Hoàng hậu vừa đi khỏi. Võ Tắc Thiên vội vào phòng bóp chết con gái mình rồi dùng chăn trùm lên, giữ nguyên hiện trạng. Một lát sau, Cao tông tới thăm đứa trẻ, Võ Tắc Thiên vờ cười cười, nói nói với Cao tông, đợi đến lúc Hoàng đế yêu cầu bà ta bế đứa trẻ ra, bà ta mới mở chăn, giả vờ kinh hoảng, lập tức gào khóc thảm thiết. Cao tông tới xem thì thấy công chúa nhỏ này đã chết lâu rồi. Cao tông giận dữ cho gọi cung nữ, thái giám tra hỏi, xem trước đó có ai tới. Cung nữ, thái giám nói có Hoàng hậu tới thăm. Thế là Cao tông cho rằng đó là hậu quả của mối bất hòa giữa Vương Hoàng hậu và Võ Tắc Thiên. Võ Tắc Thiên giả bi thảm cùng cực, vừa gào khóc thảm thiết, vừa kể tội của Vương Hoàng hậu mà bà ta đã thu thập, khiến Hoàng đế lập tức hạ lệnh phế truất Vương Hoàng hậu, giam vào lãnh cung.

Cuối cùng Võ Tắc Thiên đã được như ý nguyện, trở thành Hoàng hậu và về sau thành nữ Hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.

2. Tội “đại nghịch bất đạo” và “mưu phản”

Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị thế Hồ Hợi dựa vào Triệu Cao dùng thủ đoạn lên ngôi. Vì hoang dâm vô độ, bóc lột thần dân, vơ vét của cải, thuế má lao dịch nặng nề, trăm dân oán hận, nên Hồ Hợi lên ngôi chưa đầy một năm thì Trần Thắng, Ngô Quảng phất cờ khởi nghĩa, chống lại bạo Tần. Tin tức truyền tới cung nhà Tần, Tần Nhị thế vội họp bàn đối sách với các đại thần. Các quan lại tham gia bàn bạc, ý kiến bất nhất, người thì nói họ làm phản, kẻ lại cho họ là bọn giặc cướp. Tần Nhị thế không muốn nghe những lời nói đó, không nén được tức giận. Một viên quan là Thúc Tôn Thông mới khéo đỡ lời: “Những cách nói đó đều không đúng. Nay thiên hạ đã thống nhất, vũ khí khắp nơi đều đã được thu lại thiêu hủy, Hoàng đế anh minh còn đây, pháp lệnh được phụng triều đình, làm gì có kẻ nào dám cả gan làm phản? Chẳng qua chỉ là một bọn trộm cắp vặt thôi mà, quan địa phương sẽ lập tức tóm bọn chúng, chẳng có gì phải lo lắng cả”.

Tần Nhị thế nghe vậy mới vui vẻ nói: “Ông nói hay lắm” nhưng những vị quan khác thì vẫn cứ tranh cãi không thôi. Thế là Tần Nhị thế hạ lệnh: “Hãy đem trừng phạt tất cả đám người cho rằng đó là làm phản, cách chức tất cả đám người cho rằng đó là giặc cướp, nâng chức Thúc Tôn Thông lên một bậc và trọng thưởng”. Thưởng phạt vừa xong thì Thúc Tôn Thông trốn đi, ông ta biết rằng lời nói dối sẽ không giữ được bao lâu. Thế nhưng Tần Nhị thế vẫn giữ thái độ dối mình, dối người, bàng quan đối với những đấu tranh chính trị lúc đó.

Kẻ nhiều dã tâm là Triệu Cao, người vạch ra kế sách làm chính biến cung đình để đưa Hô Hợi lên ngôi Hoàng đế, để tiếp tục soán quyền đoạt vị, ông ta cả ngày ở nhà bày mưu tính kế. Thấy cơ hội đã đến bèn vào gập Tần Nhị thế nói: “Bệ hạ công khai nhập triều xử lý chính sự khó tránh khỏi sơ suất, như vậy sẽ dễ lộ hết những nhược điểm của mình trước mặt quần thần, sẽ ảnh hưởng đến uy nghiêm của bệ hạ. Chi bằng, bệ hạ cứ ở sâu trong cung, có việc thì hãy bàn bạc trước với chúng thần, như vậy thì các đại thần sẽ không dám gây khó dễ, thiên hạ sẽ ca tụng Hoàng thượng anh minh”. Thế là từ đó, Tần Nhị thế rất ít lên triều, hàng ngày vui thú trong cung, mọi chính sự đều trao cho Triệu Cao xử lý.

Ngọn lửa khởi nghĩa nông dân ngày càng lan rộng. Nhiều đại thần đã thấy lo sợ bất an. Thừa tướng Phùng Khứ Tật, Lý Tư và tướng quân Phùng Kiếp dâng sớ: “Xin thánh thượng hãy giảm nhẹ lao dịch, thuế má, tạm dừng công trình cung A Phòng”. Tần Nhị thế cho rằng đó là đại nghịch vô đạo, giao ba người cho quan xử tội. Phùng Khứ Tật và Phùng Kiếp tự sát, còn Lý Tư thì bị giam vào ngục. Lúc này Triệu Cao cho rằng, cơ hội để loại bỏ trở ngại cuối cùng trên con đường cướp quyền của ông ta đã đến bèn nói với Tần Nhị thế: “Mưu kế ở Sa Khâu (chỉ âm mưu chính biến cung đình), Thừa tướng Lý Tư cũng là người tham gia (thực ra Lý Tư bị bức tham gia), nay bệ hạ là Hoàng đế, chức quan của Lý Tư không còn cách nâng lên được nữa, cho nên ông ta muốn thay vua cũ lập vua mới. Nghe nói bọn Trần Thắng là đồng hương của ông ta, con trai cả của Lý Tư là Lý Do làm Quận thú Tam Xuyên, thường có thư từ qua lại với bọn Trần Thắng”. Tần Nhị thế nghe vậy bèn phái Triệu Cao đi thẩm vấn Lý Tư, điều tra “Vụ án cha con Lý Tư mưu phản”. Dưới sự tra tấn bức ép, Lý Tư đành thừa nhận. Tần Nhị thế rất vui mừng vì việc này, ông ta nói: nếu như không có Triệu Cao thì chút nữa ta đã mắc lừa Lý Tư”. Thế là cho hành hình Lý Tư, tru di tam tộc, rồi nâng Triệu Cao lên chức Thừa tướng, nắm đại quyền trong cung.

Triệu Cao làm Thừa tướng, sợ rằng có người không phục, sợ có người nói ra sự thực trước mặt Tần Nhị thế, mới đạo diễn một màn kịch: “Chỉ hươu thành ngựa”. Một hôm, ông ta cố ý sai người đem tặng một con hươu cho Tần Nhị thế, rồi chỉ con hươu nói với Tần Nhị thế: “Thần xin tặng riêng cho bệ hạ con ngựa quý này”. Tần Nhị thế cười nói: “Thừa tướng mê rồi hay sao? Đây rõ ràng là một con hươu, sao có thể là con ngựa? ” Triệu Cao khăng khăng nói: “Đây đúng là con ngựa”. Tần Nhị thế thấy lạ bèn hỏi các quan tả hữu: “Các ông xem đó là con ngựa, hay hươu?”. Mọi người trả lời bất nhất: những kẻ nịnh hót luồn lọt thì nói theo Triệu Cao là ngựa, có người thì nói thẳng là hươu, lại cũng có người không tỏ rõ thái độ. Sau việc này, Triệu Cao mượn cớ gán tội cho những kẻ nói thật, nói thẳng là hươu, lại thưởng cho những kẻ nói theo mình, trừ khử hết những kẻ có ý kiến trái ngược với mình.

3. Kissinger đẩy cái khó cho người khi trả lời

Trong biện luận, có một kỹ xảo gọi là “đẩy cái khó cho người” tức là trả lại những vấn đề khó khăn cho đối phương khi đối phương đưa ra, rồi ung dung bỏ đi khi đối phương đang loay hoay “vần bỏ tảng đá đang đè nặng dưới chân mình”.

Tháng 5 năm 1972, Mỹ và Liên Xô tổ chức hội nghị thượng đỉnh. Một giờ sáng ngày 27, trợ lý đặc biệt ủy ban an ninh quốc gia Mỹ Kissinger giới thiệu với đoàn phóng viên Mỹ đi theo về tình hình hội nghị có liên quan đến việc ký kết bốn hiệp định về hạn chế vũ khí chiến lược giữa Liên Xô và Mỹ. Kissinger mỉm cười tiết lộ: “Tốc độ sản xuất tên lửa đạn đạo của Liên Xô khoảng 250 đầu đạn/năm. Thưa quý vị, nếu như ở đấy tôi bị bắt như một gián điệp, chúng ta đã biết nên trách ai rồi…“Các phóng viên Mỹ chen kín hội trường nhanh chóng bắt luôn lấy câu nói ấy, dò hỏi bí mật quân sự của Mỹ: “Vậy tình hình của chúng ta thì sao? Chúng ta có bao nhiêu tên lửa tàu ngầm có phối trí nhiều đầu đạn kiểu phân dẫn? Có bao nhiêu tên lửa “dân binh” có phối trí đầu đạn phân dẫn?”. Kissinger nhún vai: “Tôi không nhớ chính xác có bao nhiêu tên lửa dân binh như vậy. Còn như tàu ngầm, cái khó của tôi là số liệu thì tôi biết, nhưng tôi không biết đó có phải là bí mật quân sự không?”. Vị phóng viên nói: “Không phải bí mật, không phải bí mật!”. Kissinger tất nhiên không thể nói ra con số tên lửa tàu ngầm của Mỹ đang được bố trí nhiêu đầu đạn phân dẫn. Ông hỏi lại: “Không phải là bí mật hả? Vậy bạn thử nói xem nó là bao nhiêu?”. Vị phóng viên không ngờ lại bị hỏi lại như vậy, ngây ra một lúc, chỉ biết cười trừ.

Không phải là bí mật, tức là công khai, đã là công khai thì mọi người phải biết và tất nhiên phóng viên cũng nằm trong số đó, vậy thì để cho phóng viên tự mình trả lời câu hỏi này. Đúng vào lúc vị phóng viên hỏi cười ngây ngô thì Kissinger ung dung bỏ đi.

4. Tội “có lẽ có” của Nhạc Phi

Năm 1127, sau khi Tống Cao tông xây dựng chính quyền Nam Tông, lịch sử Trung Quốc lại xuất hiện cục diện đối lập nam bắc. Vương triều Kim ở phía bắc nhiều lần xuất quân tấn công xuống phía nam, chuẩn bị tiêu diệt vương triều Nam Tống. Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh tiêu biểu như Nhạc Phi, Hàn Thế Trung đã nhiều lần đẩy lùi các cuộc xâm lược của Bắc Kim. Nhưng tập đoàn quan lại đứng đầu là Tống Cao tông chủ trương cầu hòa để an thân, quỳ gối, cúi đầu chấp nhận mọi điều khoản do Kim triều đặt ra. Kẻ thống trị triều Kim đã sử dụng sách lược “Lấy đàm phán hòa bình để tấn công từ phía sau”. Năm 1130, thả gia đình Tần Cối vốn bị bắt làm tù binh về Nam Tống. Tần Cối ẩn chân tướng, nói rằng đã trốn thoát khỏi miệng hùm Bắc Kim, được Tống Cao tông rất tín nhiệm. Tống Cao tông còn nói Tần Cối “trung thực hơn người”, nên liên tục thăng quan tiến chức cho gã. Chỉ trong mấy tháng, từ Lễ bộ thượng thư, thăng đến Tể tướng.

Năm 1139, Tần Cối thay mặt Tống Cao tông tiếp nhận “đàm phán hòa bình”: Hoàng đế Nam Tống sẽ xưng thần đối với Hoàng đế Bắc Kim, triều Kim sẽ “ban cho” Nam Tống các vùng đất Thiểm Tây, Hà Nam mà họ đã chiếm lĩnh, hàng năm, Nam Tống phải cống nạp 25 vạn lạng bạc cho triều Kim. Thế nhưng chỉ một năm sau, quân Kim lại tiến xuống xâm phạm Nam Tống, kết quả bị “binh gia quân” và đông đảo nhân dân đánh bại. Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Kim khiến cho Tần Cối vô cùng kinh hoảng. Chỉ trong một ngày, dùng danh nghĩa Hoàng đế, hắn đã ban liên tiếp 12 mệnh lệnh khẩn cấp. Lệnh buộc Nhạc Phi phải nhanh chóng rút quân. Kim Ngột Thuật phải người đưa thư tới Tần Cối nói: “Triều Tống nhà ngươi ngày đêm cầu hòa mà nay lại để cho Nhạc Phi tìm cách khôi phục Hà Bắc, giành lấy Trung Nguyên. Phải chém chết Nhạc Phi thì mới có thể nghị hòa được”.

Tần Cối cũng thấy rằng, nếu không giết Nhạc Phi thì sự cầu an sẽ gặp trắc trở. Như vậy sẽ nguy hại đến lợi ích của mình. Hắn xúi giục quần thần vạch tội Nhạc Phi trước mặt vua, nói rằng Nhạc Phi đã cố tình rút quân khi quân Kim tấn công đoạt Hoài Tây, sau lại muốn bỏ mặc Sơn Dương. Nhưng như vậy vẫn chưa thể đạt được mục đích trừ khử Nhạc Phi, Tần Cối lại câu kết, xúi giục các tướng lĩnh trong nội bộ binh gia quần Vương Quý, Vương Tuấn vu cáo bộ tướng của Nhạc Phi là Trương Hiến muốn chiếm cứ Tương Dương, phát động binh biến, giúp Nhạc Phi đoạt binh quyền, lại còn bịa đặt là con trai của Nhạc Phi là Nhạc Vân đã từng viết thư cho Trương Hiến, bí mật bàn tính chuyện này, Tần Cối lấy đó làm cớ bắt Trương Hiến, Nhạc Phi, Nhạc Vân giam vào ngục.

Tần Cối phái ngự sử trung thừa Hà Chú tra hỏi Nhạc Phi. Nhạc Phi không nói một lời, vạch áo ra cho Hà Chú xem lưng, thì trên lưng có xăm bốn chữ “tận trung báo quốc”, vết khắc còn rất sâu. Hà Chú trông thấy, hoảng sợ không dám tra hỏi nữa, nói áp giải Nhạc Phi trở lại ngục, xem lại án của ông. Thấy rằng bảo Nhạc Phi mưu phản thực sự không có chứng cứ gì, đành phải báo cáo toàn bộ sự thực với Tần Cối. Tần Cối không chịu, lại sai xét hỏi Trương Hiến, Nhạc Vân, nhưng hai người đều không thừa nhận. Vụ án kéo dài hơn 2 tháng không kết quả. Một số quan kêu oan giúp cho Nhạc Phi nhưng kết quả lần lượt bị hãm hại. Hàn Thế Trung phẫn uất bất bình, không nén nổi đã tự mình đi tìm Tần Cối, trách ông ta dựa vào chứng cứ gì mà nói Nhạc Phi mưu phản. Tần Cối nói: “Có lẽ có bức thư mưu phản giữa con trai Nhạc Phi và Trương Hiến”. Hàn Thế Trung phẫn nộ hét lên: “Có lẽ có”, ba từ ấy làm sao có thể thuyết phục được thiên hạ. Hàn Thế Trung tranh cãi quyết liệt, không kết quả, còn vợ Tần cối là Vương thị thì ở đằng sau thúc giục Tần Cối mau chóng giết Nhạc Phi, nói rằng: “Trói hổ thì dễ, thả hổ thì khó”, không nhanh chóng hành sự thì sẽ nguy hại đến mình. Thế là một ngày tháng 1 năm 1142, Tần Cối viết một tờ giấy giao cho quan cai ngục, lệnh cho cai ngục phải mau chóng hãm hại Nhạc Phi.

KẾ THỨ MƯỜI MỘT:

DĨ ĐỘC CÕNG ĐỘC

Lấy độc trị độc

A. Nguồn gốc:

“Chuyết canh lục. Quyển 29” của Đào Tông Nghi đời Minh viết: “Cốt đốt tê, xà giác dã, kỳ tính chí độc, nhi năng giải độc, cái dĩ độc công độc dã”. Nguyên nghĩa chỉ: dùng các dược vật có độc để giải độc trị bệnh (nọc rắn có tính độc nhưng lại có thể giải độc, cho nên gọi là lấy độc trị độc).

B. Chú bình:

Kế lấy độc trị độc về sau mọi người dùng để tỷ dụ: dùng việc xấu để ngăn chặn việc xấu; dùng người xấu để đối phó người xấu, hoặc dùng thủ đoạn mà kẻ xấu sử dụng để đối phó chính bản thân kẻ xấu, cũng gọi là: lấy cái lý của người để trị lại người. Theo cuốn: “Hàn Phi Tử. Nan thê1‘: “Có một người vừa bán mâu, vừa bán thuẫn (hai loại binh khí thời cổ). Trước tiên, anh ta quảng cáo rằng: thuẫn của anh ta vô cùng rắn chắc. Bất kỳ một loại vũ khí sắc bén nào cũng không thể đâm thủng được thuẫn của anh ta. Một lát sau, có người hỏi mua mâu, anh ta lại khoác lác rằng mâu của anh ta sắc nhọn tới mức đâm thủng bất kỳ một vật gì rắn chắc nhất. Một người đứng xem anh ta bán hàng mới “dĩ độc công độc” hỏi lại: Vậy hãy dùng mâu của anh đâm thuẫn của anh xem nó như thế nào?”. Anh chàng bán hàng biết mình bị hớ, không biết trả lời thế nào mới vội ôm mâu và thuẫn chuồn mất”. Vì vậy người đời sau gọi mâu thuẫn là chỉ những điều đối lập (trái ngược) nhau. Mao Trạch Đông trong cuốn: “Phản đôi đảng bát cổ” cũng nói: “Chúng ta cũng nên phỏng theo bút pháp văn bát cổ để cho ra một “bát cổ” lấy độc công độc, gọi là 8 tội lớn”.

Những câu chuyện về dùng kế lấy độc công độc có rất nhiều trong lịch sử.

C. Dẫn truyện:

1. Hàn Bầu dùng trộm bắt trộm

Thời Văn đế Tây Ngụy, Hàn Bầu làm Thứ sử châu Bắc Ung. Ở châu này, bọn trộm cắp đang hoành hành, Hàn Bầu đến nhậm chức, bí mật điều tra tình hình trộm cướp, thì ra chúng đều là con cháu các nhà giàu có ở trong châu. Hàn Bầu bề ngoài thì giả không biết gì cả, vẫn đối xử theo lễ đối với những người đó, còn nói với họ: “Bản quan là một thư sinh, làm sao biết cách xử lý những việc trộm cướp đó, chỉ biết dựa vào các vị cùng chia sẻ với bản quan nỗi lo này”. Thế là cho gọi toàn bộ những thiếu niên tính tình hung ác, gian xảo đó đến, bổ nhiệm chúng làm thủ lĩnh các đội bắt trộm cướp, mỗi người đều được giao khoán công việc, có kẻ trộm cướp mà không bắt thì sẽ bị xử phạt vì tội cố ý thả chúng. Con em những nhà giàu có quen thói trộm cướp đó nay được giao trọng trách đều lo lắng không yên, vội tố giác: vụ trộm cướp lần trước thực tế là do người này, người kia làm. Thế là đem tên tuổi của những kẻ gây tội ghi cả lên một cuốn sách. Hàn Bầu đem giấu kín cuốn sách đó, rồi cho dán một bức bố cáo ngoài cửa phủ: kẻ nào là trộm cướp hãy mau đến tự thú, hết tháng này không đến tự thú sẽ đem xử chém công khai”. Thế là chỉ trong 10 ngày, bọn trộm cướp đều đến phủ đầu thú. Hàn Bầu lấy sổ kê khai ra so sánh, thấy toàn bộ số trộm cướp đó đều đầu thú cả, nên xóa tội cho tất cả, cho phép chúng hối cải. Từ đó, trong phủ không còn xảy ra trộm cướp nữa.

2. “Dĩ độc công độc” trong luận chiến của Mác

Nhà quân sự thông minh, giỏi mưu lược không những dũng mãnh trong phá hủy và chiếm lĩnh thành luỹ quân địch mà còn giỏi thu lượm và lợi dụng vũ khí của địch, đạt được mục đích “dĩ tử chi mâu, công tử chi thuẫn” (dùng nó đánh nó), từ đó đạt được hiệu quả, biến hại thành lợi, mượn tên bắn người.

Các nhà hùng biện giỏi cũng vậy, họ giống như Gia Cát Lượng dùng thuyền cỏ mượn tên, liệu địch như thần, giỏi dùng chiếc thuyền cỏ hùng biện thu hết mọi mũi tên tấn công sai lầm của đối phương để bắn lại, giành thắng lợi trong tranh luận. Đó chính là “dĩ độc công độc pháp” trong luận chiến.

Từng có một phóng viên nước ngoài trên báo “Buổi sáng” kêu oan cho tên trùm chủ nghĩa cơ hội chui vào mặt trận cách mạng - Bakunin, và lợi dụng cách nói dân gian: “Thà kết giao với kẻ địch thông minh còn hơn chơi với người bạn ngu xuẩn” để công kích ác liệt những phê phán nghiêm khắc của Mác đối với Bakunin. Mác đã mượn mũi tên đó, ông không phủ nhận để bẻ gãy nó ông phải thừa nhận nó rồi dùng nó tấn công lại kẻ đã bắn ra nó. Ông nói: hoàn toàn chính xác, đúng là “những người bạn ngu xuẩn” mới không biết được rằng có ý kiến tương phản mới có tranh luận, phải từ trong những suy luận, phán đoán mâu thuẫn với nhau mới có thể có được sự chân thực của lịch sử. Vì vậy mà coi điều đó như một phát hiện để tỏ ra quá đỗi kinh ngạc thì thật nực cười”. Thật tuyệt vời, qua ngòi bút điêu luyện của Mác, kinh nghiệm đúc kết trong cách nói dân gian càng sáng rõ lên. Trên thực tế, chính vị phóng viên nước ngoài này mới đúng là “người bạn ngu xuẩn” của những người cách mạng chân chính. Chỉ có anh ta mới không hiểu được rằng: ý kiến của những người cách mạng và những kẻ cơ hội chủ nghĩa trái ngược nhau và những tranh luận giữa họ là hiện tượng bình thường, chỉ có anh ta mới tỏ ra bất bình cho một phần tử cơ hội của cách mạng mà ngạc nhiên thất sắc vì những phê bình chính nghĩa.

3. “Dĩ độc công độc” trong ngoại giao: Đặng Tiểu Bình phản bác George P.Shultz

Năm 1983, Quốc vụ khanh Mỹ George P.Shultz viếng thăm Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình tiếp kiến ông ta. Khi hai bên nói tới vấn đề trong vụ đường sắt Hồ Quảng, Đặng Tiểu Bình nói rằng những tranh chấp trong vụ nợ đường sắt Hồ Quảng chẳng qua chỉ là một số người nào đó đã “giấu sẵn gậy trong túi rồi sẵn sàng lôi ra để gây rắc rối cho quan hệ Trung Mỹ bất cứ lúc nào”. Chính phủ Mỹ nên ngăn chặn những hành vi như vậy.

Quốc vụ khanh Mỹ giải thích: chế độ tư pháp của Mỹ là độc lập, Chính phủ không có quyền can dự vào. Mấy người Mỹ kiện tụng đó chẳng qua chỉ là muốn đòi lấy chút bồi thường, chứ hoàn toàn không phải gây rắc rối gì cả.

Đặng Tiểu Bình lập tức nắm lấy điểm đó để phản bác lại: nếu nói như vậy thì nước Mỹ thực tế có 3 chính phủ: Quốc hội, Nội các, Tòa án. Vậy rốt cuộc thì người ta phải giao thiệp với Chính phủ nào của các ngài mới đúng? Nếu như nói người Mỹ có quyền đòi chúng tôi bồi thường, vậy nhân dân Trung Quốc chúng tôi hơn 100 năm nay phải chịu áp bức xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, phải gánh chịu bao nhiêu tổn thất to lớn, chẳng lẽ cũng không thể đòi các ông bồi thường? Nếu vừa gặp mặt, các ông đã bàn tới vấn đề này thì còn nói gì tới việc phát triển quan hệ.

Đặng Tiểu Bình bám vào luận điểm của George P. Shultz, phân tích từ bản chất: Mỹ thực tế có 3 chính phủ, vậy rốt cuộc thì ai đại diện cho nước Mỹ. Đó là mâu thuẫn mặt ngang. Lại bám vào lịch sử phát triển của quan hệ Trung Mỹ, phân tích mâu thuẫn theo chiều dọc. Rồi tổng hợp lại, từ trong những mâu thuẫn đó vạch rõ thực chất vấn đề phản bác.

Một lần, một nghị sĩ đảng Bảo thủ Anh quốc phát biểu trong một cuộc hội nghị, trông thấy Churchill lắc đầu tỏ vẻ không đồng ý, mới không chịu nổi nói: “Tôi muốn nhắc các vị nghị sĩ đáng kính chú ý rằng, chẳng qua tôi chỉ đang phát biểu ý kiến của cá nhân tôi”. Churchill đáp lại: “Tôi cũng muốn nhắc nhở người phát biểu chú ý rằng, chẳng qua tôi chỉ đang lắc cái đầu của tôi”.

Một phía có quyền tự do phất biểu, một phía tất nhiên cũng có quyền tự do lắc đầu. Sức mạnh đối chọi trong sự gây cười.

Trong thời gian một lần hội nghị quốc tế, một đại diện ngoại giao phương Tây khiêu khích đại biểu Trung Quốc: “Nếu như các anh không cam đoan với nước Mỹ rằng sẽ không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan, vậy thì hiển nhiên là không thật bụng giải quyết hòa bình”. Đại biểu Trung Quốc nói: “Vấn đề Đài Loan là công việc nội bộ của Trung Quốc, dùng phương thức gì giải quyết đó là việc của nhân dân Trung Quốc, chẳng cần phải hứa với một nước nào khác cả. Xin hỏi, chẳng lẽ các ngài tranh cử Tổng thống, các ngài cũng phải cam đoan với chúng tôi hay sao?”

Biện luận trong ngoại giao cũng giống như chiến tranh, đó là cuộc đấu giữa trí và lực. Chủ quan có hiểu biết đúng đắn thêm vào đó là khả năng hùng biện và lời lẽ sắc bén thì chắc chắn sẽ giành phần thắng.

4. Tước An Tiềm trọng thưởng người bắt trộm và Lý Công Trạch nghiêm trị kẻ đồng mưu

Đời Đường Hy tông, Tước An Tiềm thay Cao Bính làm Tiết độ sứ Tứ Xuyên. Khi đó ở vùng Tứ Xuyên, kẻ trộm cướp rất nhiều. Tước An Tiềm sau khi đến nhậm chức không hạ lệnh lùng bắt ngay mà ông nói rõ quan điểm của ông là: những tên trộm cướp này nếu như không có người dung túng bao che thì chắc chắn chúng không dám hoành hành ngang ngược như vậy. Thế là, ông sử dụng một biện pháp đặc biệt, ông cho lấy tiền trong kho, đem rải ở các chợ, lại cho dán cáo thị: “Hễ ai tố giác hoặc bắt được trộm cướp sẽ thưởng 500 xâu tiền, nếu là đồng bọn của trộm cướp mà tố giác sẽ được thưởng như người bình thường, đồng thời được xóa hết mọi tội”. Cáo thị đưa ra không lâu, thì có một người đến và trói theo một tên trộm. Tên trộm này không chịu, kêu to: “Hắn cũng làm nghề này với tôi 17 năm rồi, những thứ trộm được đều chia đôi. Làm sao hắn có thể bắt tôi? ” Tước An Tiềm nói: “Anh đã biết là tôi cho dán cáo thị như vậy, vậy tại sao không bắt lấy anh ta đến gặp quan trước? Nếu như vậy, anh ta sẽ bị tội chết, còn anh thì được thưởng. Bây giờ anh ta nhanh tay hơn thì anh sẽ chịu tội chết, anh còn kêu la gì nữa”. Sau đó, ông cho thưởng tiền cho anh chàng kia ngay trước mặt tên trộm rồi cho chém đầu tên trộm trước đông đảo mọi người. Sự việc này vừa lan truyền đi thì trong đám những kẻ trộm cướp bắt đầu nghi ngờ lẫn nhau, sợ sẽ bị tố giác. Chúng vội vàng bỏ chạy đến vùng khác. Từ đó về sau, trong vùng không có kẻ nào dám trộm cướp nữa.

Lý Công Trạch làm quan ở Tề Châu thì lại sử dụng biện pháp nghiêm ngặt bắt trộm, nghiêm khắc xử phạt. Và kết quả loạn trộm cướp ở Tề Châu vẫn không thể dẹp nổi. Ông không thể hiểu nổi rốt cuộc tại làm sao? Có một lần, bắt được một tên trộm rất ranh ma, ông tha tội, cho hắn ở lại và hỏi: “Tại sao trộm cướp bọn ngươi vừa làm đã bị bắt, nhưng vẫn xảy ra nhiều như vậy không thể dẹp nổi?”. Tên trộm thấy Lý Công Trạch tin dùng mình mới nói rõ nguyên nhân. Thì ra, những nhà giàu đã bảo lãnh cho chúng, cho bọn trộm cướp tự do lựa chọn và tổ chức người, nếu bị quan phủ phát hiện, sẽ đem một người trong bọn giao cho quan, người khác sẽ tránh bị bắt. Lý Công Trạch khi đó mới bừng tỉnh. Ông hạ lệnh: hễ kẻ nào che giấu bọn trộm cướp thì sẽ bị trị tội nghiêm khắc, tịch thu tài sản, niêm phong nhà cửa. Và thế là bọn trộm cướp không có chỗ dung thân. Tề Châu cũng bình yên trở lại. Từ hai truyện trên có thể thấy rằng trị bang, hành lệnh phải tùy nơi, tùy lúc, linh hoạt, không thể học theo người khác.

5. Giang Trạch Dân bàn về “tam thông” (thông đường biển, thông buôn bán, thông liên lạc)

Theo “Nhật báo kinh tế Hồng Kông” ngày 30 tháng 8 năm 1996; hôm qua tại Bắc Kinh, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đã tiếp đoàn đại biểu giới công thương Đài Loan lớn nhất từ trước đến nay tới thăm đại lục Trung Hoa. Giang Trạch Dân nổi thi hứng, dùng hình tượng trăng khuyết lại tròn để ví sự thay đổi trong quan hệ hai bờ một năm qua. Dùng cách nói “lúc này im lặng sẽ chiến thắng” để kêu gọi hai bờ hãy tiếp tục phát triển quan hệ và đi đến thống nhất trong tương lai.

Bắc Kinh đã dùng “đạn bạc” để thay “đạn đạo”, lấy lợi ích của nhân dân Đài Loan làm cái cớ để đưa ra khẩu hiệu “tam thông” về kinh tế thương mại, giành được sự ủng hộ của nhân dân Đài Loan. Từ đó mà đạt được mục đích “dĩ tử chi mâu, công tử chi thuẫn” (dùng gậy ông đập lưng ông). Các cử tri Đài Loan đã buộc Lý Đăng Huy phải đàm phán chính trị với Bắc Kinh, Giang Trạch Dân lấy lợi ích của nhân dân Đài Loan làm điểm xuất phát nên đã giành thế thắng trong chiêu bài giữa chính phủ hai bờ. Chính sách của Lý Đăng Huy đi ngược với nguyện vọng của nhân dân nên kết quả bị rơi vào thế yếu.

Gần đây, Chính phủ hai bờ Đài Loan liên tiếp xuất chiêu. Về ngoại giao, đại lục đã kéo Niger vốn có quan hệ bang giao với Đài Loan về vòng tay Bắc Kinh. Phó Tổng thống Đài Loan viếng thăm không chính thức Ucraina để phát triển quan hệ; về kinh tế, Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy muốn kiềm chế các doanh nghiệp Đài Loan vào đại lục. Bắc Kinh thì dự định thông qua pháp lệnh cho phép tàu thuyền được lưu thông thẳng giữa hai bờ. Giang Trạch Dân tiếp đoàn doanh nghiệp Đài Loan vào lúc này với vẻ mặt tươi cười, nước cờ đã cân nhắc kỹ càng áp đảo Lý Đăng Huy cả về phong thái, khí thế. Khi Giang Trạch Dân tiếp đoàn doanh nghiệp Đài Loan, chỉ nói chuyện kinh tế, quan tâm đến việc đầu tư vào đại lục của họ và chính sách “tam thông” có lợi như thế nào cho họ, đồng thời nhấn mạnh sẽ không để cho hai bờ có sự khác biệt về chính trị ảnh hưởng đến hợp tác kinh tế giữa hai bờ.

Cái cao kế của Bắc Kinh là ở chỗ khi tiếp các doanh nghiệp Đài Loan, mặc dù Giang Trạch Dân không nói tới chính trị, nhưng lại từng bước, từng bước vây ép Lý Đăng Huy, ép Đài Loan trở về bàn đàm phán, thương thảo với đại lục vấn đề nguyên tắc mang tính chính trị, tức là làm cách nào để tăng cường quan hệ giữa hai bờ trên nguyên tắc một đất nước Trung Quốc.

Hành động tiếp kiến đoàn đại biểu doanh nghiệp Đài Loan đã là hành động xuất kích của Giang Trạch Dân đối với Lý Đăng Huy. Lý Đăng Huy trong tháng này mới lệnh dừng các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào đại lục. Buổi tiếp kiến của Giang Trạch Dân chính là muốn bày ra một cục diện chính trị cho giới kinh doanh Đài Loan, tỏ rõ vấn đề rất quan tâm tới những đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào đại lục, từ đó để phản kích lời kêu gọi ngừng đầu tư của Lý Đăng Huy.

Bề ngoài, tam thông là vấn đề buôn bán kinh tế, nhưng biện pháp quản lý tàu thuyền qua lại giữa hai bờ mà Bắc Kinh đã công bố, đưa vận tải đường biển giữa hai bờ xử lý thành vận tải đường biển trong nước đã khéo léo đặt đảo Đài Loan vào trong một nước Trung Quốc, vô hình chung đã hoạch định ra nguyên tắc “một đất nước Trung Quốc” trên quan hệ giữa hai bờ.

Mặc dù giới doanh nghiệp Đài Loan và nhân dân hoàn toàn không phải là không nhìn thấy sự tiến công chính trị tế nhị này của Bắc Kinh, nhưng trên cơ sở tăng cường tam thông, thì ai lấy được lòng dân chúng Đài Loan, ai át được đối phương thì người đó thắng. Muốn giành được sự ủng hộ của dân chúng Đài Loan thì phải xuất phát từ lợi ích của họ để chế định sách lược. Lý Đăng Huy gần đây đã phạm vào điều đại kỵ này, nên bị nhiều cú đòn bất ngờ.

Lý Đăng Huy lo lắng giới đầu tư Đài Loan đổ nhiều vào đại lục, kinh tế Đài Loan sẽ bị đại lục dắt mũi. Lý Đăng Huy cấm doanh nghiệp Đài Loan tây tiến, thì lại đối lập với lợi ích của giới doanh nghiệp Đài Loan. Trong khi các nước phương tây cũng đang nhòm ngó thị trường đại lục, Đài Loan lại rút lui thì không những khiến cho giới kinh tế Đài Loan mất đi cơ hội phát triển mở rộng hiếm có, mà còn gây cản trở cho sự phát triển kinh tế của Đài Loan. Vì vậy, lời kêu gọi của Lý Đăng Huy khiến cho không ít doanh nghiệp Đài Loan oán trách. Các doanh nghiệp Đài Loan tăng cường viếng thăm Trung Quốc ngoài đoàn đại biểu tổng hội công nghiệp toàn quốc Đài Loan mà Giang Trạch Dân tiếp ra, còn có đoàn đại biểu doanh nghiệp Đài Loan vế thiết bị y tế, nhà máy điện đang hy vọng được đầu tư tích cực vào đại lục. Giới kinh doanh Đài Loan nườm nượp trên đường phố Bắc Kinh chính là sự kháng nghị rõ ràng nhất đối với chính sách của Lý Đăng Huy.

KẾ THỨ MƯỜI HAI:

MƯỢN THẦN CHUNG QUỲ ĐÁNH QUỶ

Mèo mượn oai hổ, mượn gió bẻ măng

A. Nguồn gốc:

Kế này được Mao Trạch Đông nói đến đầu tiên, thời kỳ đầu cách mạng văn hóa, Lâm Bưu trong một lần hội nghị đã lớn tiếng tuyên truyền cải gọi là “kinh nghiệm chính biến” trong lịch sử, gọi lời nói của Mao Trạch Đông là “một lời bằng vạn lời” “lời nào cùng là chân lý” “thề chết bảo vệ Mao Chủ tịch”… Về sau, Mao Trạch Đông đã phê bình: “Lời nói của Lâm Bưu thực ra chỉ là mượn thần Chung Quỳ đánh quỷ”.

Mao Trạch Đông đã căn cứ vào một câu chuyện thần thoại của Trung Quốc để khái quát lên cách nói này. Theo cuốn: “Mộng khê bút đàm” của Thẩm Khoát: “Tương truyền khi Đường Minh Hoàng bị bệnh đã nằm mộng thấy một con quỷ lớn đang bắt và ăn thịt một con quỷ nhỏ. Đường Minh Hoàng mới hỏi nguyên cớ làm sao, con quỷ lớn đáp: “Ta là Chung Quỳ, trước đây từng ứng thí khoa cử, vì gian thần nhũng loạn mà từ đỗ bị đánh trượt, lại bị hãm hại. Vì vậy mà quyết tâm sau khi chết sẽ quét sạch những oan nghiệt trong thiên hạ, những việc bất bình trên thế gian”. Sau khi tỉnh dậy, Đường Minh Hoàng ngay lập tức hạ lệnh cho họa công Ngô Đạo Tử vẽ lại hình ảnh của Chung Quỳ theo tưởng tượng của mình rồi cứ đến tết Đoan Ngọ, đêm trừ tịch… cho dân gian treo tranh hình Chung Quỳ trước cửa nhà, cho rằng có thể đánh đuổi được ma quỷ, trừ tà trùng. Từ đó, Chung Quỳ dần trở thành vị thần chính nghĩa của nhân dân Trung Quốc.

B. Chú bình:

“Mượn thần Chung Quỳ đánh quỷ” hay “mượn gió bẻ măng” có tư tưởng hạt nhân ở từ “mượn”, tỉ dụ dùng sức mạnh, mưu kế (lực lượng) của người khác để làm việc lợi cho mình, nhưng mục đích và ý đồ thì khác hẳn nhau. Trong lịch sử Trung Quốc, một số hiền thần, danh tướng để làm những việc tốt, đem phúc cho dân, thường phải mượn danh nghĩa và uy quyền của Hoàng đế, nhưng một số gian thần, tặc tướng để đạt được bổng lộc, tước vị cao hơn, cũng thường mượn uy danh Hoàng đế, kết bè kéo đảng, tiêu diệt những kẻ đối lập với mình, hãm hại trung thần bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt. Trong đấu tranh quân sự, nếu biết lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ địch, tạo ra những tin tức giả nhằm mục đích làm cho địch tàn sát lẫn nhau thì cũng là diệu kế “Mượn thần Chung Quỳ đánh quỷ”.

C. Dẫn truyện:

1. Tín Lăng Quân trộm binh để đi cứu viện nước Triệu

Ngụy Công tử Vô Kỵ là con trai Chiêu vương nước Ngụy, được phong đất Tín Lăng nên gọi là Tín Lăng quân. Công tử đối đãi khiêm nhường với tướng sĩ, kẻ sĩ trong thiên hạ bất luận tài năng cao thấp, ông đều đối xử bằng lễ, không hề vì mình phú quý mà khinh thường kẻ khác. Vì vậy, trí sĩ khắp nơi quanh vùng đến hàng mấy trăm dặm đều tới quy phục ông. Ở nước Ngụy có một cư sĩ là Hầu Luy, mọi người thường gọi là Hầu sinh, là người ở Đại Lương, Đô thành nước Ngụy. Công tử biết ông là người hiền tài, mới đích thân cưỡi ngựa đi đón tiếp trước mặt rất nhiều người, rồi tiếp đãi ông ta như thượng đẳng môn khách.

Năm thứ 20, đời Ngụy An Hy, Tần Chiêu Tương vương đánh bại đại quân Triệu đóng ở Trường Bình, rồi tiến quần bao vây đô thành nước Triệu là Hàm Đan, em trai Triệu Huệ Văn vương là Bình Nguyên quân Triệu Thắng, anh rể của Ngụy Công tử, ông ta nhiều lần viết thư cho Ngụy vương và Ngụy Công tử, thỉnh cầu viện cứu, Ngụy Vương thì phải đại tướng Tấn Bỉ dẫn hơn 10 vạn quân tới nước Triệu trợ giúp. Lúc này, Tần vương phái sứ giả cảnh cáo Ngụy vương rằng: “Nước Tần đánh nước Triệu, sớm muộn thì cũng sẽ diệt Triệu, chư hầu nào dám cả gan đi cứu nước Triệu thì đợi ta hạ Triệu xong sẽ dẫn quân trị tội”. Ngụy vương thất kinh, vội lệnh cho Tấn Bỉ án binh bất động, lưu quân lại ở đất Nghiệp, đánh tiếng là viện cứu nước Triệu, nhưng thực chất là đợi để dò xem tình hình.

Bình Nguyên quân nhiều lần sai sứ giả đến cầu viện nước Ngụy. Ngụy Công tử cũng nhiều lần thuyết phục Ngụy vương, nhưng Ngụy vương sợ nước Tần, cuối cùng không dám hành động.

Công tử biết rằng cuối cùng thì cũng sẽ không được Ngụy vương trợ giúp, quyết định không thể để nước Triệu thì bị diệt vong còn mình thì không thể sống mà nhìn thảm cảnh như vậy. Ông bí mật tập hợp binh mã, dẫn quân cùng quân Triệu quyết liều mạng với quân Tần một phen.

Đoàn xe ngựa của Công tử đi qua cửa đông thì gặp Hầu sinh, mới kể lại toàn bộ sự tình rồi quyết từ biệt mà đi. Hầu sinh nghe rồi, nói: Công tử gắng bảo trọng, lão thần không thể đi theo công tử được.

Công tử buồn rầu nghĩ: ta đối đãi với Hầu sinh không phải là không hậu, nay ta đi liều chết với quân Tần, Hầu sinh không một lời động viên, tiễn biệt, chẳng lẽ ta có gì không phải?

Đi được mấy dặm, bèn quay xe lại hỏi Hầu sinh, Hầu sinh cười mà nói: “Tôi đoán chắc Công tử sẽ còn quay lại, Công tử hậu đãi kẻ sĩ, thiên hạ đều biết, nay có việc gấp, không nghĩ ra cách giải quyết nào khác lại liều chết với quân Tần, phương án đó có khác nào lấy tảng thịt mà đánh hổ đói, có ích gì? Đã như vậy thì còn dùng các môn khách này để làm gì? Vì Công tử đối với tôi tình nghĩa nồng hậu, tôi thấy Công tử đi mà không động viên tiễn biệt, biết rằng Công tử trong lòng sẽ có áy náy mà tất quay lại”. Công tử nghe vậy mới vội bái lễ ba, bốn lần rồi xin chỉ giáo. Hầu sinh cho dẹp hết người xung quanh, nói nhỏ: “Nghe nói phù tiết điều khiển binh tướng của đại tướng Tấn Bỉ thường để trong phòng ngủ của Ngụy vương. Cung phi của Ngụy vương là Như Cơ rất được Ngụy vương sủng ái, cô ta hoàn toàn có thể ăn cắp binh phù. Công tử đã từng giúp Như Cơ báo thù cho cha cô ta bị giết oan, nay công tử có việc gấp, Như Cơ tất sẽ tận tâm giúp đỡ, trộm binh phù, lấy quyền điều binh khiển tướng cho Công tử. Như vậy mới có thể viện cứu nước Triệu ở bắc, đánh lui quân Tần ở tây.

Công tử nghe vậy cho là diệu kế. Trước khi hành sự, Hầu sinh nói: “Các tướng soái còn đang dẫn quân bên ngoài, lệnh của Chúa thượng có thể không tuân theo, đó là vì lợi ích quốc gia. Nay Công tử đi, dù có binh phù mà Tấn Bỉ không giao quân quyền, lại báo với Ngụy vương thì sự việc ắt sẽ rất nguy hiểm. Tôi có người bạn là đại lực sĩ có thể cùng đi với Công tử. Nếu Tấn Bỉ chống cự không theo, thì có thể giết ông ta”. Thế là vị đại lực sĩ cùng đi với Công tử. Công tử bái tạ Hầu sinh, Hầu sinh nói: “Về lý thì lẽ ra tôi nên đi theo Công tử, tiếc rằng tuổi đã cao, lực bất tòng tâm, tôi sẽ tính từng bước đi và thời gian của Công tử, tính ngày ngài đến quân doanh Tấn Bỉ, tôi sẽ quay về phương bắc mà tự vẫn, coi như đó là lời tiễn biệt Công tử”.

Công tử đến đất Nghiệp, giả truyền báo rằng Ngụy vương ra lệnh thay thế Tấn Bỉ, Tấn Bỉ so binh phù, trong lòng sinh nghi, mới nói: “Tôi cầm quân hơn 10 vạn, chỉ đóng ở vùng biên giới, đó là trọng trách quốc gia giao cho tôi. Nay ngài một mình tới thay tôi, vậy rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”. Tấn Bỉ có ý không chấp nhận. Lúc này, đại lực sĩ bước lên, dùng chuỳ thép đánh chết Tấn Bỉ. Công tử sau đó nắm quyền quân đội, lựa chọn tinh binh, chiến mã được 8 vạn quân tinh nhuệ, rồi xuất quân tiến đánh nước Tần. Quân Tần chống đỡ không nổi, phải phá vòng vây bỏ chạy, thế là nước Triệu được giải cứu.

Sau khi Hầu sinh từ biệt Ngụy Công tử, tính đúng ngày Công tử đến quân doanh Tấn Bỉ rồi hướng về phía bắc tự vẫn mà chết.

Việc Công tử ăn cắp binh phù, giết đại tướng Tấn Bỉ khiến Ngụy vương vô cùng giận dữ. Công tử tự biết Ngụy vương sẽ không tha thứ cho mình, bèn sai tướng lĩnh dẫn quân Ngụy về nước, còn mình và các môn khách ở lại nước Triệu.

Triệu vương vô cùng cảm kích trước nghĩa cử trộm binh cứu Triệu của Tín Lăng quân, định cắt 5 tòa thành trì phong thưởng cho Tín Lăng quân. Tín Lăng quân biết chuyện mới mừng vui và nảy sinh lòng kiêu ngạo tự đắc. Lúc này, có môn khách mới dâng lời khuyên can: “Việc đời có cái nên nhớ, có cái nên quên. Nếu người khác có ân đức với ngài thì ngài không nên quên, còn nếu ngài có ân đức với người khác thì nên quên đi hết thảy. Hơn nữa lần này lại là giả truyền mệnh lệnh của Ngụy vương, cướp đoạt quân quyền, cứu nước Triệu. Việc này đối với nước Triệu mà nói thì là có công, nhưng với nước Ngụy mà nói thì là có tội, còn ngài lại cho rằng phản Ngụy cứu Triệu là công mà sinh lòng kiêu căng ngạo mạn thì quả thực điều này các thần không thể theo công tử được”. Tín Lăng quân nghe vậy thầm cảm kích và nghiêm trách mình, tỏ ý hối hận.

Triệu vương để báo đáp Tín Lăng quân, lệnh trang hoàng cung thất, đích thân nghênh tiếp, rồi mời Tín Lăng quân lên điện từ bậc cửa tây theo đúng nghi lễ tiếp đãi thượng khách. Công tử không dám tự nhận mình là người khách mới từ tạ Triệu vương, lên điện từ phía bậc cửa đông và luôn miệng nói: “Tôi không có công gì với nước Triệu cả, có tội với nước Ngụy, thật hổ thẹn, hổ thẹn”. Vì Tín Lăng quân nhiều lần khiêm nhường như vậy, nên cuối cùng Triệu vương cũng không tiện nói tới việc phong thưởng 5 tòa thành mà chỉ biết chúc rượu.

Tín Lăng quân đã giả danh Ngụy vương, giết chết đại tướng Tấn Bỉ để lấy quân đi cứu Triệu, được dân Triệu muôn lòng kính phục.

2. Lưu Cẩn giả chiếu Hoàng đế hãm hại trung thần

Thời Minh Võ tông, vì sủng ái Thái giám, không quản triều chính mà bị Thái giám Lưu Cẩn lộng quyền.

Số thái giám được Võ tông sủng ái có 8 người là: Mã Vĩnh Thành, Cốc Đại Dụng, Ngụy Bân, Trương Vĩnh, Khâu Tập, Cao Phương, La Tường, Lưu Cẩn. Thời đó gọi là bát đảng, về sau lại đặt biệt hiệu là Bát hổ. Trong 8 người này, Lưu Cẩn là gian ngoan xảo quyệt nhất, hắn từng đọc sách thánh hiền nên khả năng hơn hẳn 7 người kia, lại được Võ tông tín nhiệm nhất, vì vậy được đưa làm thủ lĩnh Thái giám.

Thủ đoạn đoạt quyền của Lưu Cẩn chủ yếu là tìm cách làm cho Hoàng đế dâm loạn, tiêu hao tinh lực, ăn ở không điều độ, không hỏi han đến chính sự, từ đó chớp thời cơ lôi bè kéo cánh, giả truyền chiếu chỉ, bài xích trung thần, hãm hại người trái ý mình, ngăn cản đường tấu trình Hoàng đế.

Đại học sĩ Lưu Kiện, Tạ Thiên… vạch tội trạng của bọn Thái giám Lưu Cẩn trước triều đình, bị Lưu Cẩn làm giả thánh chỉ, bãi miễn quan chức, đuổi khỏi kinh đô. Các đại thần là Lưu Cơ, Lã Vũ Trung rất bất bình, cũng trình tấu Hoàng đế, bảo vệ tính mạng cho các trung thần, và vạch tội Lưu Cẩn, kết quả bị Lưu Cẩn bắt giam. Binh bộ Thượng thư Lâm Hân, Ngự sử Nhan Vi vào triều kiến Hoàng đế, nói rằng không thể bài xích các nguyên lão triều đình, không thể tín nhiệm các Thái giám, vừa khéo bị Lưu Cẩn bắt gặp, Lưu Cẩn uất hận nghiến răng, nghiến lợi. Lựa lúc Võ tông đi đánh cầu vui chơi mới đưa trình tấu, xin phán quyết, Võ tông chỉ xem qua, rồi đưa lại cho Lưu Cẩn: “Ta không muốn xem những lời nói nhố nhăng này, giao cho ông tự xử lý”. Lưu Cẩn bèn truyền chỉ bắt toàn bộ các vị quan gửi tấu thư lên Hoàng đế, xử phạt đánh đòn rồi phế truất chức vị, đuổi về quê.

Lưu Cẩn câu kết với các quan lại trong Lại Bộ, nắm quyền hành triều chính. Lúc đó, việc bãi miễn, thăng quan chức trong triều đình đều do Lưu Cẩn chủ trì, còn việc phê duyệt tấu sớ thì giao cho Tiêu Phương chủ trì, tất cả mọi tấu sớ gửi Hoàng đế đều phải viết thành hai bản, một bản đỏ và một bản trắng, trước tiên trình bản đỏ cho Lưu Cẩn, sau đó mới được trình bản trắng lên Hoàng đế. Một hôm, Đô sát viện trình tấu, trong bản tấu vô tình nhắc tới tên Lưu Cẩn, Lưu Cẩn liền sai người tra hỏi, khiến cho Đô Ngự sử phải vội vàng dẫn theo Ngự sử của 13 đạo đến dinh thất Lưu Cẩn tạ tội. Cả đám người quỳ rạp trước bậc cửa dinh nghe Lưu Cẩn chửi rủa. Lưu Cẩn cứ chửi một tiếng là cả bọn đều phải dập đầu xuống đất cho tới hết thảy chảy máu đầu mối thôi.

Năm thứ 3, đời Võ tông Chính Đức, một hôm, sau khi bãi triều, Hoàng đế sắp về cung chợt nhìn thấy một bức thư bỏ lại, trong đó kể tội Lưu Cẩn, Hoàng đế vội trao ngay cho Lưu Cẩn đọc. Hắn tức giận vô cùng, tự biện hộ mấy câu, nhưng Võ tông không để ý, quay về cung. Lưu Cẩn ngay lập tức truyền lệnh cho các quan nhập triều, bắt quỳ cả ở ngoài cửa, rồi lần lượt tra hỏi từng người. Hôm đó trời nắng nóng, các quan lại mồ hôi ròng ròng, phủ phục dưới đất, vô cùng tức giận. Thái giám Lý Vinh cũng không chịu nổi. Nhân lúc Lưu Cẩn vào nội cung, lệnh cho Tiểu thái giảm đem ra một ít quả dưa cho các quan đỡ khát, không ngờ Lưu Cẩn trông thấy, Thái giám Lý Vinh và một loạt quan đồng lõa bị tước mũ áo, đuổi về quê. Mãi cho tới chiều tối mới lệnh cho quân sĩ nhốt hết đám quan còn lại vào ngục, tất cả hơn 300 người. Trong đó, có ba vị là Hình bộ chủ sự Hà Thành, Lễ bộ tiến sĩ Lục Thân, Thuận thiên Thôi quan Chu Thần vì trúng nắng, cảm mà chết trong ngục. Mãi mấy ngày sau, điều tra ra kẻ viết thư nặc danh là một Thái giám mới cho thả các đại thần.

Lưu Cẩn đã dùng thủ đoạn giả truyền thánh chỉ để hãm hại, mưu sát hoặc phế truất các đại thần chính trực, chỉ để lại những kẻ cùng bè đảng, thân thích, hoặc a dua, nịnh hót để nắm triều chính, thao túng nội các. Nội loạn đã lên đến đỉnh cao ở thời Minh Võ tông.

3. Tào Tháo mượn tay Lưu Biểu sát hại Di Hoành

Thời Tam Quốc, Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền tranh giành thiên hạ, ganh nhau tìm cách phú quốc cường binh, chiêu tập nhân tài, đặc biệt là Tào Tháo. Để thu phục mọi kẻ sĩ có tài trong thiên hạ về dưới trướng của mình, Tào Tháo hạ lệnh: “Bất luận đức hạnh con người như thế nào, chỉ cần có tài là trọng dụng”. Vì vậy mà rất nhiều nhân tài trong thiên hạ đã tìm đến. Nhưng thời đó có một người lại vô cùng kỳ quái. Ông ta coi thường Tào Tháo, tự cho rằng mình tài cao, không ai đáng để mắt tới, trong số những người ở xung quanh Tào Tháo, ông ta chỉ phục có hai người: một là Khổng Dung, cháu đời thứ hai mươi của Khổng Tử, hai là Dương Tu. Con người kỳ quái này chính là ẩn sĩ nổi tiếng đương thời Di Hoành.

Di Hoành từ nhỏ đã thông minh hơn người, nhưng lại ngạo mạn phóng đãng. Năm 24 tuổi, ông ta tới du ngoạn ở đô thành Hứa Xương, lại càng cậy tài mà ngạo mạn hơn. Đàm luận về các nhân vật trong thiên hạ, phần nhiều là chê bai, khinh thường, vì vậy mà chẳng có mấy người thích ông ta. Chỉ có Khổng Dung khi đó giữ chức Thiếu phủ quan là phục tài của ông ta và nhiều lần giới thiệu với Tào Tháo: “Con người Di Hoành ngay thẳng chính trực, tài hoa xuất chúng, chí hướng hơn người, ngay cả Nhiệm Tọa, Sử Ngư nổi tiếng thời xưa cũng khó sánh nổi. Bậc kỳ tài như Di Hoành quả là hiếm có”. Nghe lời Khổng Dung, Tào Tháo động lòng, muốn triệu kiến ngay Di Hoành, chuẩn bị trao trọng trách. Nhưng không ngờ, Di Hoành xưa nay đã chẳng coi Tào Tháo là gì, vì vậy mà chẳng thèm để ý đến lời mời của Thảo, thậm chí còn nói những lời vô lễ. Tào Tháo nghe được, vô cùng giận dữ, chỉ mong bắt ngay lấy ông ta về chém đầu. Nhưng lại nghĩ: Di Hoành là bậc kỳ tài chính trực nổi tiếng xa gần, nếu giết ông ta, sẽ ảnh hưởng đến cái tiếng chiêu hiền đãi sĩ của mình, nên đành nén giận. Nhưng Tào Tháo cùng không chịu dừng ở đó, ông ta muốn tìm cách trị thói kiêu ngạo của Di Hoành, phải làm cho hắn chịu xỉ nhục một phen mà phục tùng. Vậy dùng cách nào?

Tào Tháo nghe nói Di Hoành rất giỏi đánh trống, thế là nảy ra một kế cho Di Hoành làm chức quan nhỏ chuyên coi việc đánh trống trong quân đội chứ không phải mưu sĩ dưới trướng. Đến tháng 8, đại triều có lễ hội, theo quy định, mỗi viên quan đánh trống đều phải cởi bỏ quần áo cũ để mặc vào bộ quần áo chức quan, thể hiện địa vị của mình. Tháo muốn nhân cơ hội này cho Di Hoành một phen mất mặt trước văn võ bá quan. Nhưng không ngờ, Di Hoành khi được gọi vào vẫn chưa thay quần áo. Vệ quan lệnh cho ông ta phải xuống thay quần áo trước khi lên triều. Ông ta lại cởi hết quần áo ngay trước mặt Tào Tháo, trần như nhộng đứng giữa sân đình một hồi lâu rồi mới chịu chậm rãi mặc vào bộ quần áo quan đánh trống của mình. Tào Tháo giận lắm, nhưng đành nói: ta muốn cho hắn bẽ mặt một phen, nhưng hắn lại tỏ ra cao tay hơn.

Khổng Dung tự thấy có lỗi với Tào Tháo, mới tìm đến trách Di Hoành một trận và nói rõ ý chiêu nạp người tài của Tào Tháo, khuyên ông ta nên tới xin lỗi Tào Tháo. Di Hoành nhận lời, Khổng Dung lại tới gặp Tào Tháo, nói rằng Di Hoành vốn mắc “bệnh điên” chứ không phải cố ý làm như vậy và muốn gặp lại Tào Tháo một lần nữa để tạ tội. Tào Tháo nghe vậy mừng rỡ: cuối cùng thì Di Hoành cũng đã chịu cúi đầu nhận thua, mình quả đã không uổng công.

Tháo vội hạ lệnh cho lính gác cổng, nếu có khách đến hãy ngay lập tức cho ông ta vào, mở yến tiệc thượng khách để chiêu đãi ông ta.

Di Hoành quả thực đến gặp Tào Tháo. Nhưng ngoài dự liệu của Tào Tháo, Di Hoành không phải cung cung kính kính đến nhận lỗi mà là tới để “phát điên”. Chỉ thấy ông ta ăn mặc theo kiểu một lão nông rách rưới, chống gậy dài ba tấc, ngồi ngoài cửa cung Tào Tháo, lấy gậy đập xuống đất mà chửi rủa. Lính gác vội vào bẩm báo: ” Ngoài cổng có một gã điên đang chửi rủa, có nên bắt vào trị tội?”. Tào Tháo vừa nghe, phẫn nộ nói với Khổng Dung: “Tên Di Hoành này tự cao tự đại quả độ, ta giết hắn dễ như giết một con chim, con chuột. Chẳng qua là hắn có chút tiếng tăm nên nếu giết hắn, người ngoài không biết cho là ta không chịu được những người nói thẳng”. Tháo bèn hạ lệnh cho đưa Di Hoành tới Lưu Biểu ở Kinh Châu, vì biết rằng tính cách của Di Hoành trước sau cũng sẽ không tồn tại nổi ở chỗ Lưu Biểu.

Di Hoành coi thường Tào Tháo, lại càng coi thường Lưu Biểu, nên Lưu Biểu cũng không thể chịu nổi kẻ quái nhân này, thế là lại lệnh đưa tới chỗ Tướng quân Hoàng Tổ ở Hạ Khẩu. Hoàng Tổ là một tên tướng thô lỗ, trong một buổi yến tiệc, vì Di Hoành phát ngôn kiêu ngạo nên Hoàng Tổ giận dữ đã hạ lệnh đem chém Di Hoành.

Như vậy, Tào Tháo giết được Di Hoành mà không phải chịu tiếng.

4. Lâm Bưu “vạn tuế không rời miệng” và mộng nữ hoàng của Giang Thanh

Để giành quyền lực tối cao trong Đảng và nhà nước, Lâm Bưu thường xuất hiện với bộ mặt “cực tả”, dùng chiêu bài giương cao ngọn cờ bảo vệ Mao Trạch Đông để che đậy thực chất phản Mao của mình. “Ngữ lục” (cuốn sách nhỏ ghi chép những câu nói của Mao Trạch Đông) không rời tay, vạn tuế không rời miệng, trước mặt nói lời tốt, sau lưng tính kế độc - đó là bộ mặt thực của Lâm Bưu. Lâm Bưu quen dùng thủ đoạn: lấy danh nghĩa “chỉ thị tối cao” để hãm hại, đả kích hàng loạt các công thần khai quốc, còn ông ta thì từng bước, từng bước thăng tiến. Lâm Bưu gặp ai cũng rêu rao, tới đâu cũng đề từ: “Đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời của Mao Chủ tịch, làm một học trò tốt của Mao Chủ tịch”. Trước công chúng, giả làm một tín đồ trung thành luôn sủng kính Mao Trạch Đông, nhưng mục đích thực chất là tìm cách để thay thế Mao Trạch Đông. Vì vậy, Mao Trạch Đông về sau thấy rõ ý đồ của việc Lâm Bưu tâng bốc mình là “mượn thần Chung Quỳ đánh quỷ”.

Giang Thanh nhờ tư cách đặc biệt của mình là vợ Mao Trạch Đông, thường mượn danh Mao Trạch Đông để lừa quần chúng. Trong các đại hội quần chúng hoặc khi tiếp đại biểu học sinh, bà thường nói: “Hỡi các tiểu tướng hồng vệ binh, ta thay mặt Mao Chủ tịch tới thăm các bạn” rồi đi khắp nơi ra “chỉ thị”. Vì vậy, về sau Mao Trạch Đông cảnh cáo: “Giang Thanh có dã tâm”, “Giang Thanh muốn làm Chủ tịch Đảng”. Đồng thời, Giang Thanh còn lợi dụng uy quyền của Mao Trạch Đông (hoặc bịa đặt phao tin, hoặc bóp méo lịch sử, hoặc vu hãm) để lật đổ các quan chức có ý kiến về bà ta, đề bạt những quan chức trung thành với mình. Những vị quan chức cao cấp bị hại trong cách mạng văn hóa Trung Quốc có tới một nửa là kẻ thù của Giang Thanh, trong phái các phần tử cực tả có tới trên một nửa là đồ đệ của bà ta. Giang Thanh thường nói với các môn đồ của mình “đàn bà có thể làm Hoàng đế, ngay cả trong thời đại cộng sản chủ nghĩa cũng có thể có phụ nữ nắm quyền thống trị”. Bà ca ngợi nữ Hoàng đế duy nhất của Trung Quốc Võ Tắc Thiên, lấy đó làm biểu tượng cho chí hướng của mình. Thế nhưng nhờ những áp chế của Mao Trạch Đông và sự phản đối của nhiều người mà giấc mộng nữ hoàng của Giang Thanh tan thành mây khói.

KẾ THỨ MƯỜI BA:

PHÂN BIỆT CHÍNH PHỤ

(Chủ thứ)

A. Nguồn gốc:

“Chu dịch. Thượng kinh. Ly đệ tam thập” có đoạn viết: “Quốc vương xuất chinh, phản kích địch, giành chiến thắng lớn, quốc dân nước địch bị chém đầu, lại bắt được rất nhiều tù binh, nhưng không giết hại cũng không gây khó khăn cho họ”. Đoạn này nhấn mạnh: Quốc vương dẫn quân đi thảo phạt giặc dã nhưng không phải là giết bừa một cách vô cớ mà chỉ giết những kẻ cầm đầu, nguồn gốc chính gây tội ác, còn những bù binh khác thì không cần xét xử. Như vậy thì không có tội, không đáng trách. “Tượng từ” cũng nói: “Đây là phương cách cần thiết để chấn chỉnh quốc gia, vì như vậy thì “danh chính ngôn thuận”.

Kế này giải thích rằng: khi trừ ác cần tính đến sách lược, chỉ nên trừ khử kẻ trùm sỏ gây ác, còn kẻ phục tùng đi theo thì không cần.

B. Chú bình:

Tư tưởng hạt nhân của kế này là phải nắm chắc được mấu chốt chính yếu, điểm quan trọng của vấn đề. Xét từ góc độ triết học, khi giải quyết vấn đề phải nắm được mâu thuẫn chủ yếu, giải quyết tốt mâu thuẫn thì cái thứ yếu cũng theo đó mà được giải quyết dễ dàng. Người lãnh đạo, nhà quản lý một đơn vị, một quốc gia muốn được cường quốc an dân thì cần phải kiên quyết trừ khử tà ác, trong đó tất yếu phải có sự trừng phạt bằng vũ lực. Lịch sử và hiện thực cho thấy rằng, chính và tà, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối thường đi liền với nhau. Muốn đề xướng, duy trì và phát triển mặt chính, thiện và sáng cần phải kiên quyết trừng trị thế lực tà, ác, và đen tối. Đây là một quy luật phổ biến, là chân lý đúng ở mọi nơi, mọi thời đại. Thế nhưng khi trừng trị các thế lực tà, ác, đen tối thì cũng cần tính đến sách lược. Trong đó sách lược vô cùng quan trọng là phân biệt rõ kẻ trùm sỏ và kẻ phục tùng để xử sự phù hợp. Kẻ cầm đầu phải tiêu diệt tận gốc, còn kẻ làm theo thì có thể bỏ qua. Sở dĩ phải áp dụng sách lược này, chủ yếu là vì: thứ nhất, thế lực đen đối tà ác không phải là một khối thống nhất như nhau mà có phân biệt kẻ cầm đầu và kẻ đi theo, vì vậy vận dụng sách lược này có tác dụng làm phân hóa, tan rã đối phương, cô lập phần tử chủ chốt, từ đó mà bảo đảm được thành công của toàn bộ hoạt động trừng phạt. Thứ hai, vận dụng sách lược này có lợi cho việc giáo dục quảng đại quần chúng, giành được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi. Thứ ba, sách lược này còn có lợi cho việc biến các nhân tố tiêu cực thành nhân tố tích cực, tận dụng tối đa được tính tích cực từ mọi phía.

C. Dẫn truyện:

1. Kế không xử những kẻ tự thú như Lý Hiền

Năm Vĩnh Lạc đời Minh, quan Tư pháp báo với Hoàng đế, Đại tướng quân Thạch Hưởng vì vi phạm quân pháp nên đã bị chém đầu. Nhưng những kẻ bộ hạ của ông ta giả mạo công của Thạch Hưởng để thăng quan thì có đến hàng ngàn người. Bọn người này phải bị truy cứu tội trạng. Hoàng đế cho gọi Lý Hiền tới, nói với ông: “Việc này e rằng sẽ làm kinh động lòng người”. Lý Hiền nói: “Chỉ cần triều đình cho phép kẻ tự thú được miễn trị tội thì sự việc sẽ được giải quyết nhanh chóng”. Hoàng đế đã dùng cách của Lý Hiền, kết quả, hơn 4000 người mạo công toàn bộ tới đầu thú.

2. Kẻ cô lập của Dương Thạch Trai

Minh Võ tông đi thị sát phía nam trở về thì mắc bệnh nặng. Lúc ông hấp hối mới biết là bị tên biên tướng Giang Bân mưu phản hãm hại. Đại thần Dương Thạch Trai dâng kế sách phải bắt biên tướng Giang Bân, nhưng binh sĩ dưới quyền Giang Bân có tới mấy ngàn người, thân tín của ông ta lại đều là những kẻ võ nghệ cao cường. Dương Thạch Trai sợ rằng vội vã hành sự sẽ sinh binh biến, lại không có cách nào khác, bèn tìm Vương Quỳnh (tự Tấn Khê) để bàn bạc, Vương Quỳnh nói: nên thưởng công cho đám binh sĩ hộ tống Hoàng đế đi thị sát vùng phía nam và cho gọi họ tới Thông Châu lĩnh thưởng. Thế là toàn bộ binh sĩ của Giang Bân đều đổ tới Thông Châu lĩnh thưởng, kế cô lập này đã giúp Dương Thạch Trai dễ dàng bắt được Giang Bân.

3. Hoạn quan giám quân

Cuối đời Minh, quân đội đóng giữ kinh thành kỷ luật lỏng lẻo, không có sức chiến đấu, hầu như không có bộ phận nào làm được việc cả. Nếu như chỉnh đốn cắt giảm toàn bộ thì lại sợ kinh động binh biến, còn cứ xử lý theo biện pháp đó thì phải mất đến 10 năm mới có thể loại bỏ được hết những quân nhân hủ bại, vô dụng.

Các đội quân trấn thủ kinh thành này vốn đều do hoạn quan giám sát. Các hoạn quan đều chỉ huy quân đội theo ý của cá nhân mình, khiến cho tướng soái không biết đường nào mà theo, cũng không có một quy chuẩn thống nhất chỉ huy quân đội tiến lui. Về sau, đám người này lại chọn lựa hết các tướng sĩ dũng mãnh trong quân đội hoàng thành làm đội bảo vệ riêng cho mình. Số binh lính còn giữ lại làm nhiệm vụ tác chiến trong quân đội đều là bọn người yếu ớt, nhút nhát, vì vậy, mỗi lần xuất chinh đều bại trận. Thế là các vị Khu mật xứ Lý Tán Hoàng, Lưu Hành Thâm… mới bàn bạc quyết định phải chế ngự bọn hoạn quan giám quân này, không cho can dự vào việc quân đội. Cứ trong 1000 binh lính thì chỉ cho 10 người làm thị vệ cho quan phủ, sẵn sàng thưởng cho các tướng sĩ lập công. Thế là từ đó về sau, các tướng lĩnh được trổ hết mưu trí và tài năng chỉ huy của họ, mỗi lần chiến đấu đều lập được công lớn.

Thời Tống Nhân tông, biên giới phía tây xảy ra chiến tranh, đại tướng Lưu Bình tử trận. Dư luận triều đình cho rằng nguyên nhân là do triều đình giao cho hoạn quan làm giám quân nên các tướng lĩnh không được thể hiện tài năng chỉ huy của mình, vì vậy mà đặt Lưu Bình vào thế bị dồn ép bất lợi, Tống Nhân tông bèn hạ lệnh đem chém giám quân Hoàng Đức Hòa.

Có người dâng lời khuyên Hoàng đế nên bãi miễn toàn bộ chức vụ giám quân. Nhân tông hỏi ý kiến Lã Di Giản, Lã Di Giản đáp: “Không cần phải bãi miễn hết, chỉ cần chọn những hoạn quan có tư cách, trung hậu, thận trọng làm giám quân là được”. Tống Nhân tông ủy nhiệm cho Lã Di Giản đi chọn lựa những hoạn quan như vậy. Lã Di Giản đáp: “Thần là một Tể tướng, không giao thiệp với hoạn quan, làm sao có thể biết được họ tốt xấu thế nào. Hoàng thượng hãy lệnh cho cả đám hoạn quan đi lựa chọn, nếu tên giám quan mà họ đề cử không đảm nhiệm được chức vụ và các yêu cầu thì sẽ trị tội cả bọn”. Nhân tông nghe theo cách của Lã Di Giản.

Ngày hôm sau, đám hoạn quan đã phải cúi xin Nhân tông bãi chức tất cả các hoạn quan làm giám quân, các quan chức trong triều đều ca ngợi mưu kế của Lã Di Giản. Giết một giám quân, các giám quân khác vẫn tồn tại. Nếu cách chức toàn bộ họ thì về sau nếu quân đội xảy ra chuyện gì họ sẽ cho rằng đó là vì cách chức bọn họ nên mới bị như vậy, vì vậy, để cho bọn họ tự xin thôi chức là phương án tốt nhất.

3. Phương châm xử lý các chiến phạm Nhật Bản của Chính phủ Trung Quốc

Giữa những năm 50, Chính phủ Trung Quốc giam giữ tổng cộng 1109 chiến phạm Nhật Bản, trong đó 47 người chết trong thời kỳ giam giữ, còn lại 1062 người thì có 21 sĩ quan cấp tướng, 161 sĩ quan cấp tá, quan đặc nhiệm trong chính phủ Ngụy Mãn Châu quốc 14 người, quan Tiền nhiệm (chức quan văn hạng 3 trong thời kỳ từ sau cách mạng Tân Hợi đến trước giải phóng Trung Quốc) 52 người.

Trong quá trình xử lý các chiến phạm Nhật Bản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc đã thực hiện phương châm “xử phạt thiểu số, khoan hồng đại đa số”, không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân. Xét thấy xử tù có kỳ hạn 20 năm cũng không phù hợp với nhiều nguyên tắc, cuối cùng quyết định: “Đối với 45 chiến phạm chủ yếu có chức vụ cao, tội trạng nghiêm trọng hoặc chức vụ thấp nhưng tội trạng cực kỳ nghiêm trọng, tình tiết rất phức tạp thì khởi tố, giao cho pháp luật thẩm phạt. Còn 1071 chiến phạm còn lại thì được miễn khởi tố, hưởng khoan hồng, được thả”. Sự thực lịch sử cho thấy, phương châm chính sách mà Chính phủ Trung Quốc áp dụng đối với các chiến phạm Nhật Bản là hoàn toàn đúng đắn, Vừa giương cao ngọn cờ chính nghĩa, giữ được tôn nghiêm của dân tộc Trung Hoa, làm cho tội phạm chiến tranh phải chịu những trừng phạt thích đáng, đồng thời cũng biến những nhân tố tiêu cực thành nhân tố tích cực, gieo mầm hữu nghị thúc đẩy bình thường hóa quan hệ bang giao Trung - Nhật.

4. Tam phân pháp “tả, trung, hữu” của Mao Trạch Đông

Không có sự phân biệt đúng đắn thì sẽ không có chính sách đúng đắn. Mưu lược chính trị hoàn toàn nằm ở cái diệu kế của sự phân biệt. Những nhà chính trị có thể “trông mầm mà biết cây”, phân biệt được những tình huống không giống nhau để áp dụng đối sách tương ứng thì thường là những nhà đại mưu lược. Một học giả phương Tây chuyên nghiên cứu về Trung Quốc đã nói: “Đặc điểm lớn nhất của Mao Trạch Đông là ông luôn xác định những nét khái quát nhất của một chính sách nào đó, một lý luận nào đó, còn những nét cụ thể thì ông giao cho các nhân viên. Thế nhưng những phương châm chính trị lớn của ông không phải vì lớn mà không chi tiết, không phải chỉ biết khái quát mà không tính đến cụ thể. Bằng sự mẫn cảm hơn người của mình, ông có thể chọn ra được những hạt lép trong thùng thóc giống, lại rất bản năng phân biệt và chọn ra được những thứ thực sự có giá trị”.

Mao Trạch Đông giỏi phân biệt từ những tình tiết rất nhỏ, giỏi áp dụng những phương cách giải quyết khác nhau đối với những vấn đề không giống nhau.

Trong rất nhiều trứ tác của mình như “Luận chính sách”, “Phân tích các giai cấp trong xã hội Trung Quốc”… Mao Trạch Đông thường dùng phương pháp “một chia làm ba”, ví như từ tổng thể chia tất cả mọi người thành ba loại tả, trung, hữu, hoặc tiến bộ, trung gian, phản động. Đối sách tương ứng là: phát triển lực lượng tiến bộ, tranh thủ lực lượng trung gian, cô lập thế lực phản động.

Trong ba loại lớn tả trung, hữu lại chia thành ba loại tả, trung hữu nhỏ và có tả, trung, hữu nhỏ hơn. Cứ lặp lại không ngừng như vậy thì có thể phân biệt được tới mọi ngóc ngách (góc độ) của mọi giai tầng, mọi tập đoàn trong xã hội.

Trong nhân dân, ngay cả trong giai cấp công nhân cũng có phân chia cụ thể: có lớp công nhân tiên tiến, có lớp công nhân trung gian, có lớp công nhân lạc hậu; cần phải cổ vũ cái tiên tiến, phê bình cái lạc hậu, hướng dẫn lớp trung gian có cái nhìn tích cực, đúng đắn.

Trong nông dân thì có ba giai tầng khác nhau: phú nông (ăn no mặc ấm); trung nông (đủ ăn, đủ mặc), bần cố nông (đói ăn thiếu mặc), nên dựa vào bần cố nông, đoàn kết trung nông, hạn chế (đến thời điểm nhất định thì tấn công) phú nông.

Trong trung nông lại có ba bộ phận khác nhau là thượng trung nông (tự cấp có dư thừa), trung trung nông (có thể tự cấp được), hạ trung nông (đói ăn hàng năm). Cần phải đoàn kết chắc chắn với hạ trung nông, nỗ lực tranh thủ trung trung nông, chú ý đến tính dao động dễ thay đổi của thượng trung nông.

Giai cấp tư sản có thể chia thành 3 bộ phận: đại tư sản (giai cấp địa chủ, mại bản), giai cấp trung sản (chủ thể là giai cấp tư sản dân tộc) và giai cấp tiểu tư sản, cần phân biệt để đối đãi cho phù hợp.

Giai cấp tiểu tư sản, xét từ tổng thể thì là bạn gần nhất của cách mạng, cần đoàn kết, tranh thủ họ về mình, không thể để địch lôi kéo họ. Trong số họ lại có ba giai tầng: thượng, trung, hạ; phương pháp phân biệt và đối xử giống với ba bộ phận trong trung nông.

Giai cấp trung sản về chỉnh thể là dao động bất định, mang tính hai mặt, phái cánh hữu phải coi là kẻ địch của ta, dù bây giờ chưa là địch, nhưng họ cách địch cũng không còn xa. Cánh tả có thể coi là bạn của ta, nhưng không phải là bạn chân chính, chúng ta phải luôn để phòng họ. Mao Trạch Đông nhấn mạnh nhiều lần rằng, đối đãi như thế nào đối với giai cấp tư sản dân tộc là mấu chốt đảm bảo sự thành công của mặt trận thống nhất.

Giai cấp mại bản địa chủ cũng không phải là một khối thống nhất, ví như trong chiến tranh kháng Nhật đã có phái thân Nhật, phái thân Anh, Mỹ. Với phái thân Nhật thì phải cô lập, tấn công. Với phái thân Anh, Mỹ thì có thể đoàn kết, lợi dụng.

Các phái quân phiệt cũng không phải hoàn toàn nhất trí với nhau. Như phải Lưỡng Quảng thì đặt nhiệm vụ “thu phục những vùng đất bị mất”, “chống Nhật diệt phỉ”, còn Tưởng Giới Thạch thì “trước diệt phỉ, sau chống Nhật”. Đối với điều này, chúng ta cũng nên phân biệt mà đối đãi.

Ngay cả trong phái Hán gian thân Nhật cũng có thành phần Hán gian chủ chốt và các phần tử hai mặt. Đối với bọn trùm sỏ phải thực hiện chính sách công kích, cô lập; các phần tử còn lại thì thực hiện chính sách lôi kéo, tranh thủ.

Chủ nghĩa đế quốc cũng có phân biệt, trong điều kiện lúc đó, Mao Trạch Đông phân biệt đế quốc Nhật Bản xâm lược Trung Quốc và các đế quốc khác lúc đó chưa xâm lược Trung Quốc. Lại phân biệt đế quốc Đức, Ý là đồng minh của Nhật và đế quốc Anh, Mỹ đối lập với Nhật; lại phân biệt Anh, Mỹ trước đây dùng chính sách Munich Viễn Đông gây nguy hại Trung Quốc và Anh, Mỹ hiện nay đã bỏ chính sách này để giúp Trung Quốc chống Nhật.

Qua phân tích và phân biệt như vậy, Mao Trạch Đông đã đoàn kết tối đa được tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, đồng thời chọn ra được kẻ thù chủ yếu và trước mắt trong tất cả mọi kẻ thù.

Về mặt ngoại giao, Quốc dân đảng từng có chính sách “địch chỉ có một, còn lại đều là bạn”. Mao Trạch Đông thì không như vậy. Với ông, địch chỉ có một, còn lại là bạn, nhưng những người bạn này lại không giống nhau, không thể đối xử như nhau. Trong đó có người bạn chân chính, cũng có bạn bề mặt; có bạn tạm thời, cũng có bạn lâu dài; có bạn không tốt lắm, cũng có bạn tồi. Đối với những người bạn này, nên phân biệt để dùng những sách lược khác nhau đối đãi.

Tam phân pháp tả trung hữu này cũng giống như nhiều vấn đề triết học Mao Trạch Đông từng nêu ra như phân biệt mâu thuẫn thành mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu. Mâu thuẫn chủ yếu lại được chia thành các mặt chủ yếu, thứ yếu của mâu thuẫn. Bất kỳ lúc nào cũng đều phải phân biệt chủ thứ. Địch chủ yếu chỉ có một, còn những địch thứ yếu khác có thể tạm thời coi là bạn, đợi sau khi tiêu diệt địch chủ yếu rồi lần lượt giải quyết những địch còn lại. Từ đó đã giành được thắng lợi vĩ đại của cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới.

KẾ THỨ MƯỜI BỐN:

MUỐN LẤY, TẠM THỜI HÃY CHO

A. Nguồn gốc:

Sách “Lão Tử”, chương thứ 36, viết: “Tương dục hấp chi, tất cố trương chi; tương dục nhược chi, tất cố cường chi; tương dục khứ chi, tất cố cử chi; tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi”. Lão Tử cho rằng: muốn thu nó, thì tạm thời hãy thả nó ra; muốn làm suy yếu nó thì phải tạm thời làm cường thịnh (hùng mạnh) nó; muốn phế bỏ nó thì phải tạm thời ủng hộ nó; muốn giành lấy nó phải tạm thời cho nó”. Sách Chiến Quốc “Chu thư” cũng có dẫn: “tương dục thủ chi, tiên cố dữ chi”. Tâm điểm của kế này là: muốn lấy được từ tay người khác cái mà mình muốn thì trước tiên hãy cho anh ta một cái gì đó.

B. Chú bình:

Kế này hàm chứa những tư tưởng biện chứng của Lão Tử. Ông đã tổng kết một nguyên tắc nổi tiếng là: “Nhu nhược thắng cương cường” (yếu thắng mạnh). Tư tưởng này của Lão Tử có ảnh hưởng nhiều đến quá trình hình thành lý luận “thuật” và “thế” của Pháp gia, là một sự phong phú và phát triển lớn trong tư tưởng mưu lược quân sự cổ đại Trung Quốc. Mao Trạch Đông trong cuốn “Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc” từng dẫn dụ tư tưởng này của Lão Tử để chứng minh cho tính đúng đắn của phương châm “nhử địch vào rồi bao vây tiêu diệt” và phê bình sai lầm của những kẻ tả khuynh phản đối rút lui chiến lược. Ông chỉ rõ: “Về vấn đề bỏ mất đất đai phải được hiểu rằng: chỉ để mất thì mới có thể không mất, đó chính là nguyên tắc “muốn lấy thì trước hết hãy cho”. Nếu cái chúng ta mất là đất đai, cái chúng ta được là chiến thắng kẻ địch rồi khôi phục lại và mở rộng đất đai thì đó chính là mưu lược của nhà buôn… Cái mất mà các phong trào cách mạng tạo ra là sự phá hoại, nhưng cái được là nền móng cho sự tiến bộ… Cái mất của chúng ta trong thời kỳ “vây diệt” lần thứ 5 của địch chính là như vậy. Không muốn mất đi một phần đất đai, thì kết quả sẽ mất toàn bộ… Sau Cách mạng tháng 10 Nga nếu như làm theo ý kiến của những người cộng sản phái tả mà cự tuyệt hòa ước với Đức thì Xô Viết non trẻ sẽ có nguy cơ chết yểu”.

C. Dẫn truyện:

1. Tần vương tặng Thục vương con trâu đá biết “đẻ ra vàng” rồi cướp nước

Tần Huệ Văn vương khi đi săn ở Tần Linh (núi nước Tần) gặp Quân chủ nước Thục Khai Minh Hóa. Tần vương nói rằng sẽ tặng Thục vương một con trâu đá lớn biết đẻ ra vàng làm lễ kết nghĩa huynh đệ. Trở về, Tần vương sai thợ đẽo đá làm một con trâu lớn bằng đá, trong bụng nhét đầy vàng rồi báo cho Thục vương đến nhận. Thục vương tham trâu đá biết đẻ ra vàng mới sai người đắp lại con đường nối giữa hai nước vốn rất khó đi. Không ngờ việc này đã tạo thuận lợi lớn cho quân Tần. Đường sang đất Thục vốn khó khăn, nay có con đường này, quân Tần dễ dàng tiêu diệt Thục.

2. Trịnh Trang công phong cho em mình là Kinh Đô vương

Thời Xuân Thu, mẹ của Trịnh Trang công yêu chiều con bé là Thúc Đoạn, yêu cầu Trịnh Trang công phong cho Thúc Đoạn làm vương ở kinh đô, chính là thủ đô nước Trịnh. Đại thần khuyên Trịnh Trang công không nên phong. Nhưng Trịnh Trang công đáp ứng yêu cầu của thân mẫu, phong Thúc Đoạn làm Kinh đô vương. Sau việc này, Thúc Đoạn được thể hoành hành vô kỷ luật, đại thần lại nhắc Trịnh Trang công nên thảo phạt Thúc Đoạn. Trịnh Trang công nói: “Tội của nó vẫn chưa rõ lắm, nếu thảo phạt nó lúc này, lòng người sẽ cho rằng Trang công tàn nhẫn, sát hại em trai mình”. Thế là một thời gian sau, Thúc Đoạn lại tăng thêm bước phản loạn. Trang công cho rằng thời cơ đã đến, mới dùng kế “nhử rắn ra ngoài hang”, loan truyền rằng ông phải rời nước Trịnh đi triều kiến Thiên tử nhà Chu. Thúc Đoạn ngộ nhận rằng thời cơ đã đến, mới cùng mẫu thân tính kế chiếm đoạt vương vị. Trịnh Trang công đã nắm rõ được ý đồ của hai mẹ con, ông dẫn quân vòng trở lại đi tắt đường gần, đột kích kinh đô. Thúc Đoạn bị bất ngờ, hốt hoảng bỏ chạy thoát thân sang đất Yên.

Đó chính là diệu kế của Trịnh Trang công. Trước tiên cho người em dã tâm làm phản vương vị ở kinh đô, tức là cho cơ hội mưu phản, cho cơ hội bộc lộ mình, sau đó có đủ cớ để diệt mà thiên hạ tâm phục khẩu phục.

3. Mạo Đốn nhún nhường nước Đông Hồ

Đầu đời Hán, Mạo Đốn nước Hung Nô giết cha và tự lên ngôi, nước láng giềng là Đông Hồ tìm cớ gây sự, phái sứ thần sang đòi Mạo Đốn phải cống nạp một con thiên lý mã. Lúc đó Hung Nô chỉ có một thiên lý mã của vua, các đại thần khuyên không nên tặng, nhưng Mạo Đốn khẳng khái tặng ngay con thiên lý mã cho Đông Hồ. Đông Hồ cho rằng Mạo Đốn sợ mình, lại sai người đến đòi vợ của Mạo Đốn. Các Đại thần cho rằng đó là một sự sỉ nhục lớn, nhưng Mạo Đốn lại khẳng khái vô tư tặng vợ mình cho Đông Hồ. Quốc vương Đông Hồ vì vậy mới cho rằng Mạo Đốn hết sức khiếp sợ ông ta, chủ quan kiêu ngạo, không hề cảnh bị và quốc lực ngày càng suy yếu. Lần thứ ba, Quốc vương Đông Hồ lại phái sứ giả sang đòi vùng đất giáp giới giữa hai nước. Lúc này, Mạo Đốn cho rằng thời cơ xuất quân chinh phạt đã chín muồi, thế là dẫn quân nhanh chóng ồ ạt tiến sang tiêu diệt Đông Hồ. Đông Hồ không hề cảnh bị, mau chóng bị diệt vong. Đó chính là sách lược muốn lấy thì trước hãy cho của Mạo Đốn đối với Đông Hồ.

4. Kế thả để bắt của Bành Công

Trong cuốn “Bành Công án” có truyện kể rằng: Có người phát hiện ra trong giếng ở miếu Thiên Tiên có một thi thể nam không đầu và một thi thể nữ. Người ta nhận ra thi thể nữ là cô gái tên là Cúc Nương, có chồng là Diêu Quảng Trí, thời gian gần đây không biết đã biến đâu mất. Còn thi thể nam mất đầu thì không thể nhận biết được. Bành Công sai anh em nhà Diêu Quảng Trí dẫn đám lính đi lùng tìm tên Diêu. Một tuần sau, họ tìm thấy Diêu Quảng Trí trong nhà một cô gái, bèn bắt giải cả hai người tới nha môn Bành Công. Qua thẩm vấn biết rằng Diêu Quảng Trí là anh em kết nghĩa với chồng của cô gái kia (Lý thị) là Hoàng Thủy. Hai người một mực không thừa nhận đã biết sự việc về hai thi thể dưới giếng. Bành Công mới sai đánh đòn, nhưng hai người vẫn không nhận. Lúc này, Bành Công mới nghĩ ra một kế, ông nói: “Diêu Quảng Trí, ta đã xử oan cho ngươi, đánh nhầm ngươi, nay ta bồi thường cho ngươi 500 lạng bạc, ngươi hãy về mai táng vợ mình, ta sẽ tìm ra hung thủ, báo thù cho vợ chồng ngươi, hãy tu chí làm ăn, không được làm việc xấu”. Diêu Quảng Trí và Lý thị dập đầu tạ ơn rồi kéo nhau về nhà Lý thị. Đêm ấy, hai người chúc rượu nhau. Trong cơn say nồng, Diêu Quảng Trí nói: “Ngày mai, đem ném bỏ cái ấy đi”. Lý thị đắc ý tiếp lời: “May mà tôi nhanh trí giấu kín cái đầu ấy đi, nếu không thì cả hai ta đã chết”. Vừa nói đến đấy thì thấy một đám lính từ bên ngoài xông vào bắt gọn cả hai. Thì ra, Bành Công đã sai người đi theo và núp sau cửa sổ nghe hết. Vụ án được phá dễ dàng.

KẾ THỨ MƯỜI LĂM:

QUÁ HÀ TRIẾT KIỂU

Qua sông chặt cầu

A. Nguồn gốc:

“Nguyên sử. Triệt Lý Thiếp Mộc Nhi truyện” chép: cuối đời Nguyên, có một đại thần gọi là Triệt Lý Thiếp Mộc Nhi. Con người này từ nhỏ đã điềm đạm chín chắn, cương nghị, có chí lớn, có nhiều công lao với triều đình, rất được Nguyên Huệ tông (Thuận Đế) tín nhiệm.

Năm 1335, Triệt Lý Thiếp Mộc Nhi được bổ nhiệm làm Trung y hư Bình chương Chính sự. Ông thấy phương pháp chọn lựa nhân tài dựa vào chế độ khoa cử đương thời có rất nhiều tệ nạn, vì vậy đưa ra ý kiến xóa bỏ chế độ khoa cử và lập tức được sự ủng hộ của Thuận Đế, Thái sư Bác Nhan và nhiều người khác. Thế nhưng, khi chiếu thư đã được thào xong, vẫn chưa được đóng dấu của Hoàng đế thì có một viên quan Tham chính là Hứa Hữu Nhâm phản bác và tranh cãi với Bác Nhan, Triệt Lý Thiếp Mộc Nhi. Cuối cùng, ý kiến của Hứa Hữu Nhâm không được tiếp nhận.

Ngày hôm sau, khi tuyên đọc chiếu thư Hoàng đế về vấn đề xóa bỏ chế độ khoa cử tại Sùng Thiên môn, các quan đã đặc phái Hứa Hữu Nhâm làm trưởng ban, cố ý cho ông ta bẽ mặt một phen. Hứa Hữu Nhâm sợ gặp phải họa, đành miễn cưỡng phục tùng, khiến cho các quan cùng phe cánh hiểu lầm về ông ta, cho rằng Hứa Hữu Nhâm đã ủng hộ việc xóa bỏ chế độ khoa cử. Vì bản thân Hứa Hữu Nhâm vào được quan trường cũng không qua đường khoa cử, nên các quan mới mỉa mai Hứa Hữu Nhâm rằng: “Tham chính khả vị quá hà triết kiều hề” (Hứa Hữu Nhâm làm quan có thể gọi là một kẻ qua sông rồi chặt bỏ cầu).

B. Chú bình:

Tư tưởng hạt nhân của kế này là giải quyết triệt để vấn đề, không lưu lại cái đuôi để tránh hậu họa về sau. Từ một góc độ khác, nó cũng thể hiện tính phiến diện trong phương pháp tư tưởng, phê phán các hành vi thiển cận chỉ trông thấy cái lợi trước mắt mà thiếu đi tầm nhìn chiến lược, không nghĩ đến hậu họa. Nguyên nghĩa của “qua sông chặt cầu” là: sau khi đạt được mục đích rồi trở mặt, một chân đá phăng ngay người hoặc sự vật mà nhờ nó đạt được mục đích. Đó là biểu hiện không giữ tín nghĩa, là điều đại kỵ trong quan hệ bạn bè. Người qua sông chặt cầu thường là người hai mặt, ngoài thì vâng dạ, trong thì mưu phản, ngoài thì phục tùng, trong thì chống lại, hoặc “bề ngoài thơn thớt nói cười, trong thì nham hiểm giết người không dao”, trước mặt bắt tay, sau lưng giơ đấm.

Trong thời kỳ ý thức hệ phong kiến còn nặng nề, những loại quan như vậy có ở khắp nơi, hơn nữa, chúng lại từng bước thăng quan tiến chức khiến nhân dân uất hận tận xương tủy. Nhưng trong đấu tranh đối địch, bất kể là chính trị, quân sự, ngoại giao… vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, có lúc lại nên thực hiện sách lược qua sông chặt cầu. Lịch sử đông tây kim cổ không hiếm những trường hợp như vậy.

C. Dẫn truyện:

1. Sái Túc để bảo toàn tính mạng phải dùng kế trở mặt

Thời Xuân thu, Trịnh Trang công bệnh nặng, cho gọi đại thần Sái Túc vào bàn bạc, muốn phê Thái tử Hốt để lập con thứ là Tử Đột kế thừa vương vị. Sái Túc nói: phế trưởng lập thứ tất sẽ dẫn đến đại loạn. Trang công thấy cũng có lý, nhưng cũng biết rằng con thứ Tử Đột sẽ không cam chịu dưới quyền người khác, mới sai đưa Tử Đột đến bà ngoại ở nước Tống.

Không lâu sau, Trang Công chết, Thái tử Hốt kế vị, tức là Trịnh Chiêu công. Chiêu công lên ngôi, sai Sái Túc đi viếng thăm các nước. Sái Túc đến nước Tống. Tống Trang công chưa hỏi nguyên do gì, sai người bắt trói luôn Sái Túc. Sái Túc không hiểu hỏi: “Tôi đã phạm tội gì?”. Người của Tống Trang công đáp: “Đừng có lo lắng vậy, từ từ ta sẽ nói cho ông rõ”.

Đợi tới chiều, Tống Trang công mới sai Thái tử Hoa Đô đến gặp Sái Túc, nói rõ sự thực: “Ngài Tử Đột nước ông đang yêu cầu chúng tôi cho quân hộ tống ông ta về nước, cho nên Đại vương của chúng tôi muốn ông tìm cách phế bỏ Thái tử Hốt, lập Tử Đột làm Quốc quân. Nếu ông không đồng ý thì rất xin lỗi, chúng tôi sẽ giết ông trước, sau đó sẽ cho quân hộ tống Tử Đột về nước Trịnh”.

Dưới sự truy bức của Tống Trang công, Sái Túc đã phải nhận lời và thề giữa trời đất.

Ngày hôm sau, Tống Trang công lại phái Hoa Đô gọi Tử Đột đến, nói: “Vua mới của nước ngài nay phái sứ thần đến, yêu cầu tôi giết ngài và hứa sẽ trả công bằng 3 tòa thành trì”. Tử Đột tin là thật vội dập đầu và nói: “Sinh mệnh tôi đã nằm trong tay các ngài, nếu như ngài có thể vẽ đường cho tôi thì tôi sẽ hậu tạ không chỉ có ba tòa thành trì”.

Tống Trang công thấy Tử Đột đã trúng kế, bèn sắp xếp cho Tử Đột và Sái Túc gặp nhau, bàn bạc xem sẽ về nước cướp quyền như thế nào.

Tống Trang công hỏi Tử Đột sẽ trả công bằng gì, Tử Đột nhất thời nghĩ không ra. Tống Trang công sa sầm mặt mày nói: “Vậy thì thế này, ta cùng không muốn gây khó khăn cho ông, chỉ cần trả cho ta ba tòa thành trì, 100 đôi mỹ ngọc, một vạn lạng vàng, thêm vào mỗi năm 2 vạn thạch lương là được”.

Tử Đột đang nóng lòng về nước, không nghĩ ngợi nhiều đồng ý liền, và còn viết giấy cam đoan. Trang công thấy mục đích đã đạt được, mới thả Sái Túc về nước.

Sái Túc về nước Trịnh, báo với các đại thần tin nước Tống phát binh hộ tống Tử Đột về nước. Tất cả đều sợ hãi, rồi tất thảy nhất trí lập Tử Đột làm vua. Trịnh Chiêu công thấy đại thế đã mất, đêm đến mới trốn sang nước Vệ.

Không lâu sau, Tử Đột về nước kế vị, xưng là Trịnh Lệ công.

Tống Trang công sai người đến nước Trịnh chúc mừng và yêu cầu Tử Đột thực hiện lời hứa. Trên thực tế, nước Trịnh là một nước nhỏ, làm sao có thể trả một cái lễ hậu như vậy. Cuối cùng không trả được, Tử Đột chỉ sai người đem một ít lương thực đi.

Chút lễ vật quá nhỏ mọn này khiến Tống Trang công nổi giận, mới nhờ Hằng công nước Lỗ làm trung gian đi đòi nợ. Vì xung đột về lợi ích, ngôn từ không xuôi, Tống Trang công đã khiến Lỗ Hằng công nổi giận. Khi đó, giữa các nước đang gằm ghè tranh đoạt lẫn nhau tới mức cao trào. Tống và Tề cùng hội với nhau, nước Trịnh và Lỗ bèn kết thành đồng minh. Hai phái công khai xung đột. Kết quả, liên quân Trịnh Lỗ đánh bại quân Tề Tông. Tử Đột thực sự trở thành người qua sông chặt cầu.

2. Thạch Lặc biếu lễ lớn để mưu sát Vương Tuấn

Năm 313, tức năm đầu đời Tấn Kiến Hưng, trọng thần Vương Tuấn muốn phế vua để tự lên ngôi, khiến bộ hạ lần lượt xa rời. Lúc này, Thạch Lặc có ý lật đổ Vương Tuấn, mới hỏi bộ hạ là Trương Binh xem có kế gì. Trương Binh nói: “Không kế nào bằng bề ngoài thì phục tùng, suy tôn, bên trong thì tấn công, kích bác”. Thế là Thạch Lặc sai người biếu lễ lớn cho Vương Tuấn, nói: “Ngài là bậc quý tộc danh tiếng, nay đất Trung Nguyên vô chủ, Thạch Lặc nguyện phụng ngài làm đế như là bậc phụ mẫu thiên hạ”. Vương Tuấn tin là thật.

Năm 314, Thạch Lặc dẫn quân đến Dịch Thủy. Bộ hạ của Vương Tuấn cho rằng Thạch Lặc dẫn quân đến, tất có âm mưu, mới xin cho xuất kích. Vương Tuấn cho rằng, Thạch Lặc dẫn quân đến để phò ông ta làm Hoàng đế nên không cho xuất kích. Quân Thạch Lặc đến thành, kề nơi Vương Tuấn đang đóng quân, lính giữ cửa lập tức mở cửa thành, thả thang dây, Thạch Lặc nghi là có phục binh, không dám cho quân xông vào thành. Ông nói với tướng sĩ trên thành: để mừng lễ lớn, tôi đem đến một đàn dê, chúc mừng Hoàng đế Vương Tuấn. Đàn dê lớn ùa vào thành, chen kín lối đi, dù có phục binh cũng không làm gì được. Thế là Thạch Lặc dẫn quân xông vào, bắt Vương Tuấn, chém đầu.

3. Tôn Truyền Phương dùng lời lẽ bùi tai để lừa Vương Vinh Tuyền

Mùa thu năm 1942, Tào Côn lệnh cho Tôn Truyền Phương dẫn quân đi chiếm lại địa bàn Phúc Kiến. Tào Côn là quân phiệt trực hệ, trong khi đó đại quyền quân chính ở Phúc Kiến lại nằm trong tay Vương Vĩnh Tuyền thuộc dòng phi trực hệ.

Tôn Truyền Phương đóng quân ở biên giới tỉnh Phúc Kiến và chỉ dẫn theo một số quân tiến vào Phúc Kiến, nói dối rằng Ngô Bội Phù bài xích ông ta, vừa nói vừa tỏ ra uất hận tới rơi nước mắt. Ông ta nói với Vương Vĩnh Tuyền rằng, chỉ cần hai người đồng tâm hiệp lực, nhất định có thể giữ được Phúc Kiến, vỗ an lòng dân.

Những lời lẽ ngọt ngào, bùi tai của Tôn Truyền Phương khiến Vương Vĩnh Tuyền xuôi lòng, tin tưởng ông ta. Tôn Truyền Phương còn cùng với Vương Vĩnh Tuyền kết nghĩa huynh đệ, thề trước trời đất. Thế là Tôn Truyền Phương dẫn quân vào Phúc Kiến. Vương Vĩnh Tuyền không những không nghi ngờ còn cho rằng quân đội nhờ vậy mà lớn mạnh lên nhiều.

Tháng 3 - 1923, Tào Côn chính thức giao cho Tôn Truyền Phương làm Quân vụ Đốc lý tỉnh Phúc Kiến. Tôn một mặt vẫn cười nói, giao thiệp hữu hảo với Vương Vĩnh Tuyền, mặt khác bí mật điều binh khiển tướng. Vào một đêm, bất ngờ dẫn quân đội của mình vào sâu tỉnh thành Phúc Kiến. Vương Vĩnh Tuyền lúc này mới biết rằng mình mắc lừa, nhưng đã muộn, chỉ còn cách đào tẩu, thoát thân sang Thượng Hải. Vì vậy mà về sau, mọi người đều gọi Tôn Truyền Phương là Hổ mặt cười.

4. Tưởng Giới Thạch hủy “hiệp định ngừng chiến” và “quyết nghị chính hiệp” (hiệp thương chính trị)

Tháng 7-1946, Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch không thèm để ý đến sự phản đối của nhân dân Trung Quốc, hủy bỏ “hiệp định ngừng chiến” và “quyết nghị chính hiệp”, tiến quân vào vùng giải phóng, phát động nội chiến trên quy mô toàn quốc. Đây được coi là ví dụ điển hình của kẻ “qua cầu rút ván” trong lịch sử Trung Quốc.

10-1-1946, đại biểu Đảng cộng sản Trung Quốc và đại biểu Chính phủ Quốc dân đảng đã thương lượng và ký kết hiệp định về vấn đề ngừng xung đột quân sự, tức “hiệp định ngừng chiến”, quy định: bắt đầu từ đêm 30/01, quân đội hai phía ngừng mọi hoạt động quân sự tại vị trí đóng quân của mình. Đồng thời, từ 10 đến 31-1-1946, đại biểu Quốc dân đảng, Đảng cộng sản và các đảng phái khác cùng đại biểu nhân sĩ tổ chức hội nghị hiệp thương chính trị tại Trùng Khánh và thông qua 5 quyết nghị. Tưởng Giới Thạch đã lợi dụng danh nghĩa “hiệp định ngừng chiến”, vừa khi lệnh ngừng chiến có hiệu lực, ông ta ngay lập tức lệnh cho quân đội Quốc dân đảng chiếm lĩnh các yếu điểm chiến lược, tiếp đó lại liên tục điều động quân đội, tiến công vào khu giải phóng. 5 quyết nghị của “hiệp thương chính trị” có lợi cho nhân dân mà không có lợi cho sự thống trị của Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch một mặt thừa nhận những hiệp nghị này, mưu đồ lợi dụng những hiệp nghị này để thực hiện lừa dối một cách hòa bình, mặt khác lại tích cực chuẩn bị phát động nội chiến. Đến tháng 7-1946, những hiệp nghị của hội nghị hiệp thương chính trị đều bị Tưởng Giới Thạch trở mặt, lần lượt hủy bỏ. Đi ngược lại nguyện vọng của Tưởng Giới Thạch, qua ba năm chiến tranh giải phóng nhân dân, 8 vạn quân Quốc dân đảng đã bị tiêu diệt, Tưởng Giới Thạch chặt cầu nhưng tự mình lại rơi xuống giữa dòng sâu.

KẾ THỨ MƯỜI SÁU:

KHAI MÔN TẬP ĐẠO

Mở cửa bắt giặc

A. Nguồn gốc:

“Khai môn tập đạo” được cải biến từ cách nói “khai môn ấp đạo”. Chữ “ấp” (nghĩa là: vái chào, đón rước) và chữ “tập” (nghĩa là: lùng bắt, truy nã) trong tiếng Trung viết gần giống nhau, nhưng nghĩa lại gần như ngược nhau. Người ta viết nhầm và về sau người dùng cứ theo nghĩa này, tức là “khai môn tập đạo”. Chỉ khác nhau ở một vài nét nhưng làm cho ý câu nói thay đổi về chất.

“Khai môn ấp đạo” xuất hiện sớm nhất từ cuốn “Tam quốc chí. Ngô chí, Ngô chủ truyện”: khi Tôn Sách chết, em trai là Tôn Quyền khóc lóc thê thảm trước linh cữu. Mưu thần là Trương Chiêu khuyên Tôn Quyền rằng: “Bây giờ là lúc quốc gia nguy nan nên phải một mặt lo liệu việc tang, một mặt chấn chỉnh quân quốc đại sự. Nếu cứ lo lắng mà chạy theo lễ tiết cũ thì chẳng khác gì mở cửa lớn mà đón giặc cướp vào”.

B. Chú bình:

“Khai môn tập đạo” (mở cửa bắt giặc) là một kế được dùng với ý nghĩa tương phản với “khai môn ấp đạo” (mở cửa đón giặc) ở cả tư tưởng hạt nhân và nội dung. Nguyên nghĩa là tìm cách dẫn dụ địch vào vòng vây của mình rồi tiêu diệt. Đây là biểu hiện cụ thể của kế “thực tắc hư chi” (biến thực thành hư) của mưu lược binh pháp, là kế lấy hư để nhử địch. Cuốn “Thảo Lưu kinh lược. Quyền lục. Hư thực” cũng nói: “Hư thực là ở ta, ta có thể lừa địch, hoặc là hư mà thể hiện là thực, hoặc là thực mà thể hiện là hư”. Dùng cái chân thực để thể hiện ảo ảnh với địch, đó là mấu chốt của kế này. Mục đích mở cửa là để bắt giặc. Vì vậy, cần phải có sự chắc chắn mười phần, nếu chỉ chắc chắn có chín phần mười cũng không được.

Thực mà thành hư là một tư tưởng mưu lược dùng để dẫn dụ và tiêu diệt địch khi ta đang có nhiều ưu thế và chủ động. Nguyên nghĩa của “mở cửa bắt giặc” là cố ý tạo vòng vây, cố ý tỏ ra mình yếu, tạo ra thế trận nhà không, thành trống, tạo ra hư giác, dẫn địch “vào cửa” sau đó bất ngờ tấn công, bao vây và tóm gọn. Mở cửa là thể hiện bề mặt, biến thực thành hư, thể hiện thế yếu, dễ khiến cho địch tưởng giả là thật, hồ đồ, ảo tưởng, sau khi địch “vào cửa” rồi sẽ dốc toàn lực đối phó. Đó là biểu hiện của kế biến thực thành hư để dẫn dụ và tiêu diệt địch.

C. Dẫn truyện:

1. Hàn Tín bố trí phục binh để dẫn dụ Hạng Vũ “vào cửa”

Tháng 10, năm thứ 5, đời Hán Cao Đế (năm 202 TCN), Hàn Tín nhận lệnh của Lưu Bang, dẫn quân quyết chiến với Hạng Vũ ở Cái Hạ (đông nam huyện Linh Bích, An Huy ngày nay). Hàn Tín trước tiên bố trí quân mai phục ở sau các ngọn núi, đỉnh đồi vùng lân cận, rồi cho xây dựng công sự dụ địch. Sau đó phái mưu sĩ Lý Tả Xa tới quân doanh Hạng Vũ giả hàng, đưa tin tình báo giả về tình hình quân đội và giục Hạng Vũ xuất binh giao chiến.

Lý Tả Xa vốn là Quảng Vũ quân của nước Triệu, rất có danh tiếng. Sau khi Hàn Tín hạ Triệu trong trận Bội Thủy, Lý Tả Xa về dưới trướng Hàn Tín làm mưu sĩ. Lý Tả Xa đến Bành Thành thông qua mối quan hệ với Hạng Bá, xin tiếp kiến Hạng Vũ. Dựa vào chút tiếng tăm trước đây và tài ăn nói của mình nên nhanh chóng được cảm tình của Hạng Vũ và được lưu lại bên Hạng Vũ làm mưu sĩ.

Khi công tác chuẩn bị đã chu đáo, Hàn Tín gửi chiến thư tới Hạng Vũ. Hạng Vũ là người tính tình ngạo mạn, nóng vội, không nén nổi giận dữ, muốn xuất quân nghênh chiến ngay. Bộ tướng của ông ta là Lý Bố và Chu Lan đều can ngăn rằng: Hàn Tín quỷ kế đa đoan, rất có thể sẽ trúng gian kế của ông ta. Bây giờ chỉ có thể đào hào đắp lũy cho chắc chắn, kiên trì giữ Bành Thành. Hàn Tín quân nhiều nhưng lương ít, chỉ thuận lợi cho tốc chiến. Nếu phải duy trì dài ngày, việc cung cấp lương thảo tất gặp khó khăn và sẽ tự động rút lui. Hạng Vũ nghe vậy, trầm tư lưỡng lự. Trở về cung, gặp vợ là Ngu Cơ, Ngu Cơ cũng khuyên nên cho quân nghỉ ngơi mà đợi giặc đến, không nên hành động thiếu suy nghĩ.

Ngày hôm sau, Hạng Vũ lại chiêu gọi quần thần hiến kế, Lý Bố và các bộ tướng vẫn khuyên can như trước. Lý Tả Xa nói: “Nếu bệ hạ không đích thân nghênh chiến, Hàn Tín nhất định sẽ biết ta khiếp đảm sợ hãi, sẽ quyết tiến công Bành Thành. Nếu không giữ được Bành Thành, thì bệ hạ sẽ chạy đi đâu? Bây giờ chỉ còn cách là quyết chiến với ông ta, nếu thắng lợi thì Hàn Tín sẽ phải đi, nếu không thắng, rút về cố thủ Bành Thành cũng chưa muộn. Huống hồ là quân Hàn Tín hành quân đường dài từ xa tới, lợi dụng lúc họ mệt mỏi rã rời mà tiến đánh thì tất sẽ thắng lợi. Bệ hạ bỏ cơ hội tất thắng này mà nghe kế sách thủ giữ của quần thần, e rằng sẽ lỡ việc lớn”.

Hạng Vũ nghe có lý, liền đồng ý và lập tức truyền lệnh khởi binh, tiến quân về hưởng Bái Quận (tây bắc huyện Túc Tỉnh An Huy ngày nay).

Hành quân được mười dặm, Hạng Vũ cho quân nghỉ chân thì Lý Bố, Chu Lan và nhiều đại thần văn võ khác đều quỳ lạy mà khuyên can: “Xin bệ hạ hãy đợi thêm một số ngày, sẽ sai người đi dò la tin tức Hàn Tín xem tình hình ra sao rồi tiến quân cũng chưa muộn”. Tiếp đó, Ngu Cơ cũng sai người đưa thư tới khuyên Hạng Vũ tạm thời thu quân.

Hạng Vũ có chút do dự, đang lúc tiến thoái lưỡng nan thì Lý Tả Xa khởi tấu: “Người nhà của Thích Hữu Thần có đi qua Bái Quận, tận mắt trông thấy Lưu Bang dẫn theo một đội quân quay về Thành Cao, Hàn Tín cũng có ý rút quân. Điều này hiển nhiên là binh lính quá nhiều mà lương thảo thì ít, không thể duy trì được nữa. Ta tiến đánh thì Hàn Tín khó mà chống cự. Binh pháp có nói tới chuyện quân nhiều sẽ chóng mệt mỏi, suy yếu, ông ta đã phạm phải đại kỵ này, nếu bệ hạ nhân cơ hội ba quân của ông ta đang thiếu đói lương thảo mà tấn công thì sẽ không đánh mà địch cũng tự loạn”.

Hạng Vũ nghe, trông lại thấy quân đã đi được hơn 50 dặm, cũng khó mà thu về, thế là quyết tâm tiếp tục tiến, không còn do dự gì nữa.

Tới Bái Quận, Hạng Vũ cho quân hạ trại ở cách thành 50 dặm, sai người đi dò la tin tức địch thì biết sự thực là Lưu Bang không hề rút quân, Hàn Tín đang tăng cường thao luyện binh mã, Hạng Vũ nghe vậy vội cho gọi Lý Tả Xa thì không thấy ông ta đâu cả. Tả hữu báo cáo rằng Lý Tả Xa đã dẫn theo tướng sĩ của ông ta, chạy trốn đâu mất, không biết về hướng nào. Hạng Vũ lúc này mới biết rằng Lý Tả Xa là gián điệp được Hàn Tín phái tới để thám thính hư thực. Hạng Vũ rất tức giận, nhưng đã ở vào thế hai quân đối mặt với nhau, chỉ còn cách chuẩn bị nghênh chiến.

Lúc này, quân Hạng Vũ đóng ở đông bắc Bái Quận, cách Cái Hạ mấy chục dặm. Hàn Tín muốn dụ Hạng Vũ vào trận địa mới lập một thế trận nhử địch liên hoàn, mời Hán vương Lưu Bang đánh trận đầu, chỉ được phép thua, không được thắng, nhiệm vụ là phải dẫn Hạng Vũ vào sâu trong trận địa mai phục.

Lưu Bang và Hạng Vũ vốn là anh em kết nghĩa, trước đó không lâu đã từng lập ước thư lấy dòng Hồng Câu (sông đào) làm ranh giới phân chia cương vực của mỗi bên, thề không xâm chiếm của nhau. Nhưng vì Lưu Bang đã phản lại, không giữ lời ước và lại động chuyện binh đao nên Hạng Vũ rất căm hận. Lần này gặp lại, nhìn nhau như kẻ thù, mắt rực lửa, chưa đáp hết lời, Hạng Vũ đã lao về phía Lưu Bang như con hổ đói, chửi lớn: “Giết chết kẻ tiểu nhân phản bội kia đi”. Hai đại tướng đi sau Lưu Bang xông lên chặn lại. Một trận đại chiến bắt đầu. Hạng Vũ hăng máu dồn hết sức quyết chiến, quân Lưu Bang thì vừa đánh vừa lui. Giữa đường lại có hai tướng tiếp chiến, cứ giao chiến liên hoàn như vậy, dần đưa Hạng Vũ vào trong một cửa núi. Lý Bố vội ngăn Hạng Vũ lại: “Giặc chạy cùng đường không nên đuổi tiếp, đề phòng trúng dụ binh kế”. Hạng Vũ lập tức kìm lại. Đang chuẩn bị rút quân thì phía trước lại xuất hiện Lý Tả Xa, nói lớn: “Trước đây từng được Đại vương quan tâm che chở, cảm kích vô cùng. Nay đại vương vào tới đây là đã đem thân tự trói rồi, chỉ còn cách đầu hàng. Tả Xa này nguyện giúp Đại vương dẫn vào gặp Hán vương, xin giảm bớt tội cho”. Hạng Vũ nổi trận lôi đình chửi lớn: “Đồ tiểu nhân vô lại, bữa trước ta đã lầm mà trúng kế gian của ngươi, ta nguyện sẽ băm vằm ngươi thành ngàn vạn mảnh. Nay ngươi còn cả gan mà trêu ngươi ta. Hãy đợi đấy”. Nói rồi lập tức ra roi ngựa, đuổi theo Lý Tả Xa. Lý Tả Xa chạy, Hạng Vũ đuổi càng nhanh thì chạy càng nhanh, đuổi chậm thì chạy chậm. Dần dần Hạng Vũ lọt vào trong vòng vây. Hàn Tín chỉ huy đại quân đoàn đoàn lớp lớp bao vây Hạng Vũ. Hạng Vũ kinh hoảng, hối hận không kịp, chỉ biết chờ đợi quân cứu viện phía sau tới giải vây. Nhưng đội quân cứu viện đã bị Hàn Tín giết tan tác, không tập hợp được nữa.

Hạng Vũ bị vây dưới Cái Sơn, bên mình chỉ còn lại 8000 quân là anh em dòng tộc, không lương thảo, đành mạo hiểm phá vây. Tình thế lúc này là ba mặt giáp núi, một mặt là bình nguyên và đầm lầy. Hạng Vũ bèn chọn phía bình nguyên để phá vây. Nhưng quân Hàn Tín lớn mạnh, đuổi theo giết dần. Quân Hạng Vũ chạy đến Ô Giang thì chỉ còn lại 28 người. Dòng Ô Giang nước chảy cuồn cuộn chắn ngang. Đang lúc trước mặt không đường đi, sau lưng địch đuổi bắt, bàng hoàng vô phương cách thì đột nhiên xuất hiện một chiếc thuyền nhỏ bên bờ sông. Hạng Vũ gọi người lái đò đưa qua sông, Người lái đò nói: thuyền quả nhỏ, chỉ có thể chở được một khách. Số người ngựa còn lại thì không thể giúp được. Hạng Vũ như chợt bừng tỉnh: “8 ngàn tử đệ Giang Đông cùng ta đi thu phục giang sơn, nay chỉ còn mình ta trở lại thì mặt mũi nào mà gặp các bô lão Giang Đông nữa? Huống hồ người lái đò này chắc chắn là Hàn Tín bố trí ở đây, chở ta đến giữa dòng thì lật thuyền để bắt ta trên sông”. Nghĩ vậy bèn ngẩng mặt lên trời mà than rằng: “Trời đã giết ta, thân Hạng Vũ này đã chết phải là cái chết trên chiến trận”, nói rồi rút kiếm tự vẫn. Thế là người anh hùng lừng lẫy một thời phút chốc đầu lìa khỏi cổ.

2. Gia Cát Lượng bố trí phục binh ở Hồ Lô Cốc làm đại bại Tư Mã Ý

Gia Cát Lượng 6 lần xuất quân khỏi Kỳ Sơn, đối trận với Tư Mã Ý trên sông Vị Thủy. Qua mấy lần giao chiến, có thua, có thắng, chiến sự ở vào thế giằng co.

Chiến lược nhất quán của Tư Mã Ý là cố thủ. Ông ta biết rằng quân Thục hành quân đường xa mệt mỏi, đường cung cấp lương thảo lại quá xa, lợi cho đánh nhanh, cho nên quyết định thành cao, hào sâu, cho quân nghỉ ngơi chờ đợi địch từ xa đến.

Gia Cát Lượng đã có được nhiều bài học về hậu quả của việc cung cấp lương thảo không liên tục. Lần này để phòng bị, ông đã sáng chế ra loại xe đẩy bằng những con trâu và ngựa gỗ để khắc phục những khó khăn của việc vận tải lương thảo đường xa, lại thực hiện chính sách đồn điền, lệnh cho quân sĩ trồng lương thực làm kế trú đóng lâu dài.

Tư Mã Ý biết được chuyện đó, mới giật mình nói: “Ta cố thủ không xuất quân là vì biết rằng quân Gia Cát Lượng lương thảo không liên tục, muốn đợi cho họ hết lương rồi tự diệt mình, nay họ dùng kế này, rõ ràng là kế lâu dài, sẽ không rút về nữa”. Vội sai quân đi ăn cắp mấy cỗ xe đẩy trâu gỗ về nghiên cứu rồi cũng cho chế tạo y hệt. Vì chưa nắm được bí mật của việc sử dụng những cỗ xe đẩy này, nên mấy lần không thành, lại bị cướp mất không ít lương thảo, thế là Tư Mã Ý buộc phải treo miễn chiến bài, mặc cho quân Thục chửi bới khiêu khích, vẫn đóng cửa không ra.

Gia Cát Lượng thấy Tư Mã Ý không chịu xuất chiến, mới bày kế làm lều cỏ trên đỉnh Hồ Lô Cốc, mai phục địa lôi và các vật dẫn lửa. Lại lệnh cho quân sĩ tản ra lập đồn điền tứ phía, dẫn dụ quân Ngụy. Tư Mã Ý bắt được một số lính Thục, tra hỏi biết Gia Cát Lượng không còn đóng ở Kỳ Sơn nữa mà cho hạ doanh trại ở Hồ Lô Cốc. Tư Mã Ý cho rằng đây là cơ hội tốt, liền phát binh đi cướp doanh trại.

Kỳ thực Gia Cát Lượng vẫn ở Kỳ Sơn, ông dự tính trước được hành động của quân Ngụy, phán đoán Tư Mã Ý tất sẽ tấn công Kỳ Sơn, bèn lệnh Ngụy Diên trá bại dụ quân Ngụy vào Hồ Lô Cốc trong địa vực phục kích.

Quả nhiên, quân Ngụy tấn công Kỳ Sơn là dương đông kích tây, Tư Mã Ý và hai con là Tư Mã Sư, Tư Mã Chiêu tấn công Hồ Lô Cốc. Gặp Ngụy Diên, vội đuổi theo, Ngụy Diên rút chạy, Tư Mã đuổi theo sau, vừa đánh, vừa chạy như vậy, dần dụ Tư Mã Ý vào Hồ Lô Cốc. Tư Mã sai người thám thính trong núi không thấy có phục binh, trên núi đều là những kho lương thực, ý không nghi ngờ, mới giục quân sĩ vào cả trong khe núi.

Nhưng bỗng không thấy Ngụy Diên đâu cả, lại thấy trong các kho lương chất đầy cành củi khô, Tư Mã Ý biết trúng kế, muốn hạ lệnh rút quân. Nhưng lúc đó đã muộn, đột nhiên một tiếng hét to, từ trên núi nhất Tề phóng lửa xuống, đốt cháy chặn cửa hang núi, khiến cho địa lôi đồng loạt nổ tung, lều cỏ bốc cháy, khói lửa đầy trời. Tư Mã Ý kinh hãi cuống quýt chân tay, xuống ngựa ôm lấy hai con mà khóc rằng: “Cha con ta đều chết ở đây thôi”.

Đang lúc đợi chết thì đột nhiên trời đổ mưa to, lửa trong khe núi đều tắt cả. Tư Mã Ý lấy tay vuốt mặt, ngẩng trời mà nói: “Trời vẫn chưa diệt ta, không nhân cơ hội này mà chạy thì còn đợi đến lúc nào?”. Bèn dẫn quân xông ra khỏi Hồ Lô Cốc.

Kế “mở cửa bắt giặc” của Gia Cát Lượng quả là cao minh, đáng tiếc là “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, một trận mưa đã cứu tính mạng cha con Tư Mã Ý.

Lưu Bá Thừa hai lần bố trí phục binh “mở cửa” diệt quân Nhật

Lưu Bá Thừa được coi là cao thủ về phục kích chiến. Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, với mưu lược tuyệt vời, ông đã dựa vào nhược điểm của địch để vận dụng kế sách, thường dụ quân Nhật vào trận địa phục kích rồi tiêu diệt.

Tháng 2, 3 năm 1938, Lưu Bá Thừa hai lần liên tiếp vận dụng thành công chiến lược “công địch tất cứu, dụ đả viện địch” giáng cho quân Nhật những đòn chí mạng.

Lần thứ nhất vào ngày 22 tháng 2 năm 1938, Lưu Bá Thừa nắm được quy luật: quân Nhật ở vào thế bị truy kích tất sẽ có quân đến cứu viện. Ông dùng một bộ phận binh lực, buổi sáng sớm, tập kích vào cứ điểm quan trọng của quân Nhật là Cựu Quan trên tuyến lộ Bình Định, huyện Tỉnh Hình, Sơn Tây, để thu hút quân Nhật ở Tĩnh Hình xuất quân cứu viện, còn bộ phận quân chủ lực, ông bố trí mai phục ở vùng phụ cận Trường Sinh Khẩu, giữa Tỉnh Hình và Cựu Quan, chuẩn bị tiêu diệt cánh quân địch cứu viện. Khi một bộ phận binh lực của Bát Lộ Quân tập kích vào Cựu Quan, địch ở Tỉnh Hình quả nhiên trúng kế, phái 2000 quân tốc chiến, trên 8 xe quân sự đi viện cứu, rất nhanh đã rơi vào vòng mai phục của Lưu Bá Thừa, kết quả tiêu diệt được 130 quân và 5 xe.

Lần thứ hai vào ngày 16 tháng 3, Lưu Bá Thừa căn cứ vào đặc điểm: quân đội Nhật rất nhạy cảm với những khu vực đảm bảo hậu cần, ông đã dùng một đại đội làm đội quân kiềm chế, tập kích tuyến cung cấp quan trọng của quân đội Nhật ở Lê Thành, Sơn Tây - vùng tập trung các binh trạm trên tuyến đường Trường Trị - Hàm Đan để thu hút quân Nhật ở Lộ Thành vượt đỉnh núi Thần Đầu sang cứu viện, dùng ba trung đoàn làm đội quân chủ công, mai phục 3 mặt ở đỉnh Thần Đầu giữa Lê Thành và Lộ Thành. Khi quân Nhật tiến vào vùng mai phục của Bát Lộ Quân, Bát Lộ Quân bất ngờ tấn công mãnh liệt, qua hai giờ chiến đấu quyết liệt, tiêu diệt hơn 1500 quân Nhật. Trận phục kích này được quân Nhật gọi là “chiến thuật du kích bậc nhất của Trung Quốc”, “chiến thuật điển hình của chiến tranh du kích Bát Lộ Quân”.

3. Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Đông Hưng mở cửa để bắt “lũ 4 tên”

Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Đông Hưng dùng hình thức mở hội nghị để bắt “lũ 4 tên” được coi là điển hình của kế mở cửa bắt giặc.

Theo cuốn “Diệp Kiếm Anh năm 1976”, tháng 9/1976, sau khi Mao Trạch Đông qua đời, “lũ 4 tên” Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn đi thêm một bước trong việc chiếm đoạt quyền lực đảng. Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh đã nghĩ tới một số phương án để giải quyết vấn đề “lũ 4 tên”. Lúc đầu, Hoa Quốc Phong đã tính đến việc tổ chức hội nghị Bộ chính trị Trung ương để giải quyết vấn đề này. Nhưng hội nghị Bộ chính trị ngày 29 tháng 9 một lần nữa lại cho thấy con đường giải quyết này không thông. Vậy tổ chức hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương thì sao? Cuối cùng thì có thể thông qua đấu tranh nội bộ đảng để giải quyết được không? Qua suy xét thận trọng, họ đã hủy bỏ kế hoạch này. Diệp Kiếm Anh phân tích tình hình, tính chất và đặc điểm của cuộc đấu tranh giữa đảng và “lũ 4 tên” cho rằng Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn là một tập đoàn âm mưu phản cách mạng từ lâu công khai cam kết với nhau trong Bộ chính trị Trung ương đảng. Dã tâm của chúng rất lớn, tham gia vào ban lãnh đạo trung ương vẫn chê là ít, còn muốn cướp quyền lãnh đạo tối cao. Bọn này trong trung ương, mặc dù số lượng rất ít, nhưng quyền lực lại rất lớn, giỏi hư tạo thanh thế, kéo bè kết phái, trên hô dưới ứng. Chúng vừa có thể gây rối, giải tán hội nghị Bộ chính trị, lại cũng có thể giải tán hội nghị Ban chấp hành Trung ương, làm cho xôi hỏng, bỏng không. Đấu tranh giữa họ với “lũ 4 tên” là cuộc đấu tranh một mất một còn, đã vượt khỏi phạm vi đấu tranh tư tưởng trong đảng, không thể dùng phương pháp thông thường để giải quyết.

Vậy có thể dùng phương pháp nào đơn giản, sử dụng vũ lực công khai, tóm gọn, diệt sạch được không? Qua bàn bạc, họ thấy rằng biện pháp đó cũng không được, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh cho rằng: diệt “lũ 4 tên” là một cuộc đấu tranh phải được thực hiện bằng phương thức đặc thù trong một tình thế không giống như bình thường, cần phải tính đến mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra. Chủ tịch Mao Trạch Đông vừa qua đời, Giang Thanh dựa vào tư cách đặc biệt của mình là vợ của Chủ tịch và bản lĩnh Bạch Cốt Tinh để mê hoặc người đời, lôi kéo và đe dọa. Bà ta có thể dùng mọi thủ đoạn khiến đối phương khó bề đối phó; Trương Xuân Kiều là “quân sư” cầm quạt lông cho Giang Thanh, làm Phó Thủ tưởng Quốc vụ viện, “mắt mọc trên đỉnh đầu”, quyền lực và âm mưu đều vẹn toàn cả, không thiếu mưu đồ nham hiểm, thâm độc; Diêu Văn Nguyên thì tay nắm “gậy vàng”, thao túng văn đàn, mọi phương tiện thông tin đại chúng, dư luận đều dưới sự kiểm soát của hắn, hắn có thể bịa đặt để mê hoặc quần chúng, bất kỳ lúc nào cũng có thể làm mưa, làm gió, lật thuyền, đắm tàu; Vương Hồng Văn là Phó Chủ tịch Trung ương Đảng, chỉ đứng sau “nhân vật số 2” là Hoa Quốc Phong, tự xưng là “văn võ toàn tài”, bên mình luôn mang vũ khí, đi đâu đàn em cũng bám theo, rêu rao rằng “động đến ta không phải là dễ”.

Còn một điều không thể không tính đến, “lũ 4 tên” mặc dù không nắm giữ quân đội nhưng trong các cơ quan, bộ đội và các đội cảnh vệ, không thiếu những phần tử cứng đầu cứng cổ và những tên một lòng thờ phụng chúng, đặc biệt lại có đội vũ trang Thượng Hải làm hậu thuẫn, thêm vào đó Trung Nam Hải, Điếu Ngư Đài đều có cảnh giới nghiêm ngặt, đối phó với bọn lưu manh chính trị này mà công khai dùng vũ lực, vừa bất hợp pháp, lại dễ rút dây động rừng, làm không tốt thì thành đại loạn. Diệp Kiếm Anh nghiêm túc nói: “Chúng ta phải để tấm gương tốt cho đời sau, chú ý tới tính hợp pháp của đấu tranh. Bất luận thế nào, cũng phải tránh động loạn, nhất định phải ổn định tình hình ở Thủ đô và toàn quốc”. Hoa Quốc Phong rất tán thành quan điểm của Diệp Kiếm Anh.

Đối phó với “lũ 4 tên” vừa không thể giải quyết bằng phương cách thông thường như đấu tranh tư tưởng trong đảng, lại phải cố gắng đảm bảo tính hợp pháp. Vậy sẽ dùng biện pháp nào là hơn cả. Diệp Kiếm Anh suy tính rất nhiều về vấn đề này. Ông nghĩ tới biện pháp xử trí đối với “tứ đại kim cương” Hoàng Vinh Thắng… sau khi Lâm Bưu trốn chạy. Lúc đó, ông nhận lệnh của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai dự hội nghị có sự tham gia của “tứ đại kim cương”. Trung ương đợi 10 ngày, “tứ đại kim cương” ngoan cố kháng cự đến cùng. Cuối cùng, trong hội nghị bất ngờ tuyên bố tội danh của chúng và kiên quyết xử phạt. Liệu có thể tham khảo biện pháp này để xử phạt “lũ 4 tên”? Diệp Kiếm Anh cuối cùng đã nêu ra ý kiến của mình: dùng phương thức tổ chức hội nghị, “mời” chúng tới dự, tuyên bố thực hiện “cách ly thẩm tra” đối với chúng, sau đó lập tức tổ chức hội nghị Bộ chính trị thảo luận, quyết định.

Vậy tổ chức hội nghị gì? Hội nghị do ai chủ trì? Những người nào tham gia? Thời gian? Địa điểm?…

Đối mặt với hàng loạt vấn đề này, qua nghiên cứu thận trọng, Diệp Kiếm Anh và Hoa Quốc Phong xác định lấy danh nghĩa “Tổ chức hội nghị Thường vụ Trung ương, thảo luận về cuốn 5, Mao Trạch Đông toàn tập”, mời Diêu Văn Nguyên tham gia, còn đối với Giang Thanh sẽ dùng biện pháp khác. Hoa Quốc Phong đích thân chủ trì hội nghị, Diệp Kiếm Anh chỉ huy, địa điểm định tại Hoài Nhân Đường Trung Nam Hải. Còn Uông Đông Hưng tương đối quen thuộc với tình hình này, lại nắm giữ văn phòng Trung ương và bộ đội cảnh vệ, mọi việc có liên quan đều do ông phụ trách xử lý. Còn thời gian, dự định 10 ngày sau Quốc khánh, sẽ quyết định tùy theo tình hình thực tế.

Đại kế đã định, hai vị lãnh đạo lại tỷ mỷ tính toán lại tình hình trước mắt và lực lượng hai bên. Họ cho rằng, về tổng thể, tình hình có lợi cho ta, bất lợi cho “lũ 4 tên”, điều căn bản nhất là “trời oán trách, lòng người uất hận đối với “lũ bốn tên”. Cái được đầu tiên về phía ta là lòng đảng, lòng quân, lòng dân, đặc biệt là quân đội lại nằm trong tay đảng, nên có xảy ra việc gì cũng không e ngại lắm. Cuối cùng, qua bàn bạc khẩn cấp, các vị lãnh đạo quyết định hành động trước vào 8 giờ tối ngày 6 tháng 10. Trước khi diễn ra hội nghị, Văn phòng Trung ương sẽ đưa giấy thông báo, chủ yếu xoay quanh hai vấn đề cần thảo luận bàn bạc: một là, cách thức trình bày cuốn 5 “Mao Trạch Đông toàn tập”. Hai là, nghiên cứu phương án xây dựng nhà tưởng niệm Mao Chủ tịch và vị trí nhà kỷ niệm nơi ở cũ của Mao Chủ tịch ở Trung Nam Hải. Theo quy định, Thường vụ Bộ chính trị sẽ phải tham dự hội nghị, chỉ gồm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều. Diêu Văn Nguyên không phải là thường uỷ, vậy làm sao để hắn có thể tham gia, lấy danh nghĩa sửa đổi hiến pháp, thông báo cho hắn dự hội nghị? Diêu Văn Nguyên không sống ở Điếu Ngư Đài. Hắn sống trong khu vệ cấm Bắc Kinh. Để để phòng bất trắc, sẽ chuẩn bị hai phương án, trước tiên thông báo cho hắn đến Hoài Nhân Đường dự hội nghị, nhử con cá sấu này tới Trung Nam Hải, nếu hắn không đến, sẽ thông báo cho lãnh đạo vệ cấm khu giải quyết luôn. Còn đối với nhân vật đặc biệt Giang Thanh và mấy tên ngoan cố chống đảng khác, cũng có những phương án xử lý đáng tin cậy.

Buổi chiều ngày 6 tháng 10 năm 1976, Hoài Nhân Đường tĩnh lặng đáng sợ. Nhân viên cảnh vệ không còn đi lại. Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh ngồi trên ghế sa lông trong phòng, nóng lòng đợi ba nhân vật kia tới “dự hội nghị”. Kim đồng hồ chỉ 7 giờ 55 phút. Có tiếng bước chân trên sân vọng lại. Nhân vật đầu tiên xuất hiện ở cửa phòng hội nghị là Trương Xuân Kiều. Tên “quân sư” “thần cơ diệu toán” này có lẽ tối qua đã quá phấn chấn, quá mê muội đến nỗi tính nhầm “bát quái”. Sau khi nhận được điện thoại thông báo, hắn cho rằng hội nghị hôm nay sau khi thảo luận hết các nội dung quy định, thời gian còn lại sẽ bàn tới vấn đề về bố trí nhân sự mà hắn đã trông đợi từ lâu, vì vậy Trương mang theo sẵn tài liệu, xuất phát sớm từ Điếu Ngư Đài, và đến phòng hội nghị đúng giờ. Hắn tự thấy hài lòng, xuống xe, cắp chiếc cặp đen, bước những bước dài, nghênh mặt, hống hách đi vào Hoài Nhân Đường. Bất ngờ, mấy tên cảnh vệ đi theo Trương Xuân Kiểu bị giữ lại ngoài cửa, hắn đánh hơi có mùi khác lạ, cảm thấy sự việc không được như ý, miệng liên tục lẩm bẩm “xảy ra chuyện gì vậy?” “Xảy ra chuyện gì vậy?”, vẫn chưa làm rõ được chuyện gì đã xảy ra thì người phụ trách tổ hành động Kỷ Hòa Phú dẫn theo mấy vệ binh xông ra, “hộ tống” hắn vào phòng hội nghị. Kiều bước qua bậc cửa, giương to đôi mắt chuột, nhìn một lượt xung quanh phòng, có lẽ hắn đang tìm vị trí của mình. Không thấy chỗ ngồi của mình đâu, chỉ thấy Diệp Kiếm Anh đang ngồi đó, uy phong lẫm liệt, ánh mắt nghiêm nghị, lạnh lùng nhìn hắn, Hoa Quốc Phong mặt phừng phừng giận dữ đang đợi đến phần việc của mình.

Trương Xuân Kiều đã hiểu mọi chuyện. Hắn đang định gân cổ chống đối thì Hoa Quốc Phong nghiêm khắc nói: “Trương Xuân Kiểu hãy nghe đây, đồng đảng của ngươi là Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên là những kẻ chống đảng, chống chủ nghĩa xã hội đã phạm phải những tội trạng không thể dung thứ”. Tiếp đó, ông tuyên đọc quyết định “cách ly thẩm tra” đã được chuẩn bị trước, trịnh trọng tuyên bố phải chấp hành ngay lập tức. Trương Xuân Kiểu từ Hoài Nhân Đường bước ra, bị “mời” lên một chiếc xe Jep phóng ra khỏi cửa đông Trung Nam Hải và được đưa thẳng tới khu nhà hầm phía dưới quan viên.

“Hội nghị” tiếp tục diễn ra.

Người tiếp theo xuất hiện là Vương Hồng Văn. Nhân vật “văn võ toàn tài” này bước xuống từ một chiếc xe sang trọng phía ngoài Hoài Nhân Đường, hai tay đút túi, nghênh ngang bước vào cửa. Hoàn toàn ngoài dự liệu của hắn, một người phụ trách khác của tổ hành động dẫn theo mấy vệ sĩ từ hành lang bước lại. Tên lưu manh chính trị này thấy tình thế có khác lạ, ngay lập tức ra uy của một vị Phó Chủ tịch Trung ương đảng, quát: “Ta đến dự hội nghị, chúng mày muốn gì?”. Tiếp đó, giở những chiêu bài thoát thân của một tư lệnh phái tạo phản, tay đấm, chân đá, liều mạng phản kháng, nhưng bản lĩnh võ công có hạn, hắn nhanh chóng bị còng tay. Nhân viên cảnh vệ dẫn hắn vào phòng hội nghị. Cách đó mấy mét, Vương Hồng Văn thấy Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh đang ngồi đó với vẻ uy nghiêm lạnh lùng, dự cảm thấy ngày tận cùng đã đến, hai mắt bắn ra những tia lửa hận thù, như một con mãnh thú tức giận lao đến. Nhân viên cảnh vệ đẩy hắn ngã xuống đất. Đến lúc lồm cồm bò dậy, có lẽ Vương Hồng Văn đã tỉnh lại từ giấc mộng “thanh vân”, uy phong ủ rũ, chỉ biết ngoan ngoãn đứng đó, nghe Hoa Quốc Phong tuyên đọc tội trạng và quyết định cách ly thẩm tra.

Trương Xuân Kiều và Vương Hồng Văn đã được đưa đi, kim đồng hồ chỉ 8 giờ 15 phút.

Diêu Văn Nguyên vẫn chưa tới. Con cá sấu này không hiểu sao vẫn chưa cắn câu? Hai vị lãnh đạo ngồi đợi trong phòng có chút nóng lòng. Liệu có phải khu cấm vệ đã giải quyết? Hay là đã xảy ra “sự cố” gì ở những bộ phận khác? Không thể chậm trễ được nữa, quyết định gọi điện lại cho Diêu Văn Nguyên, “mời” hắn nhanh chóng tới Hoài Nhân Đường dự hội nghị Thường vụ Bộ chính trị…

Không cho hắn vào phòng họp, để hắn ở phòng nghỉ hành lang phía đông đợi lệnh; không do Hoa Quốc Phong tuyên bố quyết định cách ly thẩm tra, mà do một vị Phó Cục trưởng Cục cảnh vệ trung ương tuyên đọc. Đến khi Diêu Văn Nguyên nghe tới “quyết định”, biết rõ đã xảy ra chuyện gì, hắn lập tức quỵ xuống. Không còn cách nào khác, một người phụ trách đành phải dìu hắn đi, đưa hắn tới nơi cần đến.

Vào đúng lúc “hội nghị” đang diễn ra rất căng thẳng ở Hoài Nhân Đường, thì một tổ hành động khác cũng thực hiện nhiệm vụ tương tự tới số nhà 201 Vạn Tự Lang, Trung Nam Hải, nơi Giang Thanh ở. Có một điểm khác là tổ hành động này được bố trí riêng hai cảnh vệ nữ.

Mấy ngày này, vị “nữ hoàng” sống trong cung điện hào hoa này quá bận rộn, quá phấn chấn và cũng quá mệt mỏi để chuẩn bị cho đại lễ “lên ngôi”. Lúc này, bà đang ngả lưng trên chiếc sa lông Pháp sang trọng trong bộ quần áo ngủ bằng lụa mỏng, vừa xem băng hình nhập khẩu, vừa đọc những tập tin nhanh dày cộp mà buổi sáng cảnh vệ đem tới, khuôn mặt viên mãn, chìm đắm trong giấc mộng nữ hoàng đẹp đẽ.

Đột nhiên, mấy vị khách không mời mà đến xuất hiện ở phòng khách. “Nữ hoàng” quắc mắt nhìn ra cửa, quan sát mấy vị khách lạ, nghiêm giọng quát: “Chúng bay làm gì vậy?” Thế nhưng lúc này, thần uy của bà ta đã không còn linh nữa.

Một vị Phó Chủ nhiệm văn phòng Trung ương phụ trách tổ hành động và một cán bộ khác dẫn theo mấy cảnh vệ đã bước vào trong phòng, tuyên đọc quyết định cách ly thẩm tra dành cho bà.

Chưa đợi đọc hết, “nữ hoàng” đã biết xảy ra chuyện gì, bà to tiếng quát: “Chúng bay hãy cút khỏi đây mau”, rồi gọi “người nhà đâu” “chúng bay đâu”, thế nhưng, bà quả phụ tác oai tác quái một thời này đã sớm bị quần chúng, thân thích xa rời, mọi nhân viên làm việc ở số nhà 201 đều không còn nghe theo lời mụ nữa. “Nữ hoàng” mặt mày tái nhợt, thình lình lăn ra đất, kêu khóc thảm thiết: “Trời đất ơi, thi thể Chủ tịch còn chưa lạnh…”. Nhưng bây giờ thì mụ có kêu gào cũng đã muộn.

Kế “mở cửa bắt giặc” mà Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Uông Đông Hưng sắp xếp đã giải quyết được dứt điểm vấn đề “lũ 4 tên” cho nhân dân Trung Quốc.

5. Trận địa giả “thực mà hư” của quân đội Anh

Đầu tháng 11 năm 1941, để tiến công phòng tuyến của quân Đức ở biên giới Libia và Ai Cập, quân đoàn số 8 quân đội Anh đã xây dựng một trạm trung chuyển đường sắt lớn trên sa mạc mênh mông, chuẩn bị vận chuyển và trù bị một lượng lớn các tiếp phẩm cho tác chiến như dầu, đạn dược và các trang bị vũ khí nặng nhẹ khác… Để che giấu quân Đức, giảm bớt những đợt oanh kích của máy bay Đức đối với trạm trung chuyển này, bộ tư lệnh quân đội Anh đã bí mật bố trí xây dựng một trạm trung chuyển giả ở phía trước cách trạm tiếp chuyển thật không xa, đồng thời ở giữa hai cơ sở, cho làm một tuyến đường sắt giả theo đúng tốc độ làm đường như bình thường, trên tuyến đường sắt này lại thiết kế từng đoàn tàu, vận chuyển nhiên liệu, súng đạn như thật, những đoàn tàu này thường xuyên được tổ chức lại, tạo thành một cảnh tượng vận chuyển bận rộn, với đoàn xe tàu lưu động không ngừng. Trên những khoảng đất trống của cơ sở giả này, có những đoàn xe tải lớn, xe tăng, xe thiết giáp và những tiếp phẩm khác được sắp xếp ngay ngắn, những vật tư tác chiến thường xuyên được thay đổi vị trí, khiến cho người ta có cảm giác như quân đội Anh đang vận chuyển một cách khẩn trương. Thế nhưng, tất cả những chiếc xe và vật tư tác chiến trong cơ sở này đều là giả, các đoàn tàu chỉ là những mô hình, phía trên được đốt một lò lửa nhỏ, ngày đêm nhả khói, phun lửa. Đồng thời, quân đội Anh còn bố trí riêng một đội vận chuyển bằng xe tải không ngừng chuyển động tại căn cứ giả, tăng thêm tính chân thực, lại ngăn chặn một cách hữu hiệu sự tiếp cận của máy bay trinh sát quân Đức, để tránh biết được thực sự. Mê hồn trận “thực mà hư” này của quân đội Anh khiến cho quân Đức trúng kế. Cơ sở giả này đã thu hút hàng loạt máy bay oanh tạc của quân Đức, không những bảo vệ an toàn cho trạm trung chuyển thật mà còn làm cho quân Đức phán đoán sai lầm về hành động tác chiến của quân Anh. Đây được coi là sự vận dụng linh hoạt trong tác chiến của kế “mở cửa bắt giặc”.

KẾ THỨ MƯỜI BẢY:

SÁT NHẤT CẢNH BÁCH

Giết một dọa trăm

A. Nguồn gốc:

“Hán thư. Y ông quy chuyện” viết: “Kỳ hữu sở thủ giã, dĩ nhất cảnh bách, lại dân giai phục, khổng cụ tất cải hành tự tân”. Tức là xử phạt hoặc giết một người để răn đe nhiều người. Ví như Đào Tuyết Ngần trong chương 14, quyển một, tiểu thuyết lịch sử “Lý Tự Thành” đã viết: “Nếu gặp phải kháng cự, hãy giết một để dọa trăm”.

B. Chú bình:

“Giết một dọa trăm” và “thưởng một để khuyến khích trăm” đều thuộc về sách lược thu phục quần chúng, hai kế này bổ trợ và gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể thiếu một. Ngày nay chúng ta thấy rằng, đây vẫn thuộc về phạm trù khoa học lãnh đạo. Nó cũng đồng nghĩa với câu “giết gà để dọa khỉ” mà người dân Trung Quốc thường nói.

Để củng cố trật tự xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân, cần phải trừng trị nghiêm khắc đối với những kẻ làm loạn. “Trị loạn thế, dụng trọng điển; trị loạn quân, dụng nghiêm hình”. Khổng Minh từng nói: “Ngày xưa Giả Vũ sở dĩ có thể chế thắng được thiên hạ là do dụng pháp nghiêm minh, nay bốn phương phân tranh, binh giao hỗn loạn, nếu như pháp không nghiêm minh thì làm sao có thể thảo phạt quân giặc, quân luật không minh chính thì làm sao có thể thu phục quần chúng?”. Đây chính là quyền thuật dẹp loạn và trị loạn, và là sự vận dụng tuyệt vời của kế “giết một để dọa trăm”.

C. Dẫn truyện:

1. Khương Tử Nha giết Cuồng Duật

Theo cuốn “Hàn Phi Tử. Ngoại trư thuyết tả thượng”. Sau khi vương triều nhà Chu được kiến lập, Khương Thái công được phong về đất Tề, quan điểm của ông là phải thu phục nhân tài ra giúp nước.

Ở nước Tề có một người hiền là Cuồng Duật, rất được các bậc nhân sĩ tầng lớp thượng lưu ở địa phương nể trọng. Khương Thái công rất ngưỡng mộ, muốn mời ông ta ra giúp việc, nên đích thân tới thăm ba lần nhưng đều bị đóng cửa từ chối.

Khương Thái công bất ngờ sai người giết chết ông ta, Chu Công muốn cứu lấy vị hiền tài đó nhưng cũng không kịp, mới hỏi Khương Thái công: “Cuồng Duật là một người hiền tài, không cầu phú quý hiển đạt, tự mình đào giếng mà lấy nước uống, cày ruộng mà lấy cơm ăn, đúng là bậc ẩn sĩ không màng danh lợi, vậy sao lại giết ông ta?”

Khương Thái công nói: “Bốn biển này, có nơi nào không phải là đất của Thiên tử, có người nào không phải là mưu thần của Thiên tử. Khi mà thiên hạ an định, người người đều phải góp sức mà xây dựng đất nước thì chỉ có hai loại, không phải là ủng hộ thì phản đối, tuyệt nhiên không thể có kiểu lưỡng lự hay tư tưởng trung lập, cái kiểu thái độ bất hợp tác này của Cuồng Duật nếu như mọi người đều học theo ông ta thì còn có người nào ra giúp ích nước nhà nữa? Cho nên giết quách ông ta đi, để làm gương cho những kẻ khác”.

Quả nhiên qua vụ này, những kẻ muốn triều Chu suy yếu đều không dám tự rêu rao là thanh cao và thực hiện chính sách ẩn cư nữa.

2. Tôn Vũ chém ái thiếp của Ngô vương

Ngũ Tử Tư tiến cử với Ngô vương Hạp Lư một người nước Tề là Tôn Vũ. Ngô vương đã đọc 13 thiên binh pháp của ông ta, muốn phong ông ta làm tướng quân, mới hỏi ông ta làm thế nào để có thể mở rộng quân đội, cường thịnh quốc gia, Tôn Vũ đáp: “13 thiên binh pháp của tôi, không những được dùng để trị quân đội mà còn có thể động viên được cả đàn bà, con gái tham gia việc binh”. Ngô vương nghe vậy, cười lớn, nói: “Ta chưa hề nghe thấy ai nói có thể huấn luyện đàn bà ra trận mà giết giặc”, và có ý khinh thị không tin. Tôn Vũ nói: “Nếu ngài không tin, tôi sẽ thử ngay cho ngài xem, nếu không thành công, thì ngài cứ xử tôi phạm tội khi quân”. Ngô vương đồng ý để Tôn Vũ thử diễn một lần. Hạp Lư giao cho Tôn Vũ 300 cung nữ, để bố trí thế trận. Tôn Vũ chia đám cung nữ thành hai đội và yêu cầu Ngô vương chọn ra từ trong đám thê thiếp yêu quý nhất của mình hai người làm đội trưởng, mỗi người chỉ huy một đội, sau đó dạy họ trận pháp, đồng thời ban bố quy định, đội hình sẽ lấy tiếng trống làm hiệu lệnh tiến hoặc lui, kẻ không nghe lệnh, làm loạn đội hình thì chém đầu. Ngay hôm sau, cuộc diễn tập bắt đầu, tiếng trống vừa gõ, các cung nữ không hành động theo quân lệnh, đều bịt miệng cười. Tôn Vũ nói: “Quân lệnh khó quán triệt, trách nhiệm đó của kẻ làm tướng”. Bèn thực hiện lại quân lệnh đến bốn, năm lần, các cung nữ vẫn không nghe theo lệnh. Tôn Vũ đích thân cầm dùi đánh trống, các cung nữ ôm bụng cười lớn. Tôn Vũ giận dữ quát: “Quân lệnh lặp lại nhiều lần mà không thực hiện, đó là trách nhiệm của kẻ làm binh”, ông hạ lệnh đem chém đầu hai cung nữ yêu quý của Ngô vương là hai đội trưởng. Ngô vương biết tin, thất kinh, vội sai lính đem lệnh đến cứu, lệnh viết: “Quả nhân đã biết khả năng dùng binh của tướng quân. Nhưng hai cung nữ này là người quả nhân yêu chiều hết mực, thiếu hai người này, thì ăn không ngon miệng, ngủ chẳng yên giấc, xin hãy nể mặt quả nhân mà miễn tội cho họ”. Tôn Vũ cự tuyệt nói: “Việc quân không phải chuyện đùa, thần đã phụng mệnh làm tướng, tướng ra trận bên ngoài, lệnh vua có thể không tiếp nhận, nếu tha cho kẻ có tội mà phản lại quân lệnh thì còn có ai phục tùng nữa? Chém”. Một lát sau, đầu hai cung nữ đã rơi xuống đất. Tôn Vũ lại lệnh chọn hai cung nữ khác làm đội trưởng, đánh trống hai lần. Các cung nữ sợ hãi hồn bay phách lạc, người nào cũng nghiêm túc thao luyện theo hiệu lệnh, hợp với yêu cầu binh pháp.

Sau lần này, Ngô vương thành tâm phục bái Tôn Vũ làm tướng, nhiều năm sau, đánh bại nước Sở, và xưng bá Trung Nguyên.

3. Hàn Tín chém Giám quân phạm quân lệnh

Hàn Tín xuất thân hàn vi, đến khi Lưu Bang lập đàn phong làm tướng thì những kẻ thủ hạ từng làm việc dưới trướng Lưu Bang trước Hàn Tín đều khinh thường ông. Giám quân An Cái cũng như vậy.

Hàn Tín truyền lệnh, canh năm ngày hôm sau toàn quân sẽ tập hợp để thao luyện. Nhưng giám quân Ân Cái đến muộn. Mãi quá trưa, Ân Cái mới khệnh khạng tới thao trường, còn nói Hàn Tín chẳng qua chỉ là kẻ tiểu nhân đắc chí, Hàn Tín sai người bắt trói Ân Cái rồi bắt quỳ trước sân, tuyên bố trước toàn quân: “Hán vương đã đích thân viết chỉ thị, ông thân làm Giám quân mà coi thường quân lệnh”. Hàn Tín hỏi người phụ trách Quân Chính: “Ân Cái phạm vào tội gì? ” Quân Chính đáp: “Ngày hội quân mà đến muộn là mắc tội coi thường quân lệnh, chém đầu”.

Lưu Bang nghe tin, sai thủ hạ là Li Sinh mang phủ dụ của ông tới cứu Ân Cái. Thủ hạ sai người đánh xe ngựa nhanh tới quân doanh, bị quân lính chặn lại. Hàn Tín lại hỏi người phụ trách Quân Chính: “Li Sinh phạm tội gì?” Quân Chính đáp: “Quân pháp có ghi kẻ tự ý xông vào doanh trại, mắc tội khinh quân, chém đầu để răn đe ba quân”.

Hàn Tín nói: Li Sinh có Vương chỉ trên mình, miễn cho tội chết, nhưng phải đem chém tên đánh xe ngựa để giữ nghiêm quân lệnh”.

Ngay lập tức, Ân Cái và tên đánh xe ngựa đều bị chém đầu. Từ đó, quân đội của Hàn Tín kỷ luật nghiêm minh, là trợ thủ đắc lực giúp Lưu Bang thu phục giang sơn về sau này.

4. Giết một để dọa trăm của các quan lại

Hoàng Cái từng làm Huyện lệnh huyện Thạch Thành. Bọn quan lại thủ hạ thuộc huyện này đặc biệt khó điều khiển. Sau khi đến nhậm chức, Hoàng Cái bố trí cho hai tên quan thủ hạ giúp việc cho mình, cho hai người này chia nhau chủ quản các sự vụ nhỏ ở các tào. Hoàng Cái nói: “Ta giữ cái chức huyện lệnh này thực ra chang có đức hành gì, cũng không bản lĩnh cao siêu, chỉ dựa vào võ công mà được quan chức, đối với những việc của quan văn, tôi không quen lắm. Nay giặc ngoài vẫn chưa bình định được, việc quân tương đối nhiều, nên mọi công văn giấy tờ trong huyện toàn bộ giao cho hai vị quan thuộc hạ này giúp tôi xử lý. Họ sẽ thay tôi quản lý các tào, chấn chỉnh và xử phạt người và việc sai. Nếu như họ có làm việc lừa dối, phi pháp, thì rốt cuộc ta cũng sẽ không đến nỗi đánh đòn lên đầu họ”. Sau khi lệnh ban ra, lúc mới đầu, các quan lại cấp dưới đều sợ, mỗi người đều cung cung, kính kính hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nhưng một thời gian sau, bọn quan này đều cho rằng Hoàng Cái không quản lý công vàn, giấy tò, đó là cơ hội để chúng mặc sức làm càn. Hoàng Cái cũng đã bí mật biết được những sự việc phi pháp mà hai tên quan văn này vi phạm. Một hôm, ông chiêu tập các quan thuộc hạ lại, vạch tội hai vị quan này, buộc hai người cúi đầu nhận tội, Hoàng Cái nói: “Ta đã nói rồi, rốt cuộc thì ta cũng không đến nỗi dùng roi, gậy để đánh lên đầu các ngươi, ta sẽ không nói dối bọn ngươi”. Nói rồi, sai người đem chém đầu hai tên quan này. Các quan lại thuộc hạ sợ hãi hồn bay phách lạc. Từ đó, mọi việc trong huyện được quản lý nghiêm ngặt.

Đời Minh có một người tên là Khoáng Trung, tự là Bá Luật, người Nam Xương. Khi đó từ một tiểu lại, ông ta được đề bạt làm Lang quan. Nhờ sự tiến cử của Dương Sĩ Kỳ, Dương Bạc, Dương Vinh mà được làm Tri châu Tô Châu. Hoàng đế chiêu gọi ông ta đến triều đình, trao cho ông ta một chiếu thư, ban quyền tự xử lý mọi việc mà không cần khởi tấu. Khi vừa tới Tô Châu, người quân sự đem mọi công văn giấy tờ lên trình, ông không hỏi viên quan cấp dưới này xử lý cụ thể mọi việc như thế nào, phán luôn một câu “Được”. Thế là, các quan hạ thuộc đều tỏ ý khinh thị ông, cho rằng ông không có năng lực. Thời gian tiếp đó, những tệ nạn đút lót, hối lộ trong nha môn ngày càng nhiều. Thông phán Triệu Thẩm tìm mọi cách để lừa dối Khoáng Trung, ông cũng chỉ ậm ừ cho qua. Một tháng sau, Khoáng Trung lệnh cho thủ hạ chuẩn bị mọi lễ nghi rồi cho chiêu tập các quan lại sở thuộc. Lúc này, Khoáng Trung mới nhắc tới chiếu thư mà lúc ông đi nhậm chức được vua trao vẫn chưa kịp công bố với mọi người. Các quan khi nghe thấy trong chiếu thư có đoạn: “Nếu các quan lại sở thuộc làm những việc phi pháp, Khoáng Trung có quyền tự xét, thẩm vấn, tra hỏi và xử phạt” thì toàn bộ đều kinh hãi. Sau lễ tuyên đọc chiếu thư kết thúc, Khoáng Trung thăng đường, cho gọi tiểu lại quản lý văn thư trong phủ tới, tuyên bố: “Các ông đã nhiều lần lừa ta, ăn cắp rất nhiều tài sản”. Nói rồi, ông lần lượt kể hết những vụ việc mà chúng vi phạm vào lúc nào, ở đâu. Bọn tiểu lại quản lý văn thư đều vô cùng sợ hãi, chúng không thể ngờ rằng mọi việc làm của mình đều bị Khoáng Trung nắm được hết, khiếp sợ tài trí của ông, chúng chỉ biết cúi đầu nhận tội. Khoáng Trung lệnh cho một tiểu lại cởi hết quần áo bọn chúng, sai bốn tên nha dịch to khỏe lần lượt bồng mấy tên tiểu lại lên rồi ném lên không trung cho rơi xuống mà chết. Cứ vậy từng người, từng người, tất cả cho rơi chết 6 tên tiểu lại, rồi lệnh đem thi thể treo lên những chỗ đông người thị chúng. Sự việc này khiến cho dân toàn thành đều kinh hãi, nhân dân Tô Châu từ đó không dám làm càn điều gì nữa.

5. Trương Tự Trung hai lần sai tử hình đội trưởng cảnh vệ

Trong chiến tranh kháng Nhật, danh ngôn trị quân của Tổng tư lệnh quân đoàn 33 Quốc dân đảng Trương Tự Trung là “ta cần một đội quân thép”.

Năm 1938, Trương Tự Trung nhận chức Quân đoàn trưởng Quân đoàn 59, trên đường dẫn quân đến Đài Nhi Trang tham gia đại hội chiến, những người dân địa phương báo rằng Đội trưởng cảnh vệ Tôn Nhị Dũng cưỡng hiếp một bé gái 16 tuổi, đề nghị Quân đoàn trưởng xử lý. Trương Tự Trung vừa đau lòng, vừa kiên quyết hạ lệnh: “Đem bắn”.

Nói đến công thì Tôn Nhị Dũng là thành viên đội đao nổi tiếng của Trương Tự Trung, ở Hy Phong Khẩu đã một tay chém chết 18 tên phỉ; nói đến ân, thì anh ta đã từng lấy ngực của mình để che cho tướng quân, chắn 3 viên đạn của Hán gian, nếu không, một năm trước, sinh mệnh của tướng quân đã không còn; nói đến nghĩa, thì anh ta đã theo tướng quân nhiều năm, sớm chiều có nhau, tình thân như cốt nhục.

Nhưng Tôn Nhị Dũng vẫn bị đưa tới pháp trường. Tiếng súng nổ, không trúng chỗ hiểm, Tôn Nhị Dũng không chết, được các bô lão địa phương phát hiện cứu chữa, hai mươi ngày sau lại hồi phục, anh ta lại trở về doanh trại. Trương Tự Trung thấy Tôn Nhị Dũng sống sót trở về, mặt mày tái nhợt, quần áo rách rưới, chỉ thị cho nhân viên: thay quần áo mới cho anh ta, nấu một bữa ăn thịnh soạn cho anh ta ăn, rồi nhốt lại, chờ nghe xử lý. Ngày hôm sau, ông triệu tập hội nghị toàn thể các tướng lĩnh, quyết định “tử hình lại” đối với Tôn Nhị Dũng, các tướng lĩnh vô cùng ngạc nhiên và đều rơi nước mắt. Nhưng Trương Tự Trung đã định thì không thể lay chuyển.

Trước khi thực hiện lại bản án, Trương Tự Trung thực hiện hai việc đối với người đệ tử cũ của mình: một là mời anh ta ăn một bữa cơm chiều cuối cùng. Đầy bàn rượu, thức nhắm, đích thân Trương Tự Trung ngồi tiếp rượu Tôn Nhị Dũng; hai là tổ chức một buổi tiễn đưa đặc biệt. Bên phần mộ đã đào sẵn và chiếc quan tài đã chuẩn bị chu đáo, các chiến hữu từng người, từng người bắt tay từ biệt. Lời cáo biệt của Trương Tự Trung là “hãy yên lòng ra đi, ta sẽ thay anh giết bọn phỉ”.

Lần này thì Tôn Nhị Dũng ra đi thực sự, trái tim Trương Tự Trung nhói đau, thế nhưng đối với Trương Tự Trung và đội quân yêu nước này, điều cổ vũ lớn nhất đối với họ là hai ngày sau, hội chiến ở Đài Nhi Trang đã kết thúc thắng lợi.

KẾ THỨ MƯỜI TÁM:

HẬU PHÁT CHẾ NHÀN

Ra đòn sau mà giành thế thắng, chậm ăn người

A. Nguồn gốc:

“Tuân tử. Nghị binh” viết: “Hậu chi phát, tiên chi chí, thử dụng binh chi yếu thuật dã”. Tức là: trước tiên để cho đối phương ra đòn, sau đó phản kích rồi chế phục đối phương. Về mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, đây là một sách lược hữu hiệu để nước yếu chống lại nước mạnh, quân yếu chiến thắng quân mạnh, hoặc lấy lòng tin của dân, tranh thủ lòng người. Mao Trạch Đông trong cuốn “Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc” khi phân tích tư tưởng chiến lược phòng ngự tích cực, đã cho rằng: thực hiện rút lui chiến lược - lây lòng tin từ dân, rồi chuyển sang phản công trận địa, đợi đến khi địch mệt mỏi rồi thực hiện tấn công, cho đến lúc địch hỗn loạn thì tiến hành truy kích. Ông nói: “Những ví dụ áp dụng nguyên tắc này mà chiến thắng trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc có rất nhiều. Những trận đại chiến nổi tiếng như trận Thành Phụ giữa Sở và Hàn, trận Côn Dương giữa Tần và Hán, trận Quan Độ giữa Viên và Tào, trận Xích bích giữa Ngô và Ngụy, trận Di Lăng giữa Ngô và Thục, trận Phì Thủy giữa Tần và Tấn… đều là những trận chiến mà một bên yếu, một bên mạnh, bên yếu trước nhường một bước, sau đó phản công mà giành thắng lợi”.

B. Chú bình:

Chiến pháp “Hậu phát chế nhân” được ghi lại rất nhiều trong binh thư Trung Quốc, trong cuốn “Đường Thái tông, Lý Vệ Công vấn đáp” có đoạn: “Hậu phát chế nhân phải dùng tiềm lực, tiên phát chế nhân thì dùng nhuệ khí, chế áp nhuệ khí của đối phương tới mức thấp nhất và tích luỹ tiềm lực của mình đến mức cao nhất để tiêu diệt đối phương, đó mới là cái kỳ diệu trong vận dụng tiềm lực và nhuệ khí của nhà quân sự”. Hình thức biểu hiện của “Hậu phất chế nhân” rất đa dạng, như: nhượng bộ lui binh, nhử địch vào sâu, trong rút lui chiến lược, đợi đến khi đối phương mệt mỏi rã rời rồi quay lại tấn công; hoặc núp kín thật lâu, chỉ thủ thế mà không xuất đầu lộ diện, khiến cho địch truy đuổi bị ghìm giữ ở ngoài thành, nhuệ khí giảm dần, đợi đến khi suy kiệt, thì tập trung binh lực mà phản kích; hoặc là dựa vào trận địa tổ chức cố thủ phòng ngự, làm nhụt mũi nhọn tấn công của địch, không ngừng tiêu hao sinh lực địch, đợi đến khi sức tấn công của chúng đã kiệt, thì tập trung toàn bộ lực lượng dự bị, thực hiện phản kích, tiêu diệt đối phương…

Hậu phát chế nhân là chiến pháp lấy xấu thắng tốt, lấy yếu thắng mạnh. Xét về góc độ chính trị, “Hậu phát chế nhân” dễ giành được nhân tâm, động viên dân chúng, giành được sự đồng tình và viện trợ của quốc tế. Xét về mặt quân sự thì “Hậu phát chế nhân” nhấn mạnh việc lấy cái lâu dài của ta để đối phó với cái nhanh chóng vội vàng của địch, tránh quyết chiến trong điều kiện bất lợi, để tranh thủ thời gian, tạo ra điều kiện, tự bảo vệ mình mà toàn thắng. Thế nhưng, không nên hiểu một cách giản đơn “Hậu phát chế nhân” là không “nổ phát súng đầu tiên”, cần có những bước chủ động trong tình thế bị động “ra đòn sau”, người chỉ huy phải có khả năng dự đoán cao và phải nắm chắc được tính linh hoạt trong xu thế phát triển của chiến tranh. Hành động “ra đòn sau” là có kế hoạch, có mục đích, là trong đầu đã dự tính được mọi chuyện, tất cả đều nắm được trong tay mình.

Trong cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã sáng tạo rất nhiều những trận chiến thành công theo kiểu “Hậu phát chế nhân”. Cuộc chiến chống “bao vây, tiêu diệt” của Hồng quân công nông do Mao Trạch Đông chỉ huy đã dùng sách lược trước tiên rút lui, nhường một bước, dụ địch vào sâu, dùng chiến thuật kéo dài khiến cho địch béo thành gầy, gầy thành ốm yếu, đến khi sĩ khí địch đã suy sụp, đói khát mệt mỏi, thì thừa cơ tấn công, đập tan âm mưu bao vây tiêu diệt của địch.

Trong đấu tranh chính trị, ngoại giao hoặc thương chiến, hùng biện, hoặc trong xử lý các mối quan hệ xã giao thì “Hậu phát chế nhân” cũng là một phương pháp mưu lược lấy chậm thắng nhanh, lấy bình tĩnh thắng vội vã.

C. Dẫn truyện:

1. Trận Trường Thược giữa Tề và Lỗ

Trận chiến Trường Thược giữa Tề và Lỗ thời Xuân thu mặc dù quy mô không lớn, nhưng được coi là trận điển hình cho sách lược “Hậu phát chế nhân”, chậm mà thắng nhanh, sau mà thắng trước.

Khi cuộc chiến bắt đầu, Lỗ Trang công và Tào Quệ cùng ngồi trên chiến xa đến tiền tuyến chỉ huy tác chiến. Hai quân Tề, Lỗ gặp nhau ở Trường Thược, Lỗ Trang công muốn gióng trống xuất quân ngay, Tào Quệ ngăn lại, nói: “Chưa đến lúc”. Cho đến khi quân Tề gióng liên tiếp đến hồi trống thứ ba, khiêu chiến với quân Lỗ thì quân Tề đã uể oải, sĩ khí không còn hưng phấn nữa, lúc này, Tào Quệ mới đồng ý cho gióng trống xung phong. Kết quả, quân Tề bị đánh đại bại. Cuộc chiến kết thúc, Tào Quệ giải thích với Lỗ Trang công về việc dụng binh của mình: trên chiến trận phải dựa vào dũng khí, lần thứ nhất gióng trống xung phong, sĩ khí đang hăng, ở mức cao trào; lần thứ hai gióng trống xung phong, sĩ khí đã suy giảm đi rồi; đến lần thứ ba gióng trống thì sĩ khí không còn nữa. Quân Tề ba lần gióng trống là quân sĩ đã mất hết nhuệ khí. Lúc này, quân ta mới gióng trống lần đầu tiến công, sĩ khí đang thịnh, nhờ vậy mà thắng lợi.

2. Đại chiến Di Lăng Ngô - Thục

Trận chiến Di Lăng được coi là một trận điển hình cho kế lấy yếu thắng mạnh trong lịch sử chiến tranh cổ đại Trung Quốc.

Lưu Bị để báo thù cho Quan Vũ, bất chấp những lời khuyên can của Gia Cát Lượng, Triệu Vân và nhiều người khác, tự mình dẫn 75 vạn đại quân đi thảo phạt quân Ngô. Lúc đầu, quân Thục với khí thế chẻ tre, chiếm Hiệp Khẩu, tấn công Tỉ Quy, đuổi tới vùng Di Lăng, Hổ Đình, tiến sâu vào hậu phương nước Ngô tới năm sáu trăm dặm, khiến cho dân chúng, triều đình Giang Đông đều vô cùng sợ hãi. Vào lúc nguy nan này, Ngô chủ Tôn Quyền nghe theo lời của mưu sĩ Hám Trạch, mạnh dạn dùng viên tướng trẻ là Lục Tốn làm Đại đô đốc binh mã Đông Ngô, tới chiến tuyến Hổ đình chỉ huy tác chiến. Sau khi nhận nhiệm vụ Lục Tốn cẩn thận phân tích tình hình mọi mặt về binh lực, quyết định dùng chiến lược cố thủ, tránh tiếp chiến. Tướng sĩ ba quân Đông Ngô đều hy vọng ông ta sẽ lập tức dẫn đội quân Đông Ngô quyết một trận tử chiến với quân Thục, không ngờ ông lại án binh bất động, cố thủ trong thành. Điều này đã chọc tức một số tướng lĩnh thiếu tầm nhìn chiến lược. Lúc đó, trong nội bộ quân Ngô đều tỏ thái độ chế cười về sự khiếp nhược này của Lục Tốn. Lục Tốn không để ý đến những lời chê cười mỉa mai như vậy, vẫn kiên trì phương châm tránh giao chiến. Trước những lời sỉ nhục, chửi rủa của đối phương, Lục Tốn sai quân bịt tai không nghe, không được xuất hiện ngoài thành nghênh chiến. Từ mùa xuân đến mùa hè, quân Ngô và quân Thục của Lưu Bị cứ đối trận như vậy kéo dài tới hơn nửa năm. Tướng sĩ quân Thục muốn đánh mà không được, đã mệt mỏi, nhụt chí, uể oải rã rời. Thế là Lưu Bị chuyển hết doanh trại của các tướng vào những vùng rừng núi cây cối rậm rạp. Lục Tốn thấy chiến tuyến của quân Thục kéo dài lơi lỏng, đầu và đuôi cánh quân không trông được thấy nhau, đóng trại trong vùng sơn lâm đã phạm vào đại kỵ của binh gia, liền bất ngờ phản công, hỏa thiêu một loạt doanh trại kéo dài tới 700 dặm và lập nên kỳ tích trong lịch sử chiến tranh cổ đại Trung Quốc.

3. Ân Quan hiến kế đoạt Ích Châu

Theo “Tam quốc”, cuối thời Đông Hán, Ân Quan không phải là một nhân vật tiếng tăm gì. Khi Lưu Bị thay thế Lưu Kỳ làm chủ đất Kinh Châu, Ân Quan làm quan ở Kinh Châu, về sau, giúp Lưu Bị giành được Ích Châu lập công, được thăng làm Biệt giá Tòng sự.

Sau khi Lưu Bị làm chủ đất Kinh Châu, lại nam chinh được 4 quận Vũ Lăng, Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng và giành thắng lợi, hình thành một lực lượng hùng mạnh, Tôn Quyền thấy có một sự uy hiếp, bèn đem em gái mình gả cho Lưu Bị để kết tình hữu hảo. Tôn Quyền còn cho rằng kẻ thống trị Ba Trung, Hán Trung và Trương Lỗ, là một tên gian tặc giống như Tào Tháo. Trương Lỗ đã thèm muốn mà sớm dòm ngó Ích Châu. Mà Ích Châu lại do Lưu Chương làm chủ, Lưu Chương thì tính tình yếu đuối, không thể chiêu hiền dụng nhân được, thực lực quân sự yếu kém. Nếu như Trương Lỗ mà liên hợp với quân của Tào Tháo chiếm đoạt Ích Châu thì Đông Ngô ở Kinh Châu sẽ vô cùng nguy hiểm, ngược lại, nếu như cùng với Lưu Bị mà đoạt Ích Châu thì sẽ thống nhất được dải phía nam Trường Giang, như vậy thì có mười Tào Tháo ta cũng không sợ. Vì vậy, Tôn Quyền lại sai người đi thương thuyết với Lưu Bị, cùng nhau chiếm lấy Ích Châu.

Lưu Bị tất nhiên cũng muốn lấy được vùng đất trù phú Ích Châu (Tứ Xuyên ngày nay), thế nhưng, ông ta không muốn chia sẻ Ích Châu với Tôn Quyền, mà muốn một mình chiếm lấy Ích Châu. Lúc này, liên minh Lưu Tôn vừa mới hình thành, làm sao có thể vừa không phá vỡ liên minh, lại một mình chiếm được Ích Châu? Ân Quan mới hiến kế cho Lưu Bị rằng: nếu như đồng ý với ý kiến của Tôn Quyền, cùng đánh chiếm Ích Châu, thì một khi không giành được Ích Châu, nhất định, Tôn Quyền sẽ chiếm mất vùng đất vừa có được, ta sẽ ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, vô cùng khó khăn. Bây giờ Chúa công có thể nói với sứ giả của Tôn Quyền rằng chúng ta mới chiếm được một số vùng Kinh Châu, Trường Sa, còn rất nhiều việc chúng ta cần phải làm, vì vậy bây giờ ta không thể xuất binh tới Ích Châu. Để duy trì liên minh Lưu Tôn, Chúa công có thể trên lời nói thì cực lực ủng hộ Tôn Quyền độc chiếm Ích Châu, nhưng về vị trí địa lý thì Tôn Quyền muốn chiếm được Ích Châu tất phải qua Kinh Châu, nếu chúng ta không xuất binh, Tôn Quyền tất không dám tiến quân về Ích Châu khi chỉ dựa vào lực lượng nước Ngô, khi đó, họ sẽ ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Đợi đến lúc Tôn Quyền không còn hy vọng và hứng thú với việc đánh chiếm Ích Châu nữa, Chúa công sẽ xuất binh công chiếm Ích Châu cũng chưa muộn.

Lưu Bị nghe theo mưu kế của Ân Quan, lấy lý do là những vùng đất mới chiếm là Kinh Châu, Trường Sa… sự vụ quá nhiều và bận bịu, dù có người tài như Ngô Khởi, Tôn Vũ giúp đỡ thì cũng không thể xuất binh mà đánh Ích Châu được, nên từ chối đề nghị cùng hợp đồng đánh chiếm Ích Châu mà Tôn Quyền đưa ra. Tôn Quyền lúc đầu vẫn chưa biết mưu kế của Lưu Bị, tin vào lời nói của ông ta, sai Chu Du dẫn thủy quân đến Hạ Khẩu, chuẩn bị tiến công Ích Châu. Lưu Bị biết được, mới phái Quan Vũ, Trương Phi, Gia Cát Lượng… dần quân trấn thủ những vùng mà thủy quân Chu Du phải đi qua như Giang Lăng, Tỉ Quy, Nam Quận, Lưu Bị thì đích thân thủ giữ Sán Lăng. Lúc này, Tôn Quyền mới biết ý đồ của Lưu Bị, nhưng không còn cách nào khác, đành phải ngoan ngoãn hạ lệnh cho đội thủy quân Chu Du ở Hạ Khẩu rút về Đông Ngô.

Năm 211, điều kiện mọi mặt của Lưu Bị đã chín muồi, Lưu Bị chỉ cần dẫn mấy vạn tướng sĩ đi đã chiếm được Ích Châu.

4. Kế “Hậu phút chế nhân” sau đàm phán Trùng Khánh của Mao Trạch Đông

Sau khi chiến tranh kháng Nhật thắng lợi, Tưởng Giới Thạch cần có thời gian để chuẩn bị cho nội chiến, đồng thời để giành được sự ủng hộ của dư luận, ông ta ngụy trang bằng một bộ mặt hòa bình, ba lần điện mời lãnh tụ Đảng cộng sản Mao Trạch Đông tới Trùng Khánh để tổ chức đàm phán hòa bình. Ý đồ của Tưởng là đẩy trách nhiệm gây ra nội chiến cho Đảng cộng sản, vì Tưởng cho rằng Mao chắc chắn sẽ không đến Trùng Khánh, và như vậy có cớ là Đảng cộng sản không cần hòa bình. Nếu Mao Trạch Đông nghĩ đến sự nguy hiểm cho bản thân mà không tới Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch sẽ viện cớ mà làm càn. Còn nếu như Mao Trạch Đông đến Trùng Khánh, thì trong quá trình đàm phán, sẽ tìm cách ép Đảng cộng sản phải nhượng bộ, hoặc là đưa ra phương án mà Đảng cộng sản khó chấp thuận, khiến đàm phán bị hủy bỏ, lại có thể đẩy trách nhiệm nội chiến về phía cộng sản. Một âm mưu khác của Tưởng Giới Thạch là, tận dụng thời gian trong thời kỳ đàm phán, Quốc dân đảng tăng cường làm công tác chuẩn bị nội chiến. Rõ ràng đối với Quốc dân đảng, kế “tiên lễ hậu binh” là kế chiến lược vẹn cả đôi đường.

Thế nhưng Mao Trạch Đông mưu lược hơn người, ông không từ chối tới dự đàm phán Trùng Khánh. Đàm phán diễn ra trong 43 ngày, Đảng cộng sản vì lợi ích của toàn dân tộc, nên đồng thời đấu tranh với Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch, cũng đã nhượng bộ thỏa hiệp nhiều, cuối cùng ngày 10 tháng 10 năm 1945 đã ký kết được “Kỷ yếu hội nghị hai bên Quốc dân đảng, Cộng sản đảng”.

Thế nhưng sau đó không lâu, Tưởng Giới Thạch đã hủy bỏ hiệp nghị, phát động tấn công quân sự đối với khu giải phóng. Tháng 7 năm 1946, Tưởng Giới Thạch hủy bỏ hoàn toàn “hiệp định ngừng chiến” và “quyết nghị chính hiệp”, phát động tiến công toàn diện đối với khu giải phóng. Mao Trạch Đông tới Trùng Khánh đã phá được mưu đồ đổ tội danh Đảng cộng sản không cần hòa bình mà dẫn tới nội chiến của Tưởng Giới Thạch, sau khi Tưởng Giới Thạch hủy bỏ hiệp định, phát động nội chiến, dư luận và sự ủng hộ của quần chúng có lợi cho Đảng cộng sản. Trước sự tấn công toàn diện của quân Tưởng, giải phóng quân nhân dân trước tiên sử dụng sách lược nhường một bước, cố ý bỏ một số vùng. Lúc đầu, nhiều người chưa nắm được dụng ý của nước cờ này, trước tình hình các tướng lĩnh Quốc dân đảng ra sức tấn công thành, chiếm đất, đã tỏ thái độ bất mãn với cách mạng. Mao Trạch Đông chỉ rõ: “Tạm thời bỏ một số nơi, một số thành phố là để giành được thắng lợi cuối cùng trên toàn quốc”. Sự phát triển của chiến tranh đã diễn ra đúng như ý đồ của Mao, quân giải phóng Trung Quốc đã dùng một không gian hữu hạn để đổi lấy thế cục binh lực địch phân tán, tạo điều kiện cho giải phóng

quân từng bước tiêu diệt địch. Đồng thời, giải phóng quân Trung Quốc tập trung binh lực, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hành tác chiến ngoại tuyến trong nội tuyến. Và thế là, sau một thời gian phòng ngự, Đảng cộng sản chuyển sang tiến công Quốc dân đảng, từng bước, từng bước đi đến giải phóng toàn quốc. Đây được coi là sự thắng lợi của tư tưởng mưu lược “Hậu phát chế nhân” của Mao Trạch Đông và Đảng cộng sản.

5. Kế “Hậu phát chế nhân” của nguyên soái Joffre

Năm 1916, để thực mưu đồ trước hết diệt Pháp, sau đó tấn công Nga, quân đội Đức đã tập trung binh lực của 17 sư đoàn, hơn 1000 cỗ pháo, hơn 160 máy bay chiến đấu, phát động tấn công vào đầu mối trận địa của quân Pháp là Verdun, mưu đồ chiếm đoạt vùng đất được coi là thần thánh của người Pháp này, từ đó đe dọa về tinh thần đối với toàn bộ quân đội Pháp, khiến cho Verdun trở thành “thớt cối” để nghiền quân Pháp.

Nguyên soái Pháp Joffre, Joseph - Jacques - Cesaire căn cứ vào ý đồ của địch, quyết định cố thủ Verdun, dựa vào công sự kiên cố, tiêu hao quân chủ lực, và kiềm chế quân địch. Trên chính diện rộng hơn 100 km của Verdun, Joffre bố trí quân đoàn thứ 3, cắt ra 11 sư đoàn, hơn 600 cỗ pháo, trong đó hỏa pháo hạng năng hơn 200 cỗ, bố trí thành 4 trận địa phòng ngự và khu vực, xây dựng trận địa thành luỹ có chiều sâu 15 đến 18 km.

Ngày 21 tháng 2 năm 1916, quân Đức dùng pháo hạng nặng mở màn cho đại chiến Verdun, với tốc độ hơn 10 vạn quả pháo mỗi giờ, trong một ngày bắn kẹp 3 góc vào Verdun hơn 100 vạn quả đạn pháo và đạn cháy. Sau đó lại dùng 6 sư đoàn bộ binh tiến về phía nam trên chính diện chỉ rộng 10 km, đột nhập vào trận địa thứ nhất của quân Pháp. Quân đội Pháp bằng mọi giá đã liều chết bảo vệ trận địa, đồng thời dựa vào công sự trận địa, tranh giành quyết liệt với địch, đã làm tiêu hao được một lượng lớn sinh lực quân Đức. Chiến đấu suốt 3 tháng, quân Đức cũng chỉ lấn sâu được vào trận địa phòng ngự Verdun khoảng 7 đến 10 km.

Trong khi quân Đức và quân Pháp tiến hành cuộc chiến tiêu hao dần theo kiểu giằng co, thì quân Pháp đã điều động thêm tới Verdun một lượng lớn binh lực và trang bị vũ khí vật tư… Vào lúc mà quân Đức tấn công nhiều lần không thắng nổi, tiêu hao một lực lượng lớn binh lực, nhuệ khí cũng suy giảm thì quân đội Pháp đã dùng đội quân dự bị hùng mạnh thực thi phản công toàn tuyến, và chỉ một cuộc phản công đã thu hồi lại những vùng đất bị mất.

Trong chiến dịch này, quân đội Đức đã phải huy động binh lực của 50 sư đoàn, tổn thất gần 60 vạn người, còn quân Pháp chỉ tổn thất khoảng 30 vạn người. Mấu chốt để quân đội Pháp giành thắng lợi là dựa vào điều kiện có lợi của trận địa, trước tiên dùng tĩnh chế động, tiêu hao một lượng lớn sinh lực địch, và sau đó “Hậu phát chế nhân”, thừa cơ sử dụng đội quân dự bị thực thi phản kích, đập tan âm mưu tấn công của quân Đức.

6. “Hậu phát chế nhân” trong biện luận của Eisenhower

Trong tranh luận thường có người thì quá nóng vội cầu thành, cầu thắng, cũng có những người nóng vội tranh luận, lý giải, lại có những người luôn chờ đợi đáp án của đối phương để chuẩn bị tái chiến.

Đối với điều này, chiến thuật: anh nóng vội, tôi chậm rãi; anh nóng lòng cầu thắng, tôi tìm cách ghìm giữ anh; anh sốt sắng biện giải, tôi tạo điều kiện cho anh, đợi đến lúc kẽ hở của anh lộ ra, tôi sẽ tóm lấy và phản công lại; anh sốt ruột đợi tôi nói ra ý kiến của mình, tôi cứ lê mê kéo dài, khiến anh lòng dạ rối bời, trong lòng bắt đầu tức tối, giận dữ, tôi mới chậm rãi ra đòn, lời nào rành rọt lời ấy. Đó chính là chiến thuật “hậu phát chế nhân” trong tranh luận.

“Hậu phát chế nhân” nhấn mạnh: lấy chậm để chế át nhanh, lấy bình ổn để tìm thắng lợi. Biểu hiện của nó là: luận biện chậm rãi, có suy tính kỹ càng, không vội vàng tranh giành nói lý mà đợi xem đối phương biểu hiện như thế nào rồi chớp lấy những kẽ hở của anh ta mà tấn công lại, đẩy anh ta vào chỗ chết.

Các công việc chuẩn bị cho biện luận như việc lựa chọn và tổng hợp tư liệu… cũng cần tiến hành từ từ và chắc chắn. Nhà quân sự không bao giờ đánh những trận không có chuẩn bị, những trận không có sự nắm chắc. Nhà hùng biện cũng cần phải như vậy.

Để tranh luận thành công, cần phải làm được cái việc có sự chuẩn bị, có sự nắm chắc, không thể vội vội vàng vàng, càng không thể hoang mang rối loạn, cần phải có thời gian để có sự bảo đảm chắc chắn. “Hậu phát chế nhân” vừa tạo thời gian chuẩn bị cho người biện luận, vừa dành thời gian cho việc suy nghĩ chín chắn, chu toàn, nghĩ ra các biện pháp tối ưu để xử lý những tình huống nguy hiểm. Như vậy thì biện luận mới dễ giành thắng lợi.

“Hậu phát chế nhân” trong tranh luận thể hiện ở chỗ: Sau khi đối phương phát ngôn, không vội vã phản bác, phân tích kỹ luận đề của đối phương là gì, có vấn đề gì; luận cứ của đối phương là gì, có đầy đủ không; phương thức luận chứng của đối phương là gì, có hợp lô gíc không; lý lẽ, sự thực mà đối phương đưa ra có đúng không, có khoa học không…

Chỉ khi nắm chắc được địch tình thì tấn công mới hiệu quả, phản kích mới có sức. Cứ vội vàng, sốt sắng mà ra đòn thì thường không đánh trúng chỗ hiểm, mà còn dễ lộ kẽ hở của mình để đối phương lợi dụng tấn công, đẩy mình vào thế bất lợi.

“Tiên phát chế nhân” là tận dụng thời cơ; “hậu phát chế nhân” là chờ đợi thời cơ. Đó là sách lược lấy xấu mà thắng tốt, lấy yếu mà thắng mạnh, cũng là kỹ xảo hùng biện lấy chậm chế nhanh, lấy chậm chắc mà giành thắng lợi.

Năm 1956, khi Khruschov đàm phán với Tổng thống Mỹ Eisenhower, trước khi trả lời câu hỏi, Eisenhower bao giờ cũng đợi Dulles (Quốc vụ khanh bấy giờ) đưa ra tờ giấy ghi lại câu hỏi, một lát sau mới bắt đầu trả lời. Điều này khiến cho Khruschov sốt ruột, khó chịu, đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm trạng khi đàm phán. Ông châm biếm hỏi: “Cuối cùng thì ai mới đúng là lãnh đạo tối cao, là Dulles hay là Eisenhower?”.

Kỳ thực, Khruschov đã không hiểu được ý đồ thực sự trong hành động này của Eisenhower. “Nhược điểm” mà Eisenhower biểu hiện ra đã thực sự ẩn chứa một sức mạnh “hậu phát chế nhân”. Ông ta làm như vậy, ít nhất cũng đã đạt được hai mục đích: vừa tranh thủ được thời gian để suy nghĩ về vấn đề, vừa có được lời gợi mở của người khác. Từ đó mà tạo điều kiện thuận lợi để vận dụng kế “Hậu phát chế nhân”.

KẾ THỨ MƯỜI CHÍN:

PHAO CHUYÊN DẪN NGỌC

Chủ động vứt bỏ - Thả con săn sắt, bắt con cá rô

A. Nguồn gốc:

Chu dịch. Tôn đệ tam” viết: “Tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung, quân tử kỷ, bất như xả. Vọng lân”. “Tượng từ” nói: “Tức lộc vô ngu, dĩ tòng ly dã. Quân tử xả chi, vọng lận, cùng dã”. Nghĩa là: Săn đuổi hươu mà không có thần núi dẫn đường thì sẽ không tránh khỏi lạc vào trong rừng sâu, nếu thế thì chi bằng chủ động mà bỏ. Hoặc: theo hươu mà không được dẫn đường thì chỉ là cuộc săn đuổi mù quáng. Người quân tử nên bỏ con hươu ấy đi, tiếp tục đuổi thì sẽ vào sâu trong rừng rậm, tất có nguy hiểm.

B. Chú bình:

Kế này nhấn mạnh: Thà rằng chủ động vứt bỏ còn hơn tiếp tục mà gặp phải nguy hiểm. Tư tưởng hạt nhân là “lợi chi trung thủ đại, hại chi trung thủ tiểu” (trong cái lợi thì cố gắng chọn cái lớn, trong cái hại thì cố gắng chọn cái nhỏ), xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài là điểm mấu chốt của mưu lược này.

“Chủ động vứt bỏ” nêu lên một tư tưởng mưu lược rất quan trọng: Khi tiếp tục tiến về trước (hoặc tấn công) mà biết rằng sẽ rơi vào thế bị động, rất có khả năng bị thất bại chi bằng chủ động vứt bỏ kế hoạch tiến lên (hoặc tấn công). Chủ động vứt bỏ là một mưu kế được xây dựng trên cơ sở đã tiến hành phân tích, phán đoán một cách bình tĩnh và chính xác đối với điều kiện chủ quan và khách quan. Tiền đề để sử dụng mưu kế này là: Thứ nhất, tình hình trước mắt không rõ ràng, tiếp tục tiến lên hoặc tấn công sẽ có nguy hiểm lạc mất phương hướng; Thứ hai, tình hình đã rõ, nhưng so sánh thấy những nhân tố có lợi nhỏ hơn những nhân tố bất lợi, tiếp tục tiến lên hoặc tấn công sẽ không có gì bảo đảm cho thắng lợi. Cái tinh tuý của mưu lược này là ở chỗ: vứt bỏ một cách chủ động chứ không phải bị ép buộc, tức là không phải khi ở vào tình thế vô vọng, không có đường ra thì mới vứt bỏ, mà trước đó đã tính toán được những nguy hiểm sẽ ở vào tình thế tuyệt vọng, không có đường ra và kịp thời chủ động dứt bỏ.

Mưu kế này không những thường gặp trong đấu tranh quân sự, mà còn thường thấy trong cạnh tranh kinh tế. Về quân sự để giữ được lực lượng mà chủ động dứt bỏ một số mục tiêu (trận địa, thành trì…); về kinh tế để thích ứng với nhu cầu thị trường mới mà dứt bỏ các hạng mục, mặt hàng kinh doanh cũ, chủ động đổi mới sản phẩm… đều là sự vận dụng đúng đắn của mưu kế này. Tất nhiên, người lãnh đạo, nhà quản lý muốn vận dụng được mưu kế này thì ít nhất phải có hai điều kiện: Thứ nhất, đầu óc phải vô cùng tỉnh táo, có khả năng biết người, lại càng cần phải có khả năng biết mình. Thứ hai, có năng lực và khả năng quyết đoán, dũng cảm trong xử lý công việc.

C. Dẫn truyện:

1. Lục Tốn gặp “Bát trận đồ” bãi binh quay về

Để báo thù cho Quan Vũ, Lưu Bị vội vã phát động chiến dịch thảo phạt quân Ngô. Lục Tốn chỉ huy quân Ngô trong chiến dịch Hao Đình, hỏa thiêu 700 dặm doanh trại quân địch, giành toàn thắng. Sau khi Lục Tốn đánh bại quân Lưu Bị, thừa thắng truy kích quân Thục, tới gần thành Bạch Đế thì thấy có dấu tích “bát trận đồ” do Gia Cát Lượng bố trí, bèn dừng quân lại ở đó. Lúc đó, các tướng lĩnh xung quanh Lục Tốn đều thấy vô cùng kỳ lạ, mới hỏi: “Lưu Bị binh bại thế cùng, phải cố thủ trong thành, đang lúc nên thừa thắng mà truy kích, nay thấy thạch trận mà lui là cớ làm sao?”. Lục Tốn nói: “Không phải ta sợ thạch trận mà lui, ta liệu thấy Ngụy chúa Tào Phi xảo quyệt không thua gì bố, nay biết ta đuổi quân Thục, tất sẽ lợi dụng cơ hội hậu phương ta trống mà tấn công. Nếu ta vào sâu đất Tứ Xuyên thì lúc nguy cấp sẽ khó mà rút”. Thế là Lục Tốn lập tức dẫn đại quân rút về. Quả nhiên không ngoài dự đoán của Lục Tốn, rút quân không đến hai ngày thì quân Ngụy chia thành ba đường đã tiến gần đến biên giới nước Ngô. Thực ra khi đó, cho dù không có quân Ngụy tập kích phía sau thì Lục Tốn rút quân cũng là một quyết định đúng đắn. Vì mặc dù trong chiến dịch này, Đông Ngô thắng, nhưng lực lượng hùng mạnh của Tây Thục vẫn còn, nếu như vào sâu đất Tứ Xuyên thì có thể lặp lại bi kịch đại bại ở Hao Đình của Lưu Bị. Binh pháp “Tôn Tử” khi nhấn mạnh: “Tướng soái cần phải căn cứ vào từng kẻ địch khác nhau mà sử dụng các phương pháp đối phó khác nhau” từng nêu rõ “kiến khả nhi tiến, trí nan nhi thối” (thấy có thể thì tiến, biết khó khăn thì rút). Biết khó mà rút tức là khi nhận thấy tiếp tục tiến lên sẽ có khả năng dẫn đến những kết cục bất lợi cho mình hoặc làm cho chiến cục đảo ngược thì nên quyết đoán ngay lập tức, ngừng tiến công hoặc mau chóng rút lui. Qua chiến dịch này có thể thấy Lục Tốn là một nhà mưu lược quân sự tài ba.

2. Hán Hiến Đế vứt bỏ của cải để bảo toàn tính mệnh

Hán Hiến đế bị quân phản loạn giam lỏng ở Trường An, ông lợi dụng một cơ hội bỏ trốn về Lạc Dương. Kỵ binh quân phiến loạn rượt đuổi ngay sau, lúc này lão thần Đổng Thừa đề nghị Hán Hiến đế nên vứt bỏ vàng bạc châu báu mang theo xuống đường, cuối cùng ngay cả đồ trang sức của Hoàng hậu cũng vứt bỏ. Quân lính đuổi theo trông thấy vàng bạc rơi trên đất, hoa mắt, đều xuống ngựa tranh nhau thu lượm, viên quan chỉ huy hò hét ra lệnh thế nào cũng vô dụng, vì thu lượm được số vàng bạc châu báu ấy thì đủ dùng cả đời. Và nhờ vậy Hán Hiến đế bảo toàn tính mệnh, chạy được tới Lạc Dương.

3. Mao Trạch Đông chủ động bỏ Diên An

Mùa xuân năm 1947, Tưởng Giới Thạch thực hiện tấn công trọng điểm vào khu giải phóng Sơn Đông và khu giải phóng Thiểm Cam Ninh của quân giải phóng Trung Quốc. Lúc đó bộ đội biên khu Thiểm Cam Ninh chỉ có hơn 2,5 vạn người, còn Tưởng Giới Thạch thì tập trung được hơn 23 vạn quân. Để tránh phải đối đầu với quân Tưởng với lực lượng chênh lệch như vậy, xét từ toàn cục chiến tranh giải phóng toàn quốc, Mao Trạch Đông đã chủ động rút khỏi Diên An - thủ phủ khu giải phóng. Lúc đó rất nhiều tướng sĩ trong quân đội Trung Quốc không hiểu quyết định này, yêu cầu phải được liều chết một trận với địch, thề chết bảo vệ Diên An, thậm chí bộ đội ở các khu vực giải phóng khác cũng yêu cầu được đến tham chiến ở khu giải phóng Thiểm Cam Ninh. Mao Trạch Đông kịp thời giải thích rõ cho mọi người mối quan hệ giữa thế trận trên toàn quốc và việc dứt bỏ Diên An, giải thích rõ cái đạo “muốn lấy thì trước hết phải cho”, mọi người đều thống nhất tư tưởng, rút quân khỏi Diên An một cách êm ả. Quân Tưởng mặc dù chiếm lĩnh được các huyện thành biên khu của Diên An và Thiểm Cam Ninh, nhưng vừa không đạt được mục đích tiêu diệt cơ quan đầu não Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và giải phóng quân nhân dân Tây Bắc, vừa bị đánh cho nhiều đòn chí mạng. Giải phóng quân chia thành những đội nhỏ, dùng chiến thuật kéo dài để tiêu hao quân Quốc dân đảng, khiến cho quân Tường phải liên tục di chuyển ở khu vực Thiểm Bắc, binh lực mệt mỏi, cấp dưỡng khó khăn. Qua một loạt các chiến dịch Hanh Hóa Điếm, Dương Mã Hà… quân Tưởng đã tổn thất binh lực gần 10 vạn người, cuối cùng đành phải rút khỏi khu giải phóng, còn giải phóng quân Trung Quốc trên đà thắng lợi chuyển sang tấn công chiến lược, giải phóng toàn bộ vùng tây bắc.

4. Napoleon cắt bỏ lính khi rút chạy

Đầu tháng 6 năm 1812, Napoleon dẫn 60 vạn quân Pháp mở màn cuộc chiến tranh tấn công nước Nga, ngày 14 tháng 9 năm đó, quân Pháp công chiếm Thủ đô Nga Matxơva. Nguyên soái quân đội Nga là Kutuzov thực hiện rút lui chiến lược, né tránh mũi tiến công của quân Pháp, đồng thời thực hiện chính sách vườn không nhà trống. Sau khi pháo kích vào Matxcơva nhiều ngày, lương thực và vật phẩm khô cạn, hàng chục vạn quân Pháp đói khát, mệt mỏi, tình cảnh ngày càng khó khăn. Đến mùa đông, quân đội Napoleon vẫn không tìm ra quân chủ lực của Nga để thực hiện tác chiến, quân lính không có áo chống rét. Ngày 19 tháng 10, Napoleon quyết định rút quân. Lúc này Kutuzov dẫn quân truy kích, đánh cho quân Napoleon đại bại. Trên đường rút chạy, đoàn quân gặp một con sông lớn chắn ngang trước mặt, phía trước không thuyền tàu, phía sau địch rượt đuổi, Napoleon quyết đoán lệnh cho binh sĩ nhảy xuống dòng nước lạnh giá, dùng thân thể của mình để kết thành một chiếc cầu người, cho bộ đội chủ lực vượt sông. Lúc đó, các binh sĩ Napoleon nhất tề hô to “Hoàng đế vạn tuế” rồi đồng loạt nhảy xuống sông, kết thành một chiếc cầu người, tạo điều kiện cho bộ phận quân chủ lực rút chạy an toàn.

5. Churchill cố ý để cho thành phố Conventry bị oanh tạc

Tháng 11 năm 1940, cơ quan tình báo Anh dùng chiếc máy giải mã tuyệt mật siêu cấp để khám phá mật mã của quân đội Đức, biết được thông tin người Đức sẽ oanh tạc thành phố Conventry. Thủ tướng Anh Churchill sau khi nhận được tin báo này ngay lập tức triệu tập hội nghị, thảo luận đối sách. Lúc đó, nếu như chính phủ Anh thực hiện ngay các biện pháp phòng ngự đặc biệt đối với thành phố Conventry thì người Đức sẽ biết mật mã của họ đã bị giải, từ đó mà đổi một hệ thống mật mã khác. Thế là Churchill quyết định không thực hiện báo động đối với thành phố này, thậm chí cũng không di tản trước những người bệnh tật, già yếu. Kết quả quân đội Đức đúng giờ oanh tạc, Conventry biến thành một biển lửa, số người chết và bị thương không tính được.

Sở dĩ Churchill phải kìm lòng để thực hiện phương sách này là để duy trì hệ thống mật mã tuyệt mật siêu cấp kia. Nhờ duy trì được hệ thống mật mã này, trong cuộc chiến lâu dài bảo vệ 3 đảo Anh sau này, tác dụng của các thông tin nó đem đến lớn hơn nhiều một thành phố như Conventry. Chỉ với một trận chiến, quân Đức đã tổn thất gần 6 vạn người và 500 xe tăng. Được biết, nước Anh sở dĩ có thể chịu được các đợt tấn công mãnh liệt của quân Đức là nhờ có các tin tức tình báo “siêu cấp” thu được từ hệ thống mật mã này. Sau này, trong cuốn “Hồi ức về đại chiến thế giới hai”, Churchill đã gọi những tin tức tình báo “siêu cấp” này là “nguồn tin tình báo đáng tin cậy nhất”.

Thực tiễn chiến tranh cho thấy, thắng bại của chiến tranh quyết định bởi sự chỉ đạo chiến tranh ở cấp độ toàn cục có đúng đắn hay không. Người chỉ huy, đặc biệt là người lãnh đạo tối cao cần phải biết nhìn nhận rộng trên toàn cục, khi cái cục bộ và cái toàn cục mâu thuẫn, phải quyết đoán mà bỏ cái cục bộ, giữ cái toàn cục. Với những phương diện có liên quan đến cuộc chiến, những vấn đề và hành động then chốt ảnh hưởng đến các giai đoạn của cuộc chiến, cần phải dùng toàn tâm, toàn lực giữ vững và duy trì. Lúc cần thiết, sẵn sàng chịu thiệt hại, hy sinh để bảo toàn cho những yếu tố này, từ đó mà giành lấy chủ động và thắng lợi toàn cục.

6. Bí mật sự kiện Trân Châu Cảng và sự tham chiến của Mỹ

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu cảng, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Sau đại chiến thế giới hai, các nhà quân sự, nhà lịch sử của các nước trên thế giới từng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có nhận định cho rằng: “Điều giúp Nhật Bản bất ngờ tập kích Trân Châu Cảng và giành chiến thắng là một mưu kế của Tổng thống Mỹ Roosevelt”. Trước khi Nhật, Mỹ giao chiến, tập đoàn lãnh đạo tối cao nước Mỹ đứng đầu là Roosevelt đã giải phá được mật mã ngoại giao tuyệt mật của Nhật Bản. Căn cứ vào nguồn tin tình báo này, Mỹ đã hoàn toàn biết được động thái các hành động quân sự của Nhật Bản. Vì vậy, họ vừa từng bước tìm hiểu ý đồ khai chiến của Nhật Bản, vừa cố ý dẫn dụ Nhật Bản phát động tiến công rồi lấy đó làm cái cớ để đoàn kết nhân dân nước Mỹ và để Mỹ tham gia chiến tranh Thái Bình Dương.

Lúc đó, phát xít Đức, Ý, Nhật vung cây gậy chiến tranh khắp nơi, thổi ngọn lửa chiến tranh lan tới Trung Quốc, Anbania, Tây Ban Nha, Ba Lan, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Anh, Liên Xô… mồi lửa xâm lược hừng hực cháy. Nhưng họ cố ý tránh nước Mỹ - một nước công nghiệp hùng mạnh, mưu đồ để Mỹ ở vào trạng thái trung lập, để sau cùng mới tập trung tiêu diệt. Tổng thống Roosevelt đã biết rõ âm mưu này. Để tránh rơi vào cục diện đó, ông mong muốn Mỹ sẽ sớm đứng vào hàng ngũ những nước chống Phát xít, như Anh, Liên Xô… giữ thái độ tích cực đối với việc tham chiến. Nhưng ở nước Mỹ, bất kể là nghị sĩ quốc hội hay người dân bình thường đều giữ một thái độ phản đối chiến tranh kịch liệt, rất nhiều người vẫn chưa nhận thức được tính nguy hiểm của tình thế lúc đó. Đặc biệt, một bộ phận sĩ quan chỉ huy quân đội Mỹ cũng có một quan điểm giữ bản thân an toàn một cách mù quáng, họ không hề liệu tính được việc Nhật Bản sẽ tấn công nước Mỹ.

Tống thống Roosevelt đã dùng bài học bằng mâu ở Trân Châu cảng để phá vỡ những mộng tưởng hòa bình một cách ngây thơ của người dân Mỹ, kích thích ý thức dân tộc, ý chí quyết chiến tới cùng của người dân Mỹ. Sau khi xảy ra sự kiện Trân Châu cảng, Tổng thống Roosevelt ngay lập tức gọi ngày này là “ngày quốc hận”, nêu cao khẩu hiệu “hãy nhớ lấy sự kiện Trân Châu Cảng”, từ đó mà gieo ý thức thù địch vào người dân Mỹ, kích thích tinh thần chiến đấu tới cùng của họ, lôi họ vào chiến tranh. So với những điều đã có được để cho Mỹ không bị rơi vào tình thế bị động thì những tổn thất của hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Mỹ chỉ như muối bỏ bể.

KẾ THỨ HAI MƯƠI:

THUẬN NƯỚC ĐẨY THUYỀN

Gió chiều nào theo chiều ấy

A. Nguồn gốc:

Kế này nhấn mạnh: lời nói, hành động nên tùy theo tình thế. Sử dụng phương pháp mưu lược thuận nước đẩy thuyền là con đường nhanh gọn tiện lợi nhất để đạt được mục tiêu đã định, hoặc là tránh bị động trong những tình thế phức tạp và trong các sự biến bất ngờ, tranh thủ các biện pháp ứng biến tối ưu chủ động, hoặc có những sách lược đấu tranh đối địch hữu hiệu. “Binh kinh bách thiên, Thuận” có nói: Hễ tấn công mà dễ vấp tường (gặp khó khăn) thì chi bằng thuận theo ý đồ của địch, dẫn dụ họ phạm phải sai lầm. Địch mưu đồ tiến, thì cố ý tỏ ra ta yếu để dẫn dụ địch vào sâu; địch có ý rút thì cố ý mở một cửa lưới cho rút, giả cho đường sống, cho nó phá vòng vây mà rút chạy; địch dựa vào sự lớn mạnh về lực lượng của mình thì cố ý cố thủ không ra, tránh nghênh chiến để kích thích sự kiêu ngạo của chúng; địch dựa vào uy danh thì giả nhún nhường nhưng ngấm ngầm tích luỹ lực lượng để đợi chúng lỏng lẻo, rời rã. Những hành động này đều bao hàm tư tưởng thuận nước đẩy thuyền. Quan Hán Khanh đời Nguyên trong “Đậu Nga oan” nói: “Trời đất ư, cũng làm cái chuyện mềm nắn, rắn buông, thì ra cũng là thuận nước đẩy thuyền cả”. “Nhị Khắc phách án kinh kỳ” quyển 12 viết: “Là do tính khí hắn đã như vậy, có giữ lại thì cũng thành oan gia, không dễ mà can ngăn được; chi bằng thuận nước đẩy thuyền, cho anh ta đi quách cho xong chuyện”. “Sài lộ đáng” hồi 107 cũng nói: “Anh ta biết thuận nước đẩy thuyền, mở lồng thả chim, ta biết con cháu người này tất sẽ phát”.

B. Chú bình:

Là một mưu kế, thuận nước đẩy thuyền vẫn mang ý xấu chụp mũ cho người khác, lợi dụng cơ hội, vừa có thể gió chiều nào che chiều ấy, lại vừa giậu đổ bìm leo, còn bản thân thì giở một bộ mặt công bằng chính trực. Nếu như vận dụng vào đấu tranh quân sự thì không như vậy, giả thuận theo ý đồ của địch, theo tình thế mà chỉ đạo, muốn bắt tạm thời thả, dẫn hành động của địch theo hướng cực đoan, khiến cho địch mắc sai lầm, sau đó ta tập trung lực lượng thừa cơ mà truy kích. Kiểu thuận nước đẩy thuyền này rõ ràng là một nghệ thuật cao siêu trong chỉ đạo chiến tranh. Tất nhiên, trong xử lý quan hệ nhân tế, dùng kiểu thuận nước đẩy thuyền đôi khi có thể tránh được bị động, biến thành chủ động, vì vậy kế này vẫn có ý nghĩa tích cực.

C. Dẫn truyện:

1. Thượng Quan Kiệt “Thuận nước đẩy thuyền” mà được thăng tiến

Thời Hán Vũ đế, có một Ngự mã quan là Thượng Quan Kiệt nuôi ngựa rất tài, nên được Hán Vũ đế mến mộ. Hán Vũ đế một thời gian dài lâm bệnh, không lên triều và cưỡi ngựa đi săn bắn du ngoạn được. Sau khi bệnh khỏi, phát hiện thấy ngự mã trong cung gầy đi nhiều so với trước. Vị Hoàng đế vô cùng quý ngựa này cho gọi Thượng Quan Kiệt đến, giận dữ mắng ông ta: “Có phải ngươi cho rằng ta bệnh sẽ không khỏi nên không thèm để ý đến ngự mã nữa phải không”.

Nói rồi sai đem giam Thượng Quan Kiệt vào ngục chờ trị tội. Thượng Quan Kiệt nhanh trí tỏ thái độ chân thành giải thích: “Có chết thần cũng không dám nghĩ như vậy, nghe nói ngọc thể bệ hạ bất an, thần ngày đêm rầu rĩ, lo cho bệ hạ mà ăn không ngon, ngủ không yên, làm sao còn tâm tư nào để ý đến việc nuôi ngựa nữa? Thần có bị cách chức, bệ hạ có trừng phạt, có chém đầu thì tùy, nhưng chỉ cần ngọc thể bệ hạ mạnh khỏe thì thần có chết cũng yên lòng”.

Lời chưa nói hết, Thượng Quan Kiệt đã nức nở nghẹn ngào, nước mắt rơi lã chã. Hán Vũ đế bị xúc động bởi lòng trung thành của Thượng Quan Kiệt, từ đó rất coi trọng ông ta, bổ nhiệm ông ta từ một chức quan nuôi ngựa lên thành Kỵ đô uý, những năm cuối đời, Hán Vũ đế còn để lại di chúc cho Thượng Quan Kiệt phò tá Thiếu chủ.

2. Vợ Thôi Giản mưu trí chế ngự Vương Gia

Đằng Vương đời Đường là một kẻ cực kỳ hoang dâm, hễ vợ các quan xinh đẹp một tý là khó mà tránh khỏi bị ông ta làm nhục. Mỗi lần như vậy, Đằng Vương đều lừa dối rằng Vương phi có lệnh gọi cô ta vào, chỉ vừa nhập cung là bị hắn làm nhục ngay. Lúc đó vợ của Điển thiêm quan Thôi Giản là Trịnh thị vừa mới kết hôn, Đằng Vương đã sai người cho gọi Trịnh thị vào. Không muốn đi, nhưng lại sợ uy quyền của Đằng vương; đi thì chắc chắn sẽ bị Đằng vương làm nhục, Trịnh thị nói: “Không hề gì, thiếp sẽ có cách”. Nói rồi thẳng tới tiểu các ở ngoài cung Đằng vương, Đằng vương đang đợi ở đó. Trịnh thị vào, Đằng vương lập tức giở trò. Trịnh thị kêu to gọi tùy tùng: “Đại vương đâu có làm những việc vô lễ như vậy, con người này nhất định là một tên gia nô”. Nói rồi rút giầy ra đập tới tấp lên đầu Đằng vương khiến hắn sứt đầu mẻ trán, máu me khắp mặt. Vương phi nghe tiếng kêu la mới chạy ra, Trịnh thị có được cơ hội thoát về nhà. Sau việc này, Đằng vương vô cùng xấu hổ, 10 ngày liền không dám thăng đường xử lý chính sự. Ngày nào Thôi Giản cùng đến đợi để được gặp Đằng vương, nhưng không được. Về sau Đằng vương cũng không thể tiếp tục giấu mặt được mãi, Thôi Giản tới tạ tội, Đằng vương vô cùng xấu hổ, cho thả vợ của các quan. Và từ đó không dám làm điều tầm bậy nữa.

Không chỉ là bảo vệ cho mình, mà còn bảo vệ cho người khác, kế thuận nước đẩy thuyền của Trịnh thị cho thấy đó là một người phụ nữ có gan, có trí.

3. Tôn Tư Mạc dùng rắn trị bệnh cho Đường Thái tông

Thuận nước đẩy thuyền không chỉ là sách lược tuyệt diệu trong quân sự, mà vận dụng một cách thích đáng vào cuộc sống đời thường cũng có những công năng đặc hiệu. Ví dụ, trong chữa bệnh, người thầy thuốc thuận theo tâm tưởng của người bệnh, thực hiện lừa dối một cách cố ý, nhiều khi cũng là một phương thuốc không thể thay thế.

Vào năm Đường Trinh Quan, Tôn Tư Mạc đã dùng thuật này để trị khỏi bệnh tim của Đường Thái tông.

Một hôm, Đường Thái tông Lý Thế Dân cưỡi ngựa vào trong núi du ngoạn, leo lên đỉnh cao, đang lúc vừa mệt vừa khát, chợt nghe thấy có tiếng suối chảy, tới gần thì thấy một con suối nước trong như lọc, dịu mát vô cùng, Hoàng đế cúi mình uống một hồi đã miệng, chợt thấy tiêu tan hết mệt mỏi. Sau khi uống no, ngước nhìn thoạt trông thấy dưới dòng nước trong suốt có một con rắn nhỏ đang bơi lượn, Hoàng đế bất chợt thấy ghê rợn, nôn nao trong người, bụng bỗng chốc quặn đau, giống như đã nuốt phải con rắn nhỏ, toàn thân run rẩy. Sau khi về cung, Hoàng đế đổ bệnh. Các thái y chữa chạy mọi đường, thứ thuốc gì cũng thử qua, nhưng đều vô hiệu. Tướng quốc Ngụy Trưng giới thiệu một thầy thuốc có tiếng là Tôn Tư Mạc vào cung chẩn trị cho Hoàng đế. Tôn đại phu xem lưỡi bắt mạch cho Đường Thái tông, không phát hiện ra bệnh chứng gì, nhưng trống Hoàng đế dung nhan tiều tuỵ, rõ ràng là có bệnh. Tôn Tư Mạc hỏi nguyên có phát bệnh, Hoàng thượng kể lại toàn bộ sự việc. Tôn đại phu nghe xong, nghĩ chắc chắn là hình con rồng nhỏ trên mũ nhà vua soi xuống nước, nhà vua lầm tưởng rằng có con rắn nhỏ, nên sợ hãi mà mắc bệnh tim. Thế là Tôn đại phu đã tìm ra cách trị liệu căn bệnh này, ông nói cớ rằng: “Thần phải về quê bốc thuốc, ngày mai sẽ trở lại chữa trị, đảm bảo chữa khỏi bệnh, mong Hoàng thượng không nên lo nghĩ gì cả”. Rồi từ biệt Hoàng thượng, Tôn đại phu trở về quê.

Ngày hôm sau, Tôn Tư Mạc đem theo một ống tre, trong ống tre có một con rắn nhỏ, giấu trong tay áo, rồi đem vào cung trị bệnh cho vua. Tôn đại phu cho Hoàng thượng uống thuốc gây nôn. Thái tông uống, rồi thổ cả ra một chiếc chậu, Tôn đại phu nhân lúc Hoàng thượng nhắm mắt nôn oẹ mới thả con rắn nhỏ vào trong chậu, sau đó kinh hãi kêu lên: “Thánh thượng vạn tuế xin hãy xem đây, con rắn nhỏ đã nôn ra rồi, ơn trời long thể sẽ nhanh chóng bình phục”. Đường Thái tông nghe thấy lời vậy, quên hết mệt mỏi, bệnh tật, nhỏm dậy trông thấy lẫn trong đám thổ trong chậu quả nhiên có một con rắn nhỏ, mọi nghi ngờ đều tan biến, thân thể cảm thấy nhẹ nhõm lạ thường. Mấy ngày sau, Hoàng thượng khỏe mạnh lại như thường, trăm quan đến khánh chúc, Đường Thái tông trọng thưởng cho Tôn đại phu và phong làm Thần y.

4. Người con dâu nhanh trí

Có một nhà mới cưới con dâu. Đêm hôm đó, một tên trộm đục tường chui vào trong nhà lấy trộm đồ đạc. Trong nhà rất tối, tên trộm thình lình va phải một cây gỗ lớn, cây gỗ đổ và đập lên đầu hắn, thế là tên trộm chết ngay lập tức. Chủ nhà nghe thấy tiếng động vội bật đèn xem, thì ra là người hàng xóm bên cạnh. Người chết khiến cả nhà đều hoảng sợ, sợ không cãi lý được sẽ chịu họa. Người con dâu mới trầm ngâm, suy nghĩ hồi lâu, rồi bảo người nhà đem ra một chiếc rương lớn, cho thi thể tên trộm vào đó, khóa lại, rồi sau đó nhân lúc đêm tối, đem chiếc rương chuyển tới trước cửa nhà hàng xóm, nhẹ nhàng gõ mấy lần cửa rồi mau chóng bỏ đi.

Vợ tên trộm nghe thấy tiếng gõ cửa, vội ra mở, vừa trông thấy trước cửa có một cái rương lớn, cho rằng đó là đồ đạc chồng ăn cắp về, mới mừng vui chuyển nó vào trong nhà. Cô ta đợi chồng mãi chẳng thấy về, liền quyết định mở chiếc rương ra xem. Phá khóa mở ra, vừa nhìn vào trong thì thấy thi thể chồng. Người vợ thất kinh không biết ai đã giết chồng mình nhưng cũng không dám làm to chuyện, chỉ biết lặng lẽ đem thi thể chồng đi mai táng, sau đó cũng trốn sang vùng khác. Kế thuận nước đẩy thuyền của người con dâu, vừa tránh được họa cho cả nhà, vừa trừ khử được một tên trộm cho dân làng.

5. Hạ Long thuận nước đẩy thuyền phản bác Tưởng Giới Thạch

Trong cuộc đời, Tưởng Giới Thạch nhiều lần nghe nói về Hạ Long, nhiều lần nói đến Hạ Long, nhưng gặp mặt thì chỉ có một lần, về sau vẫn có cơ hội gặp mặt, nhưng ông ta đều xua tay “ta không cần phải gặp ông ta”.

Vậy tại sao Tưởng Giới Thạch không dám gặp mặt Hạ Long?

Ngày 17 tháng 1 năm 1938, sau khi kháng chiến bùng nổ, Tưởng Giới Thạch tiếp đãi Hạ Long trong một phòng khách nhỏ.

Vừa gặp Hạ Long, Tưởng đã tỏ ra vô cùng thán phục, tại sao một tướng lĩnh xuất chúng như vậy mà lại bị Cộng sản đảng cướp mất?

Tưởng Giới Thạch chau mày nhìn Hạ Long hỏi: “Năm thứ 16 Dân quốc, tại sao một chức Quân trưởng ngon lành như vậy ông không làm lại chạy đi tham gia bạo động Nam Xương của Cộng sản đảng”.

Hạ Long cười, thẳng thắn vung tay nói: “Chính kiến của tôi và ủy viên trưởng khác nhau”.

Tưởng Giới Thạch đã quen với chức vụ lãnh tụ, lâu rồi không ai dám dùng ngữ khí và kiểu vung tay như vậy khi nói chuyện với ông ta, thoạt đầu thấy vậy Tưởng sa sầm mặt mày, nhưng ngay lập tức nghĩ tới thân phận của đối phương, thì không thể hiện gì nữa, nhưng cũng không biết nói gì khác, hai bên trầm lặng hồi lâu.

Tưởng Giới Thạch có vẻ lúng túng, nhưng biểu hiện này cũng cho thấy ông ta giỏi ứng phó, ông ta nhấp một ngụm trà, rồi xua tay: “Việc đã qua thì cho qua vậy”. Ông ta dùng một ngữ khí thân cận: “Vân Khanh, gia đình ông vẫn ổn cả chứ?”

Hạ Long liếc nhìn Tưởng Giới Thạch, ánh mắt đó khiến Tưởng Giới Thạch thấy sợ, trong chốc lát ông ta thấy hối hận vì lẽ ra không nên hỏi điều này. Nhưng đã muộn, Hạ Long nhếch miệng lạnh nhạt, nói rành mạch: “Nhà tôi bị đốt cháy cả rồi, người trong nhà bị giết sạch. Hơn 80 người, nay chỉ còn lại cái thân Hạ Long này cầm súng”.

Mặc dù Tưởng Giới Thạch đã có sự chuẩn bị về tư tưởng, nhưng câu trả lời của Hạ Long vẫn nằm ngoài dự liệu của ông ta. Trước đây, ông ta đã từng hạ lệnh “Thà giết nhầm một ngàn người, nhưng không thể bỏ sót một người”. Cuộc bao vây tiêu diệt lần ấy ai ngờ lại có cả nhà Hạ Long. “Nhà cửa bị đốt sạch, người nhà bị giết sạch”. Nay ngồi đối diện với một Hạ Long “còn sót lại, cầm súng” này, sự lúng túng khó xử của Tưởng Giới Thạch lúc bấy giờ không khó tưởng tượng, đôi môi ông ta cứng lại, liếc nhìn qua Hạ Long, cuối cùng cũng lấy lại một chút dũng khí mà nói một tiếng: “Ồ, tôi biết, ông là cách mạng cũ”, ông ta không dám chuyển ánh mắt đi chỗ khác, cứ nhìn chằm chằm xuống phía dưới, rồi nói mấy câu kiểu “địch đang trước mặt, hãy hợp sức kháng chiến”, và vội vàng kết thúc buổi gặp mặt.

Nghe nói, mãi tới khi Hạ Long đi ra khỏi cửa, Tưởng Giới Thạch mới thở phào, ngả lưng ra chiếc ghế sa lông: “Từ sau, ta sẽ không gặp ông ta nữa”.

6. Quân Đức mạo căn cứ Mỹ, phát lệnh giả cho đội bay vận tải không quân Mỹ

Lợi dụng mâu thuẫn của địch, thuận nước đẩy thuyền mà làm cho địch giết lẫn nhau, đó là diệu kế thường thấy trong chỉ đạo chiến tranh.

Một ngày tháng 5 năm 1943, cơ quan tình báo Đức thu và dịch được một bức điện báo do liên quân Anh Mỹ phát về căn cứ không quân Mỹ, đại ý là lệnh cho bộ phận này trước 13 giờ ngày 8 tháng 5 sẽ vận chuyển toàn bộ bộ đội mặt đất đến đảo Sicilia theo đường không quân. Quân Đức quyết định thuận nước đẩy thuyền, lập một kế hoạch hành động dùng thông tin vô tuyến điện để lừa.

Ngày 8 tháng 5, sau khi màn đêm buông xuống, những chuyến không vận của quân Mỹ bắt đầu. Họ không thể ngờ rằng hành động này đã sớm bị quân Đức biết được. Đoàn bay rời căn cứ chưa được bao lâu thì bị vô tuyến điện của quân Đức gây nhiễu mà mất liên lạc, lạc mất phương hướng. Chính lúc này, quân Đức điều các máy bay oanh tạc luân phiên nhau tấn công các chiến hạm Anh Mỹ đang đậu trên vùng biển gần căn cứ quân Mỹ. Tất cả các máy bay oanh tạc đều duy trì ở độ cao 5000 foot Anh (khoảng 1500 m). Tiếp đó, quân Đức lại lợi dụng điểm hạn chế “chỉ nghe thấy mà không nhìn thấy” của thông tin vô tuyến điện, giả mạo căn cứ quân Mỹ phát chỉ lệnh bằng vô tuyến điện cho đội bay vận tải không quân Mỹ “Hãy duy trì ở độ cao 5000 foot (1,5 km), chuyển hướng 3500 mil (1 mil = 0,05625 độ)…”

Đội máy bay vận tải không quân Mỹ nhận được “tín hiệu chỉ huy” từ mặt đất, vội nhanh chóng bay theo hướng của chỉ lệnh. Họ không ngờ là đã bay vào vùng trời của hạm đội Anh Mỹ. Quân Anh Mỹ vừa quan sát thấy các máy bay bay ở độ cao 5000 foot, cho rằng máy bay Đức lại tới oanh tạc, thế là tất cả pháo cao xạ nhất loạt điểm hỏa, toàn bộ đoàn máy bay vận tải chưa kịp phản ứng thì đã cháy rơi xuống biển.

KẾ THỨ HAI MƯƠI MỐT:

GIẢ SI BẤT ĐIỂN

Giả bệnh vờ chết

A. Nguồn gốc:

Kế này là kế dẫn thân, cũng là sự phát triển và mở rộng của mưu lược “giấu tài” (che giấu điểm mạnh, bộc lộ điểm yếu), nghĩa là khi lực lượng của mình ở vào thế nhỏ yếu, nên kịp thời thay đổi sách lược, tạm thời dừng tiến lên (hoặc tấn công), trước tiên cho chấn chỉnh, tích luỹ lực lượng, đợi thời cơ chín muồi rồi tiếp tục hành động. Kế này nhấn mạnh thà rằng giả hồ đồ, rối rắm, hỗn loạn mà không hành động, chứ không nên giả thông minh để rồi manh động thiếu suy nghĩ. Ngầm trù hoạch mà không lộ dấu hiệu gì, giống như là sấm chớp ẩn tích trong mùa đông vậy.

Theo “Tấn thư. Tạ An truyện”: Tạ An là một nhà chính trị thời Đông Tấn, tự là An Thạch, người Dương Hạ quận Trần Thái Khang (Hà Nam ngày nay). Ông xuất thân trong một gia đình nhiều đòi làm quan, từ nhỏ đã hưởng thụ danh tiếng, được người kính nể. Khi còn trẻ, đã từng đảm nhiệm chức quan trong phủ tư đồ. Về sau mượn cớ là có bệnh, từ quan đến ẩn cư ở Đông Sơn, Hội Kê. Cùng du ngoạn sơn thủy, ngâm thơ viết phú với Vương Hy Chi, Hứa Tuần, Chi Độn… không quan tâm đến chính sự. Vì Tạ An rất nổi tiếng nên Thứ sử Dương Châu là Dữu Bàng nhiều lần sai người tới ngỏ lời mời, thậm chí ép ông ta ra giúp việc, Tạ An bất đắc dĩ phải nhận lời, hơn một tháng sau lại cáo từ mà rút về. Về sau, Lại Bộ Thượng thư Phạm Uông và một số người khác lại tiến cử Tạ An, Tạ An đều viết thư từ chối. Mãi tới khi hơn 40 tuổi, em trai của ông ta là Tạ Vạn bị bãi quan, ông ta mới lại xuất sơn làm quan. Hơn nữa được thăng tiến rất nhanh, cho đến đời Hiếu Vũ đế - Đông Tấn, đã lên tới chức Tể tướng. Người đời sau vẫn truyền nhau cách nói rằng, tạm thời giả bệnh khiến cho Tạ An nổi tiếng và về sau lại phát tích, khi trẻ mất quyền lực đến lúc già lại được khôi phục và thăng tiến nhanh chóng.

B. Chú bình:

Trong lịch sử Trung Quốc, những người nhờ giả bệnh vờ chết mà bảo toàn tính mệnh hoặc đoạt được quyền lực tối cao tương đối nhiều. Tề Hoàn công, Lý Quảng, Tào Tháo, Chu Du, Tư Mã Ý… đều từng dùng qua kế này. Trong “36 kế gốc” có kế “giả dại vờ điên” kể: Tôn Tẫn sau khi bị bạn học là Bàng Quyên hãm hại cắt đi hai xương bánh chè, để bảo toàn tính mệnh đã phải giả điên, về sau được nước Tề cứu, trở thành quân sư cho nước Tề, Tôn Tẫn đã lập kế, cuối cùng đánh bại Bàng Quyên. Họa gia lớn đời Minh là Đường Bá Hổ để thoát khỏi bọn phản nghịch cũng đã phải giả điên mà may mắn thoát được cái họa chém đầu.

Trong xã hội với trình độ khoa học y học còn lạc hậu, dùng kế vờ điên giả mê còn có thể được. Nhưng trong thời đại trình độ khoa học kỹ thuật y học phát triển cao, kế này không còn áp dụng được nữa. Chỉ cần dùng máy điện não đồ kiểm tra, là có thể biết được chân tướng. Nhưng giả bệnh thì có lẽ vẫn được dùng phổ biến. Chúng ta vẫn thấy nhiều người vì thăng tiến gặp trở ngại, hoặc bất mãn với lãnh đạo đơn vị, với đấu tranh trong đảng, hoặc muốn theo một nghề khác… đã tới bệnh viện làm giấy tờ giả bệnh, vẫn có thể được. Đây cũng là một kế bảo thân. Nhưng những hành vi như vậy rất đáng phê bình.

C. Dẫn truyện:

1. Công tử Tiểu Bạch giả chết mà trở thành Quốc quân nước Tề

Năm 686 TCN, Công Tôn Vô Tri giết Tề Vương công, tự lập làm Quốc quân. Không lâu sau, Công Tôn Vô Tri lại bị đại thần thích sát. Hai con trai của Tề Vương công là Công tử Cưu đang lánh nạn ở nước Lỗ và Công tử Tiểu Bạch đang lánh nạn ở nước Cử sau khi biết tin đều muốn nhanh chóng về nước để làm Quốc vương.

Để Công tử Cưu có thể mau chóng về nước đoạt vương vị, Lỗ Trang công đã phái riêng một đoàn binh mã và 10 chiến xa hộ tống, rồi lại phái Quản Trọng dẫn một đội quân khác chặn đường và giết Công tử Tiểu Bạch trên đường từ nước cử trở về nước Tề.

Quản Trọng mau chóng rượt đuổi, khi đến Tức Mặc thì Công tử Tiểu Bạch được quân nước cử hộ tống đã đi quá đất Tức Mặc một đoạn xa. Quản Trọng vội ra roi thúc ngựa, rượt đuổi một hơi 30 dặm mới đuổi kịp, chưa kịp nghỉ thở, Quản Trọng đã vội giương cung, một mũi tên bay đi và bắn trúng cái móc bằng đồng trên áo của Tiểu Bạch. Là một người thông minh hơn người, Tiểu Bạch vội tương kế tựu kế, nghiến răng cắn vào môi mình cho chảy máu, cố ý hét to lên một tiếng và để cho máu chảy ròng khắp mình, rớt xuống đất, rồi giả chết ngã trên xe ngựa. Quản Trọng từ xa nhìn thấy quân hộ tống nước Cử chạy tán loạn, chắc rằng Tiểu Bạch đã chết mới vội quay về, báo với Công tử Cưu. Công tử Cưu nghe được tin này, thở phào nhẹ nhõm, yên tâm rằng ngôi Quốc quân sẽ không thuộc về ai khác ngoài mình, thế là chẳng cần vội vã, cứ ung dung mà tiến quân về nước Tề.

Khi đoàn quân Công tử Cưu chậm rãi tiến vào nước Tề thì được biết Công tử Tiểu Bạch đã sớm về nước và lên ngôi Quốc quân nước Tề từ lâu rồi, Công tử Cưu buộc phải nhanh chóng chạy trốn về nước Lỗ.

2. Lý Quảng giả chết mà trốn thoát

Năm 129 TCN, Hán Vũ Đế phái 4 đại quân xuất kích đánh Hung Nô. Lý Quảng dẫn một cánh quân xuất phát từ Nhạn Môn, không may trúng mai phục của cánh quân chủ lực Hung Nô. Quân Lý Quảng mặc dù anh dũng quyết chiến nhưng cuối cùng toàn bộ cánh quân bị giết sạch, Lý Quảng bị thương nặng và bị bắt làm tù binh. Vì bị thương nên quân địch không trói Lý Quảng, chỉ cho ông lên một cái lưới, treo giữa hai con ngựa và đưa đi. Lý Quảng biết rằng một khi đã vào trong doanh trại địch thì không còn cửa nào mà thoát nổi. Thế là ông giả chết nằm im bất động. Lính địch cho rằng ông bị thương nặng sắp chết mới lơ là cảnh giác. Đột nhiên, Lý Quảng vùng dậy, nhảy lên ngựa của một tên lính, cướp lấy cung tên và nhanh chóng tẩu thoát.

3. Tào Tháo giả chết tấn công Bộc Dương

Tào Tháo sau khi phá vòng vây ở Bộc Dương, hận Lã Bố tận xương tuỷ, thề rằng nhất định sẽ rửa mối thù này. Một hôm, Tháo sai bọn lính đi truyền tin rằng Tào Tháo bị cháy ở trong thành, bị thương rất nghiêm trọng. Nửa đêm, lại sai mấy tay đánh trống thổi kèn, cho thổi những bản nhạc tế lễ để tỏ rằng Tào Tháo bị thương nặng đã chết. Lã Bố trong thành nghe thấy tiếng nhạc, lại nghe thám báo về báo cáo, cho rằng Tào Tháo đã chết thật, lập tức phát động toàn quân tấn công quân Tào. Không ngờ, khi quân Lã Bố đi tới đường Mã Lăng thì quân Tào từ bốn phương tám hướng xông ra chém giết, Lã Bố kinh hoảng không biết cách nào ứng phó bèn liều chết nghênh chiến, khó khăn lắm mới thoát khỏi vòng vây thì quân sĩ đã tổn thất quá nửa, Lã Bố chỉ còn biết dẫn đám tàn quân rút về thành Bộc Dương.

4. Tư Mã Ý giả bệnh đoạt quyền

Năm thứ ba đời Tào Ngụy, Ngụy Minh đế chết, con là Tề vương Tào Phương kế vị. Theo di chúc của Minh đế, đại tướng quân Tào Sảng và Thái uý Tư Mã Ý cùng phò chính Tề vương Tào Phương.

Lúc mới đầu, vì Tư Mã Ý đức cao vọng trọng, lại là tiền bối của mình nên mỗi khi có đại sự quân quốc, Tào Sảng không dám tự mình quyết định mà đều do Tư Mã Ý quyết đoán, về sau, Tào Sảng để mở rộng thế lực của mình, mới chiêu nạp một số người làm tâm phúc, bề ngoài thì tâng bốc Tư Mã Ý nhưng trong lòng thì ngấm ngầm chống lại. Trước tình hình như vậy, Tư Mã Ý nhất thời không có cách nào. Mặc dù theo di chiếu của Minh đế, Tư Mã Ý được cùng Tào Sảng phò chính, nhưng rốt cục Tào Sảng là quý tộc tôn thất, còn Ý thì chỉ là họ xa với Hoàng thượng, binh quyền Thái uý lại bị cướp mất, trở thành một Thái phó hữu danh vô thực, không có cách nào mà tranh giành với Tào Sảng. Thế là Tư Mã Ý lấy cớ có bệnh rút lui ở ẩn, để tránh mũi tấn công của Tào Sảng.

Tư Mã Ý không xuất đầu lộ diện nữa, đã trúng ý của Tào Sảng, ông ta tỏ ra rất hài lòng. Thế nhưng, bản thân Tào Sảng không thể quên được sự tồn tại của Tư Mã Ý. Không lâu sau, tâm phúc của Tào Sảng là Lý Thắng đi nhậm chức thứ sử Kinh Châu, Tào Sảng bèn bảo ông ta tới cáo từ Tư Mã Ý, nhân cơ hội này để thám thính động tĩnh của Tư Mã Ý.

Tư Mã Ý đã biết được dụng ý của Lý Thắng, mới vờ cho hai hầu gái đỡ mình ngồi trên giường để tiếp chuyện Lý Thắng. Ông ta cố ý dùng tay tự lấy quần áo và để rơi quần áo trên đất, lại kêu khát với tiện nữ, tiện nữ bưng lên một bát cháo, Tư Mã Ý húp cháo, cố ý để cho nước cháo chảy ra miệng, rớt cả xuống ngực.

Trông thấy bộ dạng ốm yếu như vậy của Tư Mã Ý, Lý Thắng vờ khóc mà nói rằng: “nay chúa thượng vẫn còn nhỏ tuổi, thiên hạ đều trông cậy vào minh công, trước đây mọi người chỉ nghe nói rằng ngài bệnh nặng tái phát, nào ngờ lại nghiêm trọng đến vậy”. Lúc này, Tư Mã Ý mới thở dài, nói: “Tôi thân già nhiều bệnh, chẳng còn sống được bao lâu nữa, nay ông đi làm quan ở Tịnh Châu, Tịnh Châu cách đất người Hồ chẳng bao xa, mong ông cố giữ, e rằng sau này sẽ không còn gặp lại mặt nhau”.

Lý Thắng vội sửa lại: “Tôi đi nhậm chức ở Kinh Châu, chứ không phải là Tịnh Châu”. Tư Mã Ý lại vờ không nghe rõ: “Ông sắp đi Tịnh Châu hả, hãy gắng bảo trọng nhé”. Lúc này Lý Thắng tỏ ra khó chịu, nói: “Tôi đi Kinh Châu, không phải đi Tịnh Châu”. Lúc này, Tư Mã Ý mới vờ chợt hiểu ra, nói: “Vậy là ông đi làm thứ sử Kinh Châu hả, gắng bảo trọng, xin cáo biệt ông, e rằng sau sẽ không có ngày gặp lại”.

Rồi Tư Mã Ý cho gọi hai con trai là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu vào, cho chúng kết làm bằng hữu với Lý Thắng, khẩn cầu Lý Thắng sau khi mình chết sẽ quan tâm nhiều hơn đến hai con trai mình, nói rồi Tư Mã Ý lại lên cơn ho khù khụ. Thực ra, lúc này, sức khỏe của Tư Mã Ý rất tốt, ông ta vờ bệnh yếu u mê để lừa Lý Thắng.

Ra khỏi nhà Tư Mã Ý, Lý Thắng tới gặp Tào Sảng, mở cờ trong bụng nói: “Thái phó nhầm lẫn quá rồi, giọng thì run run, chỉ nam thành bắc, khẳng định là không còn sống được bao lâu nữa”. Từ đó, Tào Sảng không để ý tới Tư Mã Ý nữa, lại càng lộng quyền vô độ. Ông ta không ngờ rằng đã trúng quỷ kế của họ Tư Mã.

Tư Mã Ý giả bệnh lừa anh em họ Tào, họ càng mặc sức làm càn, không còn kiêng nể gì nữa, vì cho rằng dù sao thì Tư Mã Ý cũng không sống nổi bao lâu. Đâu ngờ Tư Mã Ý đang tìm cơ hội.

Cuối năm đó, ấu chúa Tào Phương theo lệ đến Cao Bình Lăng để tế lễ tổ tiên, anh em Tào Sảng đều phò giá. Tư Mã Ý lập tức bố trí binh mã trong thành, trước tiên chiếm cứ kho vũ khí, khống chế đô thành. Sau đó, đóng quân ở bờ sông Lạc Thủy, sai người đi đưa tin cho bọn Tào Sảng, kể tội họ rồi tuyên bố lệnh cách chức, lệnh phải về nhà ngay. Anh em Tào Sảng về tới dinh thự của mình thì Tư Mã Ý phái 800 người xây dựng tường cao xung quanh nhà Tào, bố trí người quan sát mọi hành động của Tào Sảng. Anh em Tào Sảng không biết Tư Mã Ý dự định làm gì, bèn viết một bức thư cho Tư Mã Ý, nói rằng trong nhà đã hết lương thực, xin cứu tế cho một ít. Tư Mã Ý nhận thư lập tức lệnh cho người đem đến 100 đấu gạo, lại còn cho thêm muối, thịt, đậu… anh em Tào Sảng thấy được Tư Mã Ý đáp ứng như vậy lại vui vẻ trở lại, cho rằng mình đã được miễn tội.

Tào Sảng lại một lần mắc lừa Tư Mã Ý. Trong thời gian này, Tư Mã Ý ở trong triều đang trừ khử dần bè đảng của Tào Sảng. Không lâu sau, hạ lệnh bắt anh em Tào Sảng vào ngục, lấy tội danh mưu phản, diệt sạch. Thế là, cuộc tranh giành quyền lực giữa Tư Mã Ý và anh em họ Tào đã kết thúc với thắng lợi của dòng họ Tư Mã.

5. Chu Đệ giả bệnh khởi nghĩa

Sau khi Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương chết, vì Hoàng thái tử Chu Tiêu chết sớm nên cháu trưởng kế vị là Huệ đế, đổi niên hiệu là Kiến Văn, tức Kiến Văn Hoàng đế. Mặc dù tuổi nhỏ, nhưng Kiến Văn tinh nhanh, ông biết rõ môi trường của mình, dưới sự uy hiếp của hơn mười người chú, địa vị luôn ở vào thế dao động, bất ổn. Để tránh cho quyền lực Hoàng đế bị khống chế, dưới sự bày mưu tính kế của Hoàng tử Trừng, Huệ đế đã thực hiện một cuộc đại thanh trừ, thực hiện tiêu diệt, lật đổ đối với toàn bộ những người chú còn lại. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm, người thì cho đi đày, người thì đem giết, từng bước loại bỏ các thế lực có uy hiếp đối với Hoàng triều, chỉ còn Ninh vương và Yến vương, vì môi trường đặc biệt, nên Huệ đế chưa dám hạ thủ.

Yến vương Chu Đệ thấy các anh em mình đều lần lượt bị lật đổ, biết rằng trước sau rồi cũng đến lượt mình, thà rằng hành động trước còn hơn là chờ chết. Quân sư của ông là Đạo Diễn khuyên ông nên chờ thời cơ vì quân bị chưa đủ, thời cơ chưa chín, vì vậy mà tạm thời nhẫn chịu, bí mật luyện binh, chuẩn bị hành sự.

Có một lần, theo lệ thường, Yến vương phái một thân tín là Cát Thành vào kinh tấu sự, gặp Kiến Văn đế, Kiến Văn đế có ý thu phục Cát Thành, mới cho gọi ông ta vào cung riêng, nói: “Nếu như ông có thể kịp thời báo cáo với ta mọi tình hình hoạt động của Yến vương, thì ta sẽ phong ông làm công khanh”. Cát Thành nói: “Được hưởng lộc của Hoàng thượng, được lo cái lo của Hoàng thượng thì thần nguyện đem sức trâu ngựa này dâng Hoàng thượng, lần này về sẽ bí mật theo dõi mọi hành động của Yến vương, làm nội ứng cho Bệ hạ”.

Sau khi về đến Yến kinh, Cát Thành giục Yến vương nên nhập kinh gặp Hoàng đế để xóa bỏ mọi hiềm nghi, thực ra đây là kế lùa dê tới miệng hổ. Yến vương lại bàn với Đạo Diễn, Đạo Diễn ngăn lại, Yến vương nói: “Lúc này ta có vào thì hắn cũng chẳng có cớ để mà làm gì được”. Vì vậy, nhất định vào kinh, quả nhiên có người xui Kiến Văn đế bắt giữ ông ta lại, nhưng Kiến Văn đế còn do dự, nhất thời không tìm ra cớ gì, thế là một tháng sau lại cho Yến vương về Yến kinh.

Yến vương rất tinh, ông biết rõ tình cảnh nguy hiểm của mình, mới dùng kế vừa về đến Yến kinh, ông liền giả bệnh, bệnh rất nặng. Mục đích để triều đình không còn nghi ngờ ông sẽ có mưu đồ chính biến gì.

Mặc dù để cho Yến vương trở về, nhưng Kiến Văn đế vẫn luôn luôn phòng bị, hoàn toàn không vì ông ta “bệnh nặng” mà lơi lỏng. Dùng kế điệu hổ ly sơn, lấy cớ là phòng vệ biên giới, điều một bộ phận quân đội của Yến vương rời khỏi Yến kinh, phái thân tín Công bộ Thị lang là Trương Bính làm Bố chính sứ Yến kinh (quan hành chính), Tạ Quý làm Đô chỉ huy (tư lệnh quân đội), nắm giữ toàn quyền văn võ, lại tạo cớ giết hai bộ tướng đắc lực của Yến vương là Vu Lương và Chu Đạc, tội danh là âm mưu phản loạn.

Yến vương thấy những trò bịp bợm chém giết này đều có nguyên do từ bản thân mình, để bảo toàn tính mệnh mới giả điên, trốn ra ngoài Vương phủ, cả ngày lang thang trên đường, nói những lời điên dại, thấy đồ là cướp, hệt như một kẻ cuồng dại. Một lần, ông đi mấy ngày không về, người nhà đi tìm khắp nơi thì thấy ông đang ngủ trong một vũng bùn, dìu ông ta dậy, ông còn mắng: “Ta đang ngủ trên giường, cớ sao lại lôi ta dậy?”

Trương Bính và Tạ Quý biết, bèn vào cung thăm bệnh, xem sự thể ra sao. Hôm đó là ngày trời nắng nóng, nhưng thấy Yến vương mặc áo bông, ngồi bên cạnh bếp lò, toàn thân còn run lẩy bẩy, răng va vào nhau lập cập, còn lẩm bẩm kêu rằng trời quá lạnh.

Họ cho rằng Yến vương bệnh thật, thế là phòng bị đã có phần lơi lỏng, nhưng Cát Thành thì cho rằng Yến vương không có bệnh, đó chỉ là giả điên vờ bệnh mà thôi.

Trương Bính mới vội báo về triều, Kiến Văn đế lập tức hành động, bí mật lệnh cho Tư lệnh quân canh phòng là Trương Tín hạ thủ Yến vương. Trương Tín trước đó là thân tín của Yến vương. Nhận được lệnh mật, do dự buồn bã không quyết, mẹ của ông ta thấy tình hình như vậy mới hỏi rõ ngọn ngành, khuyên ông ta nên uống nước nhớ nguồn, không thể vong ân phụ nghĩa, thế là Trương Tín cứ kéo dài việc hành sự.

Kiến Văn đế thấy lâu rồi vẫn không có động tĩnh gì, lại hạ mật chỉ thúc Trương Tín, Trương Tín giận dữ nói: “Triều đình sao lại có thể bức người thái quá vậy?”, rồi quyết định đi gặp Yến vương. Lính canh cửa không cho vào, Trương Tín quát lớn: “Chúng mày hãy vào báo rằng có ta là Trương Mỗ có việc gấp cầu kiến”.

Yến vương chiêu kiến Trương Tín, nhưng vẫn nằm trên giường, không nói một lời. Tả hữu nói: “Điện hạ đang mắc bệnh điên”. Trương Tín đã biết rõ sự thực, mới nói: “Điện hạ không cần phải làm như vậy, có việc gì thì hãy nói thẳng với lão thần, không phải ngần ngại”. Yến vương nhìn thần khí ông ta một lượt, thấy không có ác ý, mới nói: “Trận bệnh này thảm quá, đã mấy tháng rồi”. Trương Tín thấy ông ta vẫn không chịu nói rõ sự thực, mới chảy nước mắt, thẳng thắn nói với Yến vương: “Điện hạ, sự việc đã đến mức này vẫn còn không thật lòng với thần, đại họa sắp giáng xuống đầu rồi”. Rồi lấy ra mật chỉ của Kiến Văn đế, nói: “Triều đình lệnh cho tôi đi bắt Điện hạ, nếu như Điện hạ có trăn trở gì thì hãy nói thẳng với tôi để mọi người cùng nghĩ cách, nếu không thì cá đã trên thớt, người ta băm chém lúc nào không biết”.

Yến vương thấy tình hình đã vậy, vội xuống giường, khấu tạ Trương Tín, và cho gọi ngay Quân sư Đạo Diễn vào phòng, bàn bạc kế hoạch cứu nguy. Sau một hồi bàn bạc, họ thỏa thuận, Trương Tín sẽ tăng cường quân cho vương cung, nói là để canh phòng nghiêm mật hơn, thực tế là bảo toàn tính mệnh cho Yến vương, và tiếp đó từng bước định kế trừ khử Trương Bính và Tạ Quý.

Tình thế đã rất nguy cấp, để bảo vệ an toàn cho người đồng đảng, Trương Tín bí mật hạ lệnh bắt toàn bộ bộ tướng của Yến vương, nói rằng có nghi ngờ tạo phản, áp giải tới triều đình xử quyết. Ông lại bí mật phái các binh sĩ cường tráng mai phục ở hai bên đông điện và ngoài cửa cung, bí mật giám sát. Ngày hôm sau, nói rằng bệnh của Yến vương đã khỏi, muốn chiêu kiến Trương Bính và Tạ Quý, bàn bạc nên áp giải bọn tướng lĩnh âm mưu tạo phản này vào triều đình như thế nào.

Mặc dù Trương, Tạ không có nghi ngờ gì, nhưng cũng có phòng bị, dẫn theo rất nhiều vệ binh. Đến Lễ Đoan môn, Yến vương chống gậy đón họ vào, vệ đội bị ngăn lại ngoài cửa. Yến tiệc được bày ra, không khí vui vẻ, tả hữu mang ra mấy quả dưa, tất cả đều ăn, Yến vương đột nhiên kêu đau bụng, ngừng ăn, đứng lên tức giận nói: “Nghĩ tới tình cảnh ta hiện nay, có cái ăn mà không nuốt nổi, ta thân làm Thúc phụ Hoàng đế mà lại phải sống khốn khổ qua ngày, nay Hoàng đế đối đãi với ta như vậy, thì quốc gia còn hy vọng gì nữa”. Nói rồi ném miếng dưa xuống đất.

Thì ra đó là một ám hiệu, binh sĩ mai phục hai bên vừa trông thấy lập tức xông ra, chém giết hết bọn Trương Bính, Tạ Quý, rồi lại lôi Cát Thành đến, đem xử chém hết cả và mang ra thị chúng. Tiếp đó ông lập tức tuyên bố dấy binh khởi nghĩa, tiến quân về Nam Kinh, không lâu sau công phá hoàn thành, bức Kiến Văn đế phải xuống tóc đi tu, rồi hóa trang trốn ra nước ngoài. Yến vương cướp ngôi vua, trở thành Minh Thành tổ.

6. Thủ Việt giả bệnh bắt sống tướng phản loạn An Hóa vương

Năm thứ năm, đời Minh Chính Đức, An Hóa vương làm phản, đại tướng Thù Việt cũng nằm trong sào huyệt của bọn phản tặc. Ở kinh đô truyền tin rằng Thù Việt đã theo giặc, còn Bảo Huân làm ngoại ứng cho họ. Lý Văn Chính nói: “Ta tin là Thù Việt nhất định không thể theo giặc, còn Bảo Huân vì có quan hệ nhân duyên với An Hóa vương nên bị hoài nghi. Nếu vậy thì những người trước đây có chút quan hệ với An Hóa vương đều sẽ sợ hãi mà không dám quy chính nữa”.

Lý Văn Chính dứt khoát đề cử Bảo Huân làm Tham tướng, Thù Việt làm Phó quan, cùng thảo phạt Vương tặc. Bảo Huân cảm kích ân huệ, nên chiến đấu càng dũng cảm hơn. Khi đó Thù Việt xưng bệnh, ẩn trong doanh trại địch, ngầm hẹn với một số du binh, tráng sĩ trung thành đợi Bảo Huân đến, quyết định khi quân Bảo Huân đến sống, họ sẽ lập tức nổi dậy làm nội ứng. Mặt khác, Thù Việt phái người đi báo cáo với Vương đảng Hà Cẩm, bảo ông ta mau phái quân canh phòng Độ Khẩu để phòng Bảo Huân sẽ nghênh chiến. Hà Cẩm được tin, quả nhiên dẫn quân ra khỏi thành, chỉ để lại Chu Ngang giữ thành. Thù Việt lại giả xưng bệnh nặng, Chu Ngang đến thăm, Thù Việt nằm bẹp trên giường, chỉ nôn oẹ, nói rằng mình sớm muộn cũng sẽ chết, nhân lúc Chu Ngang hoàn toàn không cảnh giác, vệ binh bất ngờ dùng chuỳ đánh chết Chu Ngang, sau đó chém đầu.

Thù Việt lập tức mặc áo giáp, đeo cung kiếm, nhảy lên ngựa, xông ra cửa, dũng cảm đánh trận. Cuối cùng bắt sống được An Hóa vương.

7. Dương Hành Mật giả bệnh để trừ phản tướng

Thời Ngũ đại Thập quốc, Chu Diên Thọ, An Nhân Nghĩa đều là tướng lĩnh của Ngô vương Dương Hành Mật. Sau khi bình định Hoài Từ, hai người đều vô cùng kiêu ngạo bạo ngược và có âm mưu phản loạn. Ngô vương Dương Hành Mật muốn trừ khử bọn họ.

Dương giả nói rằng mắt có bệnh, mỗi khi tiếp đãi sứ giả của Chu Diên Thọ đều giả nhìn nhầm tất cả mọi thứ, lúc đi lại thì cố ý va vào cột, vào đồ vật, đến nỗi ngã lăn ra đất. Chu phu nhân đỡ ông ta dậy, lâu lắm ông mới tỉnh lại được. Dương Hành Mật khóc mà nói rằng: “Đại nghiệp của ta đã thành mà hai mắt lại mờ lòa, đó là trời hại ta. Con trai ta đều không đủ điều kiện để kế thừa đại nghiệp, nếu như có thể để cho Chu Diên Thọ kế vị thì ta cũng không hối hận gì”. Chu phu nhân mới cho gọi Chu Diên Thọ đến. Khi Chu Diên Thọ vừa bước vào cửa, Dương Hành Mật liền sai người đâm chết ông ta, sau đó ra lệnh đem chém đầu An Nhân Nghĩa. Một âm mưu phản loạn bị đập tan.

KẾ THỨ HAI MƯƠI HAI:

VIỄN TẨU CAO PHI

Xa chạy cao bay

A. Nguồn gốc:

“Hậu Hán thư. Trác Mậu truyện”, chép: Thời Đông Hán, ở vùng Nam Dương có người tên gọi là Trác Mậu. Người này khoan dung, phúc hậu, nhân từ. Khi ông làm Huyện lệnh huyện Mật ông luôn làm việc thiện, miệng không nói lời ác, dạy thuộc hạ đối đãi với mọi người như đối đãi với người thân của mình. Vì vậy, thuộc hạ đều vô cùng tôn kính ông, không dám làm điều dối trá.

Một hôm có người đến tố cáo một Đình trưởng, thuộc hạ của ông, nói rằng tên Đình trưởng này đã lấy thóc gạo, thịt mà người này đem đến. Trác Mậu nói: “Là Đình trưởng yêu cầu anh phải làm vậy, hay là vì anh có việc muốn ông ta giúp đỡ nên đem biếu? Hay là anh chủ động đem biếu ông ta”. Người tố cáo đáp: “Tôi chủ động đem biếu ông ta”. Trác Mậu lại hỏi: “Đã vậy thì sao anh lại đi cáo ông ta?” “Tôi chủ động đem lễ vật đến cho ông ta vì sợ ông ta”. Trác Mậu giảng giải cho anh ta: “Mọi người sống cùng nhau, biếu nhau một chút lễ vật là chuyện thường tình. Anh lại không muốn như vậy, chẳng lẽ anh lại có thể rời bỏ nơi này, đến một nơi rất xa hay sao, thậm chí rời bỏ thế gian này. (Nguyên văn là: “Đương độc bất dục tu chi, ninh năng cao phi viễn tẩu, bất xuất nhân gian tà? “). Nhờ sự giảng giải của Trác Mậu, người này mới thật lòng cảm phục mà ra về.

Mọi người dẫn dụng thành ngữ “Cao chạy xa bay” để tỷ dụ rời nơi cũ, đến một nơi mới thật xa xôi. Cũng dùng với nghĩa dẫn thân để tỷ dụ thoát khỏi cảnh khốn quẫn, tìm đường thoát thân.

B. Chú bình:

Ở vào thế yếu, hoàn cảnh không thuận lợi, hơn nữa nhất thời lại khó xoay chuyển thế cục, thì cao chạy xa bay là một sự lựa chọn tốt hơn cả để thoát khỏi khốn quẫn, tìm lối thoát, hoặc biến nguy thành an. Còn chồi thì nẩy cây, chỉ cần bảo toàn tính mệnh, giữ được vốn liếng thì trước sau cũng sẽ có cơ hội khôi phục vị thế cũ. Đốm lửa nhỏ có thể thiêu trụi cánh đồng; có một ít vốn liếng luôn hơn kẻ không xu dính túi, từ đây có thể kinh doanh nhỏ lẻ trước, đến khi kinh doanh buôn bán phát đạt rồi, biết đâu lại chẳng thành tỷ phú. Không nên tính đến cái lợi trước mắt, cái cục bộ, tạm thời, mọi việc nên tính kế lâu dài. Cho nên, xa chạy cao bay khi mình đang ở vào thế yếu thì mặc dù con đường vòng vo, ngoằn ngoèo, nhưng tiền đồ sán lạn.

C. Dẫn truyện:

1. Kế thoát thân của Mạnh Thường quân

Tần vương nghe nói Mạnh Thường quân nước Tề là người đức độ tài năng, bèn phái em trai mình là Kinh Dương quân tới nước Tề làm con tin, mời Mạnh Thường quân đến nước Tần, phò trợ Tần vương trị nước. Mạnh Thường quân đến nước Tần, Tần vương phong ông làm Thừa tướng.

Có người nói với Tần vương: “Mạnh Thường quân làm Thừa tướng nước Tần, nhưng là người nước Tề tất sẽ tính toán cho nước Tề trước, rồi sau mới tính cho nước Tần, như vậy chẳng phải là rất nguy hiểm cho nước Tần hay sao?”. Tần vương nghe có lý, bèn phong Lâu Hoãn làm Thừa tướng, cho bắt Mạnh Thường quân lại, dự định sẽ giết ông ta. Mạnh Thường quân sai người tới thỉnh cầu ái thiếp của Tần vương giải cứu, người thiếp này nói: “Tôi muốn có được chiếc áo lông cáo trắng của Mạnh Thường quân”. Đúng là Mạnh Thường quân có một chiếc áo lông cáo trắng, nhưng đã tặng cho Tần vương rồi, không có cái khác đáp ứng yêu cầu của ái thiếp Tần vương. Mạnh Thường quân bèn cho một môn khách giỏi ăn cắp đột nhập vào nơi Tần vương cất giữ bảo vật, lấy cắp chiếc áo lông cáo trắng, tặng cho người thiếp của Tần vương. Người thiếp này dùng lời lẽ dễ nghe thuyết phục Tần vương, thế là Tần vương cho thả Mạnh Thường quân. Thế nhưng, Tần vương vừa thả Mạnh Thường quân thì lập tức hối hận, phái người truy đuổi ông. Mạnh Thường quân chạy tới cửa quan, cửa quan quy định hàng ngày mỗi khi nghe thấy tiếng gà gáy mới mở cho khách qua lại. Lúc đó vẫn còn sớm, cửa quan vẫn chưa mở, người Tần vương sai đuổi theo Mạnh Thường quân đã sắp tới nơi. Trong số môn khách của Mạnh Thường quân có người rất giỏi bắt chước tiếng gà gáy. Ông ta vừa cất tiếng gáy thì gà bốn phía đều đồng loạt gáy theo, thế là lính gác mở cửa. Mạnh Thường quân thoát hiểm chạy về nước Tề.

2. Thư tuyệt mệnh bên sông Tiền Đường của Vương Dương Minh

Vương Thủ Nhân triều Minh (tức Dương Minh tiên sinh như các học giả đời sau thường gọi), khi ông làm Binh bộ chủ sự, đã tâu với Võ tông, chỉ thẳng tội trạng của hoạn quan Lưu Cẩn. Võ tông giận, sai đánh ông 50 gậy, rồi còn giáng chức làm Long Trường dịch (trạm dịch) ở Quý Châu. Long Trường dịch cách kinh đô hàng ngàn dặm, là nơi hoang vắng heo hút, người ít núi nhiều, Vương Thủ Nhân phụng chiếu, không dám chống lệnh, bèn vội vã khởi hành.

Đi tới gần sông Tiền Đường Triết Giang, nô bộc của ông đến mật báo rằng Lưu Cẩn đã phái người đuổi theo, nửa đường sẽ giết chết ông, nhắc ông hãy cẩn thận phòng bị.

Vương Thủ Nhân nói: “Không cần phải lo lắng lắm, ta nghĩ Lưu Cẩn chắc không đến nỗi làm vậy”.

Mặc dù miệng ông nói vậy, nhưng trong lòng đã sớm có dự tính.

Sáng hôm sau, người nô bộc dậy sớm, phát hiện Vương Thủ Nhân đã mất tích đâu, tìm thấy ở dưới gối có một tờ giấy, viết một bài thơ tuyệt mệnh. Biết rằng chủ nhân nhất định đã nhảy xuống sông tự tử, vội vàng đuổi tới bên sông, chỉ thấy trên mặt sông nổi lên áo mũ, lệnh cho người vớt lên xem, quả nhiên là đồ của Vương Thủ Nhân, người nô bộc khóc thảm thiết, khiến cho người xa gần đều tin rằng Vương Thủ Nhân đã chết. Một tâm phúc của Lưu Cẩn chịu trách nhiệm thích sát nghe thấy tin này, đến kiểm tra những thứ đồ Vương Thủ Nhân còn lưu lại, vội về báo cáo.

Thế nhưng, đây chính là kế cao chạy xa bay của Vương Thủ Nhân, ông đã bố trí sự việc như vậy, che mắt, bịt tai người đời, khiến cho người khác đều tin rằng ông đã nhảy xuống sông tự vẫn, còn mình thì cải trang và chạy tới Võ Di sơn tỉnh Phúc Kiến ẩn cư. Một thời gian sau mới bí mật tới Long Trường dịch ở Quý Châu.

3. Chuyến đi đầy nguy hiểm của Nhiệm Bật Thời

Mùa xuân năm 1921, Nhiệm Bật Thời, Lưu Thiếu Kỳ, Tiêu Kình Quang, và Tào Tịnh Hoa mang hộ chiếu doanh nhân, xuất phát từ một bến cảng Thượng Hải tới một bến cảng nước Nga rồi đón xe lửa đi Matxcơva. Lúc đó, ở nước Nga, nội chiến vẫn chưa kết thúc, bọn phỉ trắng trốn tới khu vực Sibêri câu kết với đế quốc Nhật Bản, thiết lập các trạm kiểm soát, kiểm tra và bắt những người cộng sản và những người cách mạng khác, thêm vào đó vùng bến cảng này của nước Nga khi đó đang có bệnh dịch hạch, vì vậy, chuyến đi của nhóm Nhiệm Bật Thời rất nguy hiểm.

Khi xe lửa đi qua vùng “giao giới đỏ trắng” thì bị quân phỉ trắng chặn lại, toàn bộ hành khách bị đuổi xuống xe kiểm tra. Một tên sĩ quan phỉ chỉ Nhiệm Bật Thời nói: “Thằng nhóc này sắc da khác lạ, kiểm tra nó trước, xem nó làm gì”. Một cánh tay của Nhiệm Bật Thời bị tên lính phỉ tóm lấy, ông biết rằng tình hình đã xấu đi, để đối phó với sự kiểm tra bèn đẩy chiếc hòm gỗ sứt mẻ mang theo ra, bọn lính phỉ kiểm tra thấy trong hòm chỉ toàn dụng cụ cắt tóc, tên sĩ quan phỉ lệnh giam Nhiệm Bật Thời vào một căn phòng nhỏ ngoài có tấm biển gỗ ghi “Phòng giam những kẻ mắc dịch hạch”, còn những hành khách khác sau khi bị tra hỏi, được bọn lính phỉ tha và chuyến xe lửa tiếp tục đi về phía tây, trong đó có Lưu Thiếu Kỳ, Tiêu Kình Quang.

Ngày hôm sau, tên sĩ quan dẫn theo mấy tên lính phỉ và một tên bác sĩ đến phòng giam tra hỏi Nhiệm Bật Thời, Nhiệm Bật Thời một mực rằng mình là thợ cắt tóc, tới Nga kiếm sống, bọn chúng kiểm tra hộ chiếu và hành lý, không phát hiện thấy điều gì khả nghi, bèn cho kiểm tra sức khỏe Nhiệm Bật Thời, tên bác sĩ đưa cho ông một chiếc nhiệt kế, điều này khiến Nhiệm Bật Thời thấy lo lắng, vì ông đang bị cảm, nếu bị phát hiện thấy nhiệt độ cơ thể cao, ông sẽ bị kết là mắc bệnh dịch hạch mà bị xử chết. Tên bác sĩ lấy ra từ trong hộp chiếc nhiệt kế đưa cho Nhiệm Bật Thời, rất nhanh trí, ông đưa chiếc nhiệt kế vào nách và bí mật để cho phần quả cầu thủy ngân nằm ở ngoài. Mấy phút sau, bác sĩ nhận lại nhiệt kế xem, nhiệt độ bình thường, mới nói với tên sĩ quan phỉ “Tên này không mắc dịch hạch”. Nhiệm Bật Thời được thả. Lúc này, ông như con chim lạc đàn, không biết đường đi, trong người lại chỉ còn một ít tiền, nhưng ông biết rằng chỉ cần men theo tuyến đường sắt đi thẳng là có thể đến được Matxcơva, và phải đi, đi nhanh khỏi vùng này. Thế là ông đi thẳng một mạch, nhanh chóng thoát khỏi vùng nguy hiểm, hai ngày sau ông gặp lại Lưu Thiếu Kỳ, Tiêu Kình Quang.

4. Diệp Đĩnh rải tiền để thoát hiểm

Năm 1922, Diệp Đĩnh làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn hai cảnh vệ của Tôn Trung Sơn. Tên quân phiệt phản động Trần Quýnh Minh phản bội, khi chúng nã pháo vào phủ Tổng thống, Diệp Đĩnh trước tiên bảo vệ cho Tôn Trung Sơn thoát hiểm, lánh nạn tới Hoàng Phố. Sau đó, ông lại trở về phủ Tổng thống tiếp tục chỉ huy chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của bọn phản loạn, nhưng do lực lượng ít, Tiểu đoàn hai buộc phải rút lui. Diệp Đĩnh tự mình chặn hậu để yểm hộ cho bộ đội phá vây. Khi họ rút tới một bức tường chắn thì gặp phải sự tấn công mãnh liệt của địch, địch điên cuồng đuổi theo, tình thế vô cùng nguy hiểm. Vào lúc ngàn cân treo sợi tóc này, Diệp Đĩnh nhanh trí mở chiếc hòm tiền bạc rồi tung cả ra đất, bọn lính đuổi theo thấy tiền bạc lấp lánh hoa mắt dưới đất vội tranh nhau nhặt, không rượt đuổi nữa, Diệp Đĩnh và đoàn quân nhanh chóng thoát hiểm.

5. Trần Nghị dẫn quân theo đường lớn thoát khỏi vòng vây địch

Mùa đông năm 1935, Trần Nghị dẫn cơ quan Đặc ủy Đảng cộng sản và một trung đội hoạt động ở một vùng Du Sơn huyện Tín Phong - Giang Tây. Một hôm, Cung Sở đã từng làm Tham mưu trưởng Hồng quân phản bội, đầu hàng giặc và cùng một tên phản bội khác dẫn một nhóm địch giả trang thành đội du kích Hồng quân, vây quét khu vực đóng quân của Trần Nghị. Lúc đó, vì các tổ chức Đảng ở những khu trắng bị lùng quét nghiêm trọng, nên cơ quan Đặc ủy vẫn chưa biết tình hình phản bội của Cung Sở. Địch lợi dụng điểm này, để cho những kẻ phản bội dẫn theo hơn ba chục tên dẫn đường phía trước, còn đoàn quân lớn thì theo sau, hòng tiêu diệt sạch cơ quan Đặc ủy và các đội du kích.

Đúng lúc này, nhân viên cơ quan Đặc ủy Hồ Tiểu Hoa đi ra ngoài trở về thì thấy Cung Sở dẫn theo một đám người lạ có vũ trang mò lên núi, cảm thấy rất nghi ngờ mới ra đón đường hỏi. Qua ngôn ngữ và quan sát phát hiện thấy đám người này có rất nhiều khe hở, Tiểu Hồ hiểu ngay đây là bọn người nào, anh nhanh trí ngăn Cung Sở lại và nói: “Tham mưu trưởng, lâu rồi ông mới tới, hãy để tôi đi báo trước cho tiêu binh để tránh hiểu lầm sẽ bắn phải người của ta”.

Nói rồi, Tiểu Hồ vội chạy lên núi, nói với tiêu binh: “Mau, mau thông báo cho Đặc ủy phía dưới có bọn phản động đang mò lên”. Tiêu binh lập tức nổ súng cảnh cáo, cơ quan Đặc ủy biết được, vội di chuyển về hướng Mai Quan. Thế nhưng, tiếng súng cũng khiến các đội quân địch từ bốn phía vây lại. Ta nên thoát ra lối nào, nhất thời không thể biết. Trước tình hình phức tạp này, Trần Nghị bình tĩnh nói: “Địch đến nhiều như vậy, rõ ràng là đã có chuẩn bị, chúng quyết không để chúng ta thoát một cách dễ dàng. Chúng ta chỉ có hơn hai mươi người, không nắm rõ được tình hình thì không để manh động mà lên đường được”. Thế là, họ ẩn nấp ở khu vực cách Mai Quan 40 dặm, phái mấy trinh sát viên xuống núi dò xét tình hình.

Căn cứ vào nguồn tin trinh sát biết được, địch đã bố trí canh phòng tầng tầng lớp lớp ở các con đường chính vùng Du Sơn, đang chuẩn bị vây quét. Trần Nghị nghe báo cáo, suy nghĩ một lúc, đột nhiên mắt sáng lên, cười nói với mọi người: “Với bọn địch thì đội du kích chúng ta quen đi ở những vùng núi hoang, đường nhỏ, vì vậy, binh lực chính chúng sẽ tăng cường ở những vùng như vậy. Lần này ta cứ việc đi đường lớn, khiến chúng không thể ngờ tới”. Ông nói ra những ý định của mình, tất cả đều vỗ tay khen ngợi.

Đêm đó, đợi trời tối, Trần Nghị tổ chức cho các đội viên du kích đốt đuốc trên con đường này, rồi nổ mấy phát súng trên đỉnh núi, khiến cho quân địch cũng đốt đuốc, lùng sục khắp núi, đặc biệt không bỏ qua các con đường nhỏ trên núi.

Trần Nghị thấy thời cơ đã đến, bèn dẫn mọi người lặng lẽ rút xuống núi, lợi dụng cơ hội địch lơi lỏng cảnh giới ở đường lớn, qua Mai Quan một cách thuận lợi trên con đường lớn cách khu địch trú không đến hai dặm.

6. Chu Đức giả làm “đầu bếp” thoát hiểm

Sau khi khởi nghĩa Nam Xương thất bại tháng 8 năm 1927, Chu Đức dẫn theo một đội quân hoạt động ở khu vực núi Gia Quảng. Một buổi chiều, đội quân trú chân trong một ngôi đền ở một thôn nọ, vì sơ ý nên bị một tốp thổ phỉ tấn công.

Lúc đó, Chu Đức đang nghỉ ở một gian nhà nhỏ phía sau nhà thờ, khi nghe thấy tiếng bước chân chạy thì địch đã xông vào nhà thờ. Ông vội núp vào nhà bếp, thuận tay vớ lấy chiếc tạp dề của đầu bếp thắt vào người, trấn tĩnh và rất tự nhiên đi ra ngoài. Mấy tên thổ phỉ chặn lại, giương súng hỏi: “Này, Tư lệnh Chu của chúng bay ở đâu?”

“Ở phía sau”, Chu Đức chỉ về gian nhà nhỏ phía sau.

“Mày làm gì vậy?”

“Tôi là đầu bếp”.

Bọn thổ phỉ thấy ông mặc chiếc tạp dề rách bươm râu dài, mặt xạm, tin rằng thật, mới vội vòng ra sau truy lùng. “Ông đầu bếp” thừa cơ nhảy qua cửa sổ, chạy thục mạng, nhanh chóng gặp lại các chiến sĩ đang đi tìm ông, sau đó tổ chức phản kích, đánh cho bọn phỉ trận tơi bời.

7. Mao Trạch Đông dẫn quân về phía bắc trong cuộc trường chinh, thoát khỏi sự uy hiếp của Trương Quốc Đào

Theo cuốn “Mao Trạch Đông mưu lược”: Khi cuộc trường chinh của Hồng quân đến vùng Mậu Công - Tứ Xuyên, cánh quân của Mao Trạch Đông và bốn cánh quân của Trương Quốc Đào hội họp. Giữa Mao và Trương nảy sinh bất đồng về việc tiến lên phía bắc hay tiến về phía tây. Bằng nỗ lực của Mao Trạch Đông, họ đã miễn cưỡng đạt được hiệp nghị cùng tiến lên phía bắc, đồng thời chia số quân thành hai cánh Tả lộ quân và Hữu lộ quân. Trương chỉ đạo Tả lộ, Mao chỉ đạo Hữu lộ. Mặc dù vậy, bất đồng vẫn không hết. Trong cánh Tả lộ quân của Trương Quốc Đào có Chu Đức và Lưu Bá Thừa ủng hộ Mao Trạch Đông, trong cánh Hữu lộ quân của Mao Trạch Đông có tâm phúc của Trương là Trần Xương Hạo. Khi Mao Trạch Đông đến Ban Hựu, thì sự rạn nứt lại xuất hiện. Trương Quốc Đào mượn cớ nước sông lên, Tả lộ quân không thể vượt sông được lại đưa ra kế hoạch tây tiến. Mao Trạch Đông thì lấy danh nghĩa ủy ban Trung ương, yêu cầu Trương tiếp tục bắc tiến. Trương dựa vào người nhiều, vũ khí nhiều, không chịu phục tùng, đồng thời gửi một bức điện mật tới Trần Xương Hạo trong bộ chỉ huy Hữu lộ quân, mưu đồ dùng phương pháp “Triển khai đấu tranh triệt để trong Đảng” để ép Mao Trạch Đông và Hữu lộ quân tây tiến cùng ông ta. Nhờ sự cảnh giác của Diệp Kiếm Anh, Mao Trạch Đông biết được âm mưu của Trương Quốc Đào, tình thế vô cùng căng thẳng, vì quân đội của Mao Trạch Đông đã sớm phân tán, Quân đoàn một cách Ban Hữu hai ngày đường, mà phụ cận lại có hai cánh quân của Trương. Bành Đức Hoài lo lắng, nếu như những cánh quân của Trương tước mất vũ khí của Quân đoàn ba thì biết làm sao? Ông thúc giục Mao: bắt lấy một số con tin để đề phòng xuất hiện cục diện bi thảm là bộ đội Hồng quân tàn sát lẫn nhau.

Mao Trạch Đông không nghe theo kiến nghị của Bành Đức Hoài. Ông biết ý của câu “Triệt để triển khai đấu tranh trong đảng” trong bức điện của Trương Quốc Đào, nhưng rốt cuộc vẫn chưa công khai đe dọa sẽ giải quyết bằng vũ lực. Nếu như dùng biện pháp bắt con tin trước, thì cuộc tự tàn sát lẫn nhau sẽ khó tránh khỏi. Ông giả vờ không biết gì cả, đi gặp Trần Xương Hạo. Trần chuyển báo với Mao mệnh lệnh của Trương Quốc Đào. Mao Trạch Đông tìm mọi biện pháp để tranh thủ Trần Xương Hạo ủng hộ chủ trương của ông, ông rất tin vào khả năng thuyết phục của mình. Thế nhưng, Trần vẫn chỉ biết tuân theo lệnh của Trương, không nghe lời khuyên của Mao Trạch Đông.

Cuộc thương thuyết không giúp ích được gì, Mao Trạch Đông thất vọng, không còn cách nào khác, sự việc đã vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Về sau Mao Trạch Đông có nói rằng, đó là “Thời khắc đen tối nhất trong cuộc đời tôi”, tất cả những gì ông phấn đấu có nguy cơ tan biến trong chốc lát. Cuộc đại trường chinh có lẽ đứt gánh giữa đường, trước khi trời sáng, Hồng quân sẽ tự giết hại lẫn nhau.

Vậy biết làm sao? Mao Trạch Đông biết rằng có thuyết phục cũng không được nữa, thế là nói với Trần, nếu bộ đội có chuyển đường tiến thì ông cũng phải thương lượng với một số người khác trong Bộ chính trị, ông nói: “Chu Ân Lai và Vương Giá Tường đang dưỡng bệnh ở bộ tư lệnh Quân đoàn ta, hãy để tôi tới chỗ Lạc Phủ, Bác Cổ họp bàn”. Trần Xương Hạo đồng ý. Họp bàn ư, điều đó rất nên, dù không muốn cũng phải đồng ý.

Kỳ thực đây là kế thoát thân của Mao Trạch Đông. Bất đồng không thể cứu vãn, so sánh lực lượng lại không cân bằng, biện pháp duy nhất là cao chạy xa bay mà thoát thân. Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, còn việc ai đúng ai sai, thì sau này mới biết.

Mao Trạch Đông hỏa tốc tới nơi đóng quân của Quân đoàn ba, cùng với các đồng chí Thường ủy quyết định khẩn cấp: hai giờ sáng, quân đoàn ba phải xuất phát ngay. Lấy danh nghĩa gì để đi? Mao phái Diệp Kiếm Anh đi báo với Trần Xương Hạo: bộ đội phải quay lại xuống phía nam để chuẩn bị đầy đủ lương thực nên phải động viên toàn thể bộ đội hành quân ngay từ sáng sớm. Trần không phản đối, ông ta không lo lắng gì cả, cho rằng Mao Trạch Đông chỉ có bằng ấy quân thì không dám tự mình mà bỏ đi.

Cho tới khi Trần Xương Hạo phát hiện thấy một cánh quân đã tách đi thì quân của Mao Trạch Đông đã ra khỏi “phạm vi thế lực” của Trần. Trần bèn phái một Tiểu đoàn Hồng quân và một bộ phận quân khác giương khẩu hiệu “Phản đối Mao Trạch Đông chạy trốn” để đuổi theo. Mao Trạch Đông nói với họ: “Muốn nam tiến, xin cứ việc, đồng ý bắc tiến, cũng tùy, tuyệt đối không cưỡng ép. Nam tiến thì không có đường ra. Còn những người không muốn bắc tiến cùng Trung ương đảng thì hãy đợi, chúng tôi có thể làm đội quân tiên phong đi bước đầu. Chúng tôi đi trước khai phá căn cứ địa, hoàn thành nhiệm vụ của chúng tôi. Chúng tôi hoan nghênh các anh tham gia đội ngũ của chúng tôi. Tôi tin rằng, sau một năm, các anh sẽ đến”.

Mao Trạch Đông đã phán đoán rất chính xác. Các cánh quân của Trương Quốc Đào sau nhiều phen vật lộn tây tiến, cuối cùng phải quay lại. Đúng một năm sau, ngày 10 tháng 10 năm 1936, ba cánh Hồng quân chủ lực với sự kiên trì của Mao Trạch Đông cuối cùng đã hoàn thành cuộc Vạn lý trường chinh nổi tiếng thế giới và hội quân thắng lợi ở Thiểm Bắc, bắt đầu một giai đoạn chiến đấu mới.

Dương Thượng Côn nói: “Trong cuộc trường chinh, Mao Trạch Đông độc lập tách ra và dẫn quân đoàn một và ba bắc tiến, đây là một bước cực kỳ quan trọng. Không có bước này, cũng không có cuộc đại hội sư đoàn một năm sau ở Tây Bắc của ba cánh quân chủ lực. Nếu không có cuộc bắc tiến đó thì các cánh Hồng quân sẽ dần bị tiêu diệt, và không có thắng lợi của cách mạng Trung Quốc”.

KẾ THỨ HAI MƯƠI BA:

LOẠN NHI THỦ CHI

(Lợi dụng lúc hỗn loạn mà giành lấy)

Đục nước béo cò

A. Nguồn gốc:

Sách “Thập nhất gia chú Tôn Tử. Thủy kế biên” viết: “Kiêm nhược công muội, thủ loạn vũ vong, vũ chi thiện kinh dã”. Tức là: thôn tính nước nhỏ yếu, tấn công đội quân ngu muội, đột kích đội quân hỗn loạn, truy kích kẻ địch chạy tan tác, đó là một kinh nghiệm quý báu thông thường nhất, phổ biến nhất để có thể dễ dàng giành thắng lợi trong chỉ đạo chiến tranh.

B. Chú bình:

Tư tưởng trung tâm của “Loạn nhi thủ chi” là tận dụng cơ hội trong cái loạn của đối phương để giành thắng lợi. Còn như phương pháp và thủ đoạn thì tùy lúc, tùy chỗ, tùy người mà thay đổi. Hình thái hoặc mức độ cao nhất của loạn nhi thủ chi là thuận theo tự nhiên, giống như là vận hành của ngày tháng, người theo thiên thời, không lộ một chút khe hở nào. “Loạn nhi thủ chi” trong chiến tranh rất phức tạp, quân địch hoặc là vì dấn sâu vào trận địa của ta, cướp đoạt tài sản mà dẫn đến loạn; hoặc là vì thiên thời thay đổi, lầm đường vào mê lộ mà loạn; hoặc là vì thắng lợi mà tạm thời làm kiêu ngạo, quên chiến đấu, không phòng bị mà loạn; hoặc là vì bộ đội khó khăn, thiếu lương lâu ngày, tranh giành nhau lương thực mà loạn… Tuy nhiên, cũng có kiểu bày kế mà làm loạn địch, lợi dung khe hở mà tấn công giành thắng lợi. Loạn sinh từ bên trong, dần dần sẽ biểu hiện ra bên ngoài. Tính mưu mà làm loạn địch thì biện pháp hữu hiệu nhất không cách nào hơn là chui vào thành luỹ địch, thừa cơ làm nhiễu loạn từ bên trong rồi tấn công mà giành thắng lợi. “Loạn nhi thủ chi” không có một quy luật nhất định, chỉ có cách là làm cho đối phương sinh ra hỗn loạn mà thắng, bất kể là nghi binh lừa địch, hay là hư trương thanh thế, dùng giả mà loạn thật. Những ví dụ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quan hệ ngoại giao… không thể kể hết được.

C. Dẫn truyện:

1. Tạ Huyền thừa cơ loạn trong trận Phì Thủy đánh bại quân Tần

Tháng 8 năm 383 TCN, Tiền Tần vương Phù Kiên dẫn 90 vạn quân, chia làm ba cánh trung, tây, đông tiến xuống phía nam, quyết tâm quét sạch Đông Tấn, thế mạnh như chẻ tre. Qua mấy chiến dịch, hai bên đối trận ở hai bờ sông Phì Thủy. Đô đốc tiên phong quân Tấn là Tạ Huyền thấy rằng quân Tần có rất nhiều nhược điểm tuy đông nhưng đại đa số đều là quân ô hợp, hoặc là thu phục trên đường, hoặc là mới chiêu tuyển, nội bộ bất ổn, kỷ luật lỏng lẻo, chủ tướng thì kiêu ngạo mà vô mưu… nên đã dùng kế khích tướng để cho quân Tần rút về phía sau, để quân Tấn vượt Phì Thủy quyết một trận thắng bại. Chủ soái quân Tần Phù Kiên mưu đồ lợi dụng cơ hội quân Tấn đi đến giữa dòng Phì Thủy sẽ tiến công nên đồng ý lui quân, không ngờ quân đội phía trước vừa rút thì trận thế bại loạn, quân Tấn lại hô to “quân Tần đã thua rồi”, cố ý tạo ra hỗn loạn, quân Tần đều cho rằng đã bại thật, đua nhau chạy trốn, tự gây kinh hãi cho nhau, khiến cho toàn tuyến hỗn loạn, không thể chế ngự được, quân Tần người ngựa giẫm đạp lên nhau chạy trốn, kẻ rơi xuống nước đếm không xuể, sĩ tốt phía sau nghe thấy tiếng kêu cùng quay đầu chạy. Quân Tấn thừa thế truy kích, quân Tần đại bại. Phù Kiên cũng phải bỏ chạy về Trường An, gần trăm vạn đại quân nay chỉ còn hơn chục vạn.

2. Gia Cát Lượng tọa sơn quan hổ đấu rồi lấy Nam Quận

Hồi thứ 51 “Tam quốc diễn nghĩa” kể: khi Tào Nhân và Chu Du tranh đoạt căn cứ quân sự quan trọng Nam Quận, hai bên đấu trí, trước tiên, Chu Du bị lừa vào vòng vây, sau đó Tào Nhân lại trúng mai phục, hai nhà Ngô, Tào đánh nhau khó phân thắng bại, giằng co hỗn loạn. Sau khi đánh bại Tào Nhân, Chu Du dẫn quân tiến thẳng tới Nam Quận. Không ngờ khi đến chân thành, trông thấy trên mặt thành, tinh kỳ đỏ rực cả. Đại tướng Triệu Tử Long, uy phong lẫm liệt đứng trên chòi canh, gọi to lên rằng: “Xin Đô đốc xá tội, tôi phụng mệnh Quân sư, đã lấy được thành lâu rồi”. Chu Du giận lắm liền sai đánh thành thì trên thành tên bắn xuống như mưa.

Khi Chu Du phát binh tấn công Nam Quận, nghe nói Lưu Bị cũng muốn lấy thành này, vô cùng tức giận, mới đích thân dẫn binh mã, đến tìm Lưu Bị. Lưu Bị theo lời dặn của Khổng Minh, đồng ý để Chu Du đi lấy Nam Quận trước, nếu không lấy được thì Lưu Bị sẽ đi đánh lấy sau. Chu Du nghe vậy, vui vẻ nhận lời, rồi ung dung đi đánh Nam Quận. Khổng Minh sở dĩ để cho Chu Du đánh trước là bởi vì đã sớm tính toán được sự phát triển của chiến cục. Ông không những tính toán được khi Tào Tháo về Hứa Đô tất đã có sắp xếp đối với Nam Quận, Chu Du với tâm trạng nóng lòng cầu thắng tất sẽ trúng kế, mà còn dự liệu được Chu Du sau khi bại trận nhất định sẽ báo thù Tào Tháo. Nên trước tiên để cho hai bên đánh nhau, còn ta thì ngồi trông rồi thừa cơ mà đoạt lấy. Hai hổ đánh nhau không chết cũng bị thương. Khi Chu, Tào đánh nhau kịch liệt để tranh giành Nam Quận, thì Khổng Minh lợi dụng cơ hội chiếm lấy miếng mồi ngon này. Chu Du, Tào Nhân chỉ chú ý tới địch tình trước mắt mà quên mất phía sau lưng họ đang có một “ngư ông” hưởng lợi.

Gia Cát Lượng lần này đã tận dụng khe hở mà vào Nam Quận, điều quan trọng nhất là lợi dụng cơ hội hai quân Chu và Tào đang loạn chiến. Quả là “thần mưu, diệu lược như Gia Cát”.

3. Hảo hán Lương Sơn Bạc cướp pháp trường Giang Châu

Hồi thứ 39 “Thủy hử truyện”: “Hảo hán Lương Sơn cướp pháp trường, Bạch Long miếu anh hùng tụ nghĩa”, đã miêu tả hành động dùng kế “Loạn nhi thủ chi” để cướp pháp trường Giang Châu, cứu Tống Giang và Đới Tung của các hảo hán Lương Sơn Bạc.

Tống Giang vì đề thơ phản nghịch nên bị một tên quan là Hoàng Văn Bính tố giác và bị giam vào ngục. Tri phủ Xài Cửu phái Lưỡng viện Tiết cấp Đới Tung đi Đông Kinh đưa thư báo cho Lão gia là Thái sư Xài Kính. Đới Tung là bạn chí cốt với Tống Giang, trên đường qua Lương Sơn Bạc đã nói chuyện Tống Giang ngâm thơ phản nghịch với Tiều Cái, Ngô Dụng. Tiều Cái nghe xong, muốn dẫn quân đi đánh Giang Châu ngay để cứu Tống Giang, Ngô Dụng ngăn lại: “Giang Châu cách đây rất xa, quân mã mà đi thì ắt sẽ rút dây động rừng, nguy hiểm đến tính mạng Tống tiên sinh. Việc này e không thể dùng sức mà đấu chọi, chỉ có thể dùng trí”. Ngô Dụng bèn nhờ một thư sinh mô phỏng bút tích Xài Kính sửa lại bức thư, trong thư nói sẽ giải Tống Giang đến Đông Kinh hỏi tội, lại mời thợ khắc ngọc khắc một con dấu giống như của Xài Kính, sau đó đưa cho Đới Tung mang đi. Các hảo hán Lương Sơn định rằng đợi khi Tống Giang bị áp giải trên đường sẽ cứu ông, thế nhưng Ngô Dụng vì vội vàng đã để sơ suất, trên bức thư giả lại in con dấu có bốn chữ “Hàn Lâm Xài Kính”, đã không tính đến việc Xài Kính và Xài Cửu là quan hệ phụ tử, trao đổi thư cho nhau không cần dùng dấu quan. Việc này quả nhiên đã bị Hoàng Văn Bính nhìn ra. Đới Tung và Tống Giang bị phán tử hình, năm ngày sau sẽ áp giải đến thị tào, chém đầu.

Sau khi Đới Tung rời Lương Sơn Bạc không lâu, Ngô Dụng phát hiện ra sơ suất của mình, lập tức tìm biện pháp cứu vãn, cùng với Tiều Cái bàn định kế lợi dụng hỗn loạn mà cướp, chọn ra 17 vị hảo hán và hơn trăm tên lâu la thẳng tới Giang Châu cứu người.

Hôm đó, sáu bảy mươi tên cai ngục áp giải Tống Giang và Đới Tung tới pháp trường, đặt Tống Giang ngồi quay mặt về phía Nam, Đới Tung ngồi quay về phía bắc, đợi đến giờ ngọ thì chém. Lúc đó, dân Giang Châu kéo đàn kéo lũ đi xem, không biết mấy ngàn người mà kể. Đương khi ấy chợt thấy bên đông pháp trường có bọn ăn mày chen vào xem chém, tụi thổ binh ngăn lại không xong, đôi bên cãi nhau ầm ỹ. Cũng lúc ấy thì phía bên tây lại có bọn bán thuốc cao len vào. Bọn thổ binh thấy vậy quát rằng: “Chúng bay người ở đâu, ai cho phép len vào đây xem”. Chúng nói: “Chúng tôi đây đến phủ huyện nào mà không vào xem được. Dẫu cho Thiên tử chém người cũng còn cho người dân vào xem, huống chi một chỗ đất cỏn con này”.

Giám trảm quan nghe thấy vội quát: “Đuổi chúng nó ra, không cho chen vào”. Chưa dứt lời thì đã thấy phía bên nam pháp trường có một tụi phu gánh cũng sấn sổ mà chen vào. Lũ thổ binh lại quát hỏi: “Chúng bay người ở đâu mà dám chen vào đây”. Bọn phu gánh đáp rằng: “Chúng tôi gánh đồ vật tới cho Tri phủ tướng công đây”. Thổ binh ngăn lại: “Có phải là người nhà quan phủ thì bây giờ cũng không đi qua đây được”. Bọn phu gánh thấy vậy, liền hạ gánh xuống, rồi đứng len lỏi vào đám đông người để xem. Chợt lại thấy phía bắc có một đám buôn, kéo hai xe gỗ đến, đẩy xô mọi người mà toan vào pháp trường. Tụi thổ binh thét mắng đuổi ra mà rằng: “Bọn mày đi đâu?”. Lái buôn đáp: “Chúng tôi phải đi có việc, xin các ông cho phép chúng tôi qua”. Thổ binh lại quát: “Ai cho các anh đi lối này, có vội kiếm lối khác mà đi”. Bọn lái buôn đáp: “Các bác nói dễ nghe, chúng tôi ở kinh sư đến, còn biết lối cóc nào nữa. Chỉ có một con đường lớn này phải cho đi mới được”. Nói rồi toan chen lấn đi vào, nhưng bọn thổ binh nhất định không nghe mà cố dồn để đuổi ra. Đám lái buôn bất đắc dĩ phải dừng xe lại, rồi trèo lên để xem. Được một lát, trong pháp trường có người báo: “Bây giờ đúng giờ ngọ ba khắc rồi”. Giám trảm quan nghe báo liền truyền lệnh: “Cho phép chém”. Bọn lính coi tù vâng lệnh tháo gông cho tội phạm rồi hai người đao phủ cầm đao ra chém.

Bấy giờ, bọn lái buôn đứng trên xe nghe thấy ba tiếng: “Cho phép chém”, một người thì lấy thanh la ở trong bọc ra mà đánh lên mấy tiếng rất to, rồi bỗng nhiên tứ phía đều nhao nhao lên như vỡ chợ. Sau đó ở trên gác hàng nước, bên cạnh con đường thập tự, có một anh chàng cởi trần trùng trục, mình đen trùi trũi, hai tay cầm hai cây búa, thét lên một tiếng như sấm động rồi nhảy xuống pháp trường, vung búa chém luôn hai tên đao phủ rồi quay ra đuổi chém Giám trảm quan. Bọn thổ binh thấy vậy, vội vàng xô nhau để ngăn cản, song không sao chống cự nổi, chúng liền hớt hải chạy đến cứu Giám trảm quan và Xài Tri phủ đang cuống cuồng chạy trốn.

Khi đó, lũ ăn mày ở phía đông đều tuốt dao nhọn ở trong mình ra để đánh giết thổ binh. Phía bên tây, tụi đánh gậy bán thuốc cao cũng múa gậy reo hò mà xông vào chém giết. Đám phu gánh bên nam cũng múa đòn gánh lên, gặp người nào phang người ấy, làm cho bọn lính ngục và thổ binh ngã chết nhiều vô kể. Còn bọn lái buôn phía bắc thì nhảy xuống xe, quay xe ngăn lấy lối đi, rồi hai người xông vào cướp lấy Tống Giang cùng Đới Tung, còn bọn người thì hoặc bắn cung, hoặc ném đá, hoặc vung gươm giáo mà giết hết bọn thổ binh.

Thì ra bọn lái buôn này là Tiểu Cái, Hoa Vinh, Hoàng Tín, Lã Phương, Quách Thịnh; bọn phu đánh gậy bán thuốc cao là Yến Thuận, Lưu Đường, Đỗ Thiên, Tống Vạn; bọn phu gánh là Chu Quý, Vương Nuỵ Hổ, Trịnh Thiên Thọ, Thạch Dũng, bọn ăn mày là Nguyễn Tiểu Nhị, Nguyễn Tiểu Ngũ, Nguyễn Tiểu Thất cùng Bạch Thắng, cộng tất cả là mười bảy vị Lương Sơn hảo hán và hơn một trăm lâu la giả dạng làm người thường tới đánh cướp pháp trường.

Hảo hán Lương Sơn Bạc đánh cướp pháp trường Giang Châu đã dùng kế chui sâu vào doanh trại địch, rồi chọc ngang, khuấy dọc, khua đục nước. Quan quân Giang Châu không được chuẩn bị tốt về tinh thần nhất thời khó mà phân biệt được người thật người giả.

4. Dương Hành Mật chất của cải để nhử đánh bại phiến quân

Năm 888 công nguyên, Thứ sử Tuyên Châu (huyện Tuyên Thành tỉnh An Huy ngày nay) là Tần Nhan làm phản, dẫn quân vượt Trường Giang, chiếm lĩnh Quảng Lăng. Thứ sử Lư Châu (thành phố Hợp Phì, An Huy ngày nay) là Dương Hành Mật nhận được chiếu thư thảo phạt Tần Nhan, đem quân đi đánh Quảng Lăng. Tần Nhan dẫn quân ra ngoài thành, dàn thế trận chuẩn bị nghênh chiến. Hai quân đối trận, Dương Hành Mật thấy sĩ khí quân đội Tần Nhan rất hăng, nếu cố đánh tất sẽ thua, mới quyết định dùng mưu kế.

Dương Hành Mật rút quân về doanh trại, trước hết sai quân sĩ đem toàn bộ của cải vàng bạc, vải vóc, lương thực hiện có trong doanh trại, để cho một số ít quân lính già yếu coi giữ, rồi lại bố trí các binh sĩ khỏe mạnh mai phục ở xung quanh. Bố trí xong xuôi, ông dẫn hơn một ngàn quân đến khiêu chiến. Tần Nhan thấy quân của Dương Hành Mật ít, muốn đánh ngay, lệnh cho toàn bộ binh tướng nhất tề xông ra. Hai quân chưa đánh nhau được bao lâu thì Dương Hành Mật giả vờ thua dẫn quân chạy về doanh trại.

Tần Nhan dẫn quân đuổi theo, đến doanh trại của Dương Hành Mật vẫn không gặp phải trở ngại nào. Quân lính Tần Nhan vừa xông vào doanh trại thì thấy chất đầy vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc và lương thực liền tranh nhau cướp đoạt, toàn quân hỗn loạn. Tần Nhan hò hét ra lệnh nhưng cũng không ngăn cản nổi. Lúc này, quân lính của Dương Hành Mật mai phục từ tứ phía nhất tề xông ra, bao vây đám hỗn quân của Tần Nhan. Quân Tần Nhan hoặc bị giết, hoặc bị thương, hoặc đầu hàng cả.

5. Hà Đường giấu cốc cửu long thừa loạn trừ hoạn quan

Sau khi Minh Chính Đức lên ngôi Hoàng đế, phong Lưu Cẩn làm cửu thiên tuế, cai quản hoạn quan trong cung. Lưu Cẩn nhân cơ hội này thao túng triều chính, có ý định giết Vua đoạt ngôi.

Nhận rõ dã tâm của Lưu Cẩn, Hà Đường (thầy của Hoàng đế) tìm cách trừ khử hắn, nhưng chưa có cơ hội. Nhân lễ mừng thọ Hoàng đế, khi văn võ bá quan đều đã đến đông đủ, Lưu Cẩn cũng cưỡi ngựa tới. Các quan ra đón. Khi Lưu Cẩn xuống ngựa, Hà Đường chợt phát hiện thấy trong bộ triều phục màu đỏ của Lưu Cẩn lộ ra vạt áo long bào thêu hoa gấm màu vàng đỏ chỉ Thiên tử mới được mặc; Hà Đường liền nảy sinh mưu kế.

Văn võ bá quan vào Hoàng cung chúc thọ, Hoàng đế mở tiệc chiêu đãi. Mọi người tìm chỗ của mình và ngồi xuống, trong lúc hỗn loạn Hà Đường thuận tay lấy một chiếc cốc cửu long giấu vào trong người. Khi rót rượu, Thái giám phát hiện thấy thiếu mất một chiếc cốc cửu long, bèn đi tìm. Hà Đường có ý hỏi: “Ai đã lấy chiếc cốc cửu long quý đó? Nếu không mau đưa ra sẽ cho lục soát thân thể”. Các quan đều cười: “Lục soát thì lục soát, tìm được ra người nào thì phạt người ấy một ngàn cốc rượu”.

Lưu Cẩn giật mình khi nghe thấy câu khám xét cơ thể. Thế nhưng, ông ta càng sợ thì mọi người càng hoài nghi, càng yêu cầu phải khám. Hà Đường nói: “Vậy thế này, trước tiên khám người từ Vạn tuế, rồi lần lượt từ trên xuống dưới”. Hoàng đế cười, nói: “Đừng có đùa, của cải khắp cung điện này đều là của ta, ta lấy một chiếc cốc cửu long để làm gì”. Hà Đường tâu: “Bệ hạ là Hoàng đế, nên làm gương cho mọi người”. Vừa nói vừa nháy mắt ra hiệu cho Hoàng đế. Hà Đường từng là thầy của Hoàng đế, biết ông hay đùa, đành phải đứng dậy, vạch long bào cho mọi người xem. Đến lượt cửu thiên tuế. Lưu Cẩn sắc mặt tái nhợt. Văn võ bá quan từ lâu đã hận Lưu Cẩn, thấy hắn thay đổi thái độ, càng hoài nghi “Khám đi, khám đi”. Lưu Cẩn không còn cách nào khác, đành phải để cho Hà Đường đến khám người. Triều phục vừa được vén ra thì phía trong lộ ra màu vàng đỏ của chiếc long bào mà chỉ Hoàng đế mới được mặc. Tất cả đều a lên ngỡ ngàng. Đúng lúc này, Lưu Cẩn mặt đằng đằng sát khí, rút con dao ngắn giấu sẵn trong người, lao về phía Hoàng đế. Hà Đường lao tới, chặn con dao ngắn rơi xuống đất.

Kim điện hỗn loạn. Hoàng đế chỉ nói một câu “mau giết chết hắn đi” rồi ngã vật ra bất tỉnh. Đến khi Hoàng đế tỉnh dậy thì Lưu Cẩn đã bị ngự lâm quân đánh chết. Hà Đường cũng lôi chiếc cốc cửu long ra, nói rõ kế sách của mình. Hoàng đế và văn võ bá quan đều vô cùng thán phục sự trung quân và mưu trí của Hà Đường.

6. Tất Tái Ngộ thừa loạn rút quân

Năm 1206, tướng Nam Tông là Tất Tái Ngộ và quân Kim xây thành luỹ đối trận. Khi đó, quân Kim dường như mỗi ngày đều tăng thêm nhiều hơn, còn quân Tống ngày càng tỏ rõ thế yếu, Tất Tái Ngộ thấy rằng khó mà đối chọi lại được, bèn quyết định tạm thời rút quân. Thế nhưng rút như thế nào cho an toàn, ổn thỏa?

Trong quân doanh của Tất Tái Ngộ những lúc bình thường cả ngày đến tối đều cho đánh trống liên tục, một mặt để uy hiếp địch, mặt khác để cổ vũ sĩ khí. Nay nếu như rút lui, trong quân doanh sẽ không còn tiếng trống, chắc sẽ bị địch phát hiện. Để rút lui an toàn, Tất Tái Ngộ mới nghĩ ra một kế lừa địch.

Ông cho quân sĩ đem đến một đàn dê và những chiếc trống lớn, buổi tối hôm đó, ông lệnh cho binh sĩ đem trói hết những con dê này lại và treo lên cành cây, để cho hai chân trước của dê liên tục khua loạn. Rồi treo trống trước những con dê này. Trống sẽ nhờ chân dê khua đạp mà gõ liên hồi. Tất Tái Ngộ lặng lẽ rút quân trong tiếng trống rộn rã của đàn dê.

Quân Kim nghe thấy trong quân doanh của Tất Tái Ngộ tiếng trống vẫn như thường nên không hoài nghi gì. Cứ như vậy mấy ngày mới nhận thấy một số điều khác lạ, tiếng trống lúc thì lẻ tẻ, lúc thì liên hồi, không có quy luật gì cả. Nhưng lúc này, quân Tất Tái Ngộ đã rút đi xa rồi.

7. Vương Thủ Nhân treo biển gỗ làm loạn thế trận địch giành thắng lợi

Tháng 8 năm 1519, Vương Thủ Nhân nhận được tin Ninh vương tạo phản, lập tức thảo hịch tuyên bố tội trạng của Ninh vương, và chiêu tập quân đội tiến quân về căn cứ địa của Ninh vương ở Nam Xương.

Ninh vương đang dẫn quân đánh An Khánh, nhận được báo cáo, vội dẫn quân đi thuyền theo dòng Trường Giang trở về Nam Xương, chiến thuyền của hai bên gặp nhau trên hồ Phàn Dương mù mịt sương khói, một trận chiếc ác liệt xảy ra.

Nhuệ khí quân của Ninh vương rất thịnh, quân số đông, lại thuận chiều gió, giao chiến được một trận thì quân Vương Thủ Nhân một số không trụ nổi đã bắt đầu chạy rút về sau. Vương Thủ Nhân lập tức hạ lệnh chém những kẻ rút chạy, lại cho thủ hạ dùng thuyền nhỏ truyền một mệnh lệnh rất nghiêm khắc: “Hễ kẻ nào rút chạy, đều chém hết”. Thấy những kẻ rút chạy đều bị chém cả, lại nghe thấy mệnh lệnh này, các tướng quân tùy tòng của Vương Thủ Nhân đều xông pha liều mạng trên những chiến thuyền trong làn đạn của địch, tiếp tục chống chọi với đạn pháo, chỉ huy chiến đấu.

Vương Thủ Nhân suy tính tương quan lực lượng của hai bên, thấy rằng nếu cứ liều mạng như vậy không thể được, chợt nảy một kế, ông hạ lệnh treo lên thuyền chiến một tấm bia gỗ rất lớn, trên tấm bia dùng mực đen viết hai hàng chữ lớn: “Ninh vương đã bị bắt, tướng sĩ quân ta hãy xông lên”. Tướng sĩ của Ninh vương trông thấy tấm biển này tưởng là thật. Thế là quân tâm đại loạn, kéo nhau bỏ chạy, Ninh vương muốn ngăn cản quân sĩ cũng không cản nổi. Vương Thủ Nhân nhân cơ hội này chỉ huy quân đội truy kích và giành được thắng lợi.

KẾ THỨ HAI MƯƠI TƯ:

DĨ TĨNH CHẾ ĐỘNG

Dùng tĩnh mà thắng động

A. Nguồn gốc:

Chương thứ 36, sách “Đạo đức kinh” của Lão Tử viết: “Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo quân… khinh tắc thất căn, táo tắc thất quân”. Nguyên nghĩa là, thận trọng, bình tĩnh, nín nhịn là gốc rễ của nông nổi tùy tiện; trấn tĩnh, chắc chắn, lão luyện là chúa tể (kẻ thống trị) của nóng vội, manh động. Hành động vội vàng thiếu suy tính sẽ mất đi cái gốc rễ để giữ được trạng thái cân bằng (chế hằng), làm bừa sẽ mất đi địa vị ưu thế của chúa tể. Tô Tuần đời Tống cũng nói: “Nhất nhẫn khả dĩ chi bách dũng, nhất tĩnh khả dĩ chế bách động” (một nhẫn có thể chống đỡ được trăm dũng, một tĩnh có thể chế được trăm động). Có thể thấy rằng, tĩnh và động là một cặp mâu thuẫn trong sự vận động của sự vật, tĩnh thuộc mặt chủ yếu của mâu thuẫn, lấy tĩnh chế động phù hợp với phép biện chứng về sự vận động của sự vật.

B. Chú bình:

Là một mưu lược, dĩ tĩnh chế động cũng đề cập đến vấn đề tu dưỡng phẩm cách (phẩm chất, nhân cách). Kẻ không hiểu thao lược, bụng vô mưu kế thì khó mà làm được; mặc dù hiểu thao lược, nhưng lại thiếu những tu dưỡng phẩm cách tương ứng, không có một đức tính nín nhịn mà nóng nảy thì cũng không thể làm được việc. “Tam quốc diễn nghĩa” miêu tả kế thao lược “Miễn tòng hô huyệt tạm tây thân” (miễn cưỡng phải vào sào huyệt của hổ mà tạm thời nương mình), là ở ý đó. Lưu Bị nương thân dưới trướng Tào Tháo, lúc nào cùng có nguy hiểm rơi đầu, nhưng Lưu Bị vờ không hỏi han đến chính sự, cả ngày trồng rau gánh nước trong vườn nhà, chờ thời cơ thoát thân, tự lập làm chủ. Ôn Kiều đời Đông Tấn, bề mặt thì phục tùng nghịch thần là Vương Đôn, nhưng ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng, đợi thời cơ chín muồi, một trận tiêu diệt Vương Đôn.

Là một người chính trực, cương nghị, đối đãi như thế nào đối với những người trên dưới, xung quanh, đặc biệt là những vị khách không mời mà đến, mưu đồ làm loạn, chỉ chăm chăm leo lên chức quan cao hơn… là một vấn đề rất thực tế. Khi đối mặt với tiểu nhân, hỷ nộ thể hiện ra mặt, lộ rõ địch ý của mình thì dễ gặp họa hại, một là sẽ chịu sự thù hằn, tấn công của tiểu nhân, bị trả đũa lại; hai là cũng có thể bị một số người tốt xung quanh hiểu lầm, hoài nghi. Nếu như kìm nén được mà không nóng nảy, tỉnh bơ, bình tĩnh, không hề thay đổi sắc mặt, sử dụng sách lược lấy tĩnh để chế động, ngầm hạ quyết tâm, một phen trừ hết bọn tiểu nhân, thì cuối cùng sẽ không gặp phải tai ương gì. Vì vậy “Chu dịch. Nhu đê ngũ” nói: “Nhu, tu dã. Hiểm tại tiền dã, cương kiện nhi bất hãm, kỳ nghĩ bất khốn cùng hề… lợi dụng hằng, vô cữu, vị thất thường dã”. Quẻ Nhu ý nghĩa là chờ đợi. Quẻ trên của nó là Khảm, biểu thị vân (mây, nước); quẻ dưới là Càn, biểu thị thiên (trời), mây tụ lại và bay lên trời, đợi thời mà mưa xuống là quái tượng của quẻ nhu, đây là điểm thuận lẽ tự nhiên, có thể an lạc mà đợi thời rồi vận chuyển. Nguy hiểm ở trước mặt, người có cái đức cương kiện sẽ không lao bừa vào vòng nguy hiểm, theo lý thì cũng sẽ không đến nỗi khốn quẫn cùng bách. Ở đây là được thời cơ mà hành động, chứ không vi phạm những nguyên tắc thông thường. Nói tóm lại, nén chịu, không nóng nảy, lấy tĩnh mà chế động là tiêu pháp của cương kiện trung chính. Cái quyết tâm diệt trừ kẻ ác, diệt trừ tiểu nhân không thể thay đổi, nhưng cũng không thể vi phạm nguyên tắc tự nhiên, phải thuận theo lẽ tự nhiên, tới khi thời cơ chín muồi, kẻ ác, tiểu nhân sẽ giống như thiên thạch từ trên trời rơi xuống mà vỡ tan vậy.

C. Dẫn truyện:

1. Cảnh Thuần mứu trí giết Lưu Dương

Thời Đông Hán, Chân Định vương Lưu Dương mưu phản, Hán Quang Vũ phái Cảnh Thuần đem theo phù tiết đi thu phục Lưu Dương, Cảnh Thuần sau khi nhận lệnh đã đến Chân Định, giả rằng đi sứ tới Châu Quận, nghỉ ở trong nhà khách, Lưu Dương lấy cớ rằng có bệnh không tới gặp ông, lại còn viết một bức thư cho Cảnh Thuần, yêu cầu Cảnh Thuần phải tới gặp ông ta. Cảnh Thuần có thư trả lời rằng: “Tôi nhận sứ mệnh của Hoàng đế tới gặp chư hầu vương và các quan chủ sự Châu Quận, tôi không thể tới riêng chỗ ông được, dù ông có bệnh cũng nên gắng gượng mà tới gặp tôi”. Khi đó, em trai Lưu Dương là Lưu Nhượng, anh họ là Lưu Cam đều có đội quân lên tới hàng vạn người, Lưu Dương thấy quân đội của mình lớn mạnh, hơn nữa, thái độ của Cảnh Thuần lại rất khoan thai yên tĩnh, không giống như dẫn quân tới thảo phạt, thế là dẫn theo các quan đến nhà khách mà Cảnh Thuần trú, anh họ và em trai của ông ta dẫn theo một ít quân hộ vệ bên ngoài cửa. Lưu Dương vào trong nhà khách, Cảnh Thuần tiếp đón theo lễ tiết, tiếp đó, lại mời anh em của Lưu Dương vào trong nhà khách cùng ngồi tiếp chuyện. Đợi cho họ bước vào, Cảnh Thuần ra lệnh đóng cửa rồi hạ sát toàn bộ, sau đó dẫn quân mà ra, người Chân Định sợ hãi, không ai dám manh động.

2. Kế dùng tĩnh chế động của Đỗ Hoành, Tô Ban

Đời Tống, Đỗ Hoành làm Tri phủ Quân châu, có người cắm trên góc tường thành một lá cờ, trên đó viết một số lời tà thuyết mê hoặc, dự báo điềm gở, xúi giục dân chúng, dự báo ngày này, tháng này sẽ có sự biến, dân chúng toàn châu đều vô cùng sợ hãi. Không lâu sau, dãy kho cỏ bốc cháy giữa ban ngày, đó cùng là một trong những sự việc mở đầu cho lời dự đoán, dân chúng lại càng sợ hãi hơn. Có người kiến nghị với Đỗ Hoành, cho điều tra khắp cả trong thành, bắt lấy kẻ thuyết tà, Đỗ Hoành cười nói: “Đây chính là gian kế của những kẻ thuyết tà, hắn hy vọng chúng ta sẽ vì những quấy nhiễu của hắn mà hành động, vậy tại sao lại phải trúng kế của hắn? Chúng sẽ không làm được gì cả”. Đỗ Hoành giữ thái độ thờ ơ với sự việc này, không có bất kỳ một hành động nào, không lâu sau, tóm được kẻ nghịch tặc, đem giết đi. Từ đó, trong châu bình yên trở lại.

Đời Tống Anh tông, Tô Ban làm Chi phán quan. Một lần ông hộ tống sứ giả Khiết Đan về nước, trú lại tại Ân Châu. Đêm đó, dịch trạm bốc cháy, thủ hạ báo với ông và mời ông đi tránh lửa, Tô Ban không đồng ý, quân lính ở châu muốn vào cứu hỏa, Tô Ban cũng không đồng ý. Ông chỉ lệnh cho binh lính canh dịch trạm đi dập lửa. Khi vừa cháy lửa, người trong quận Ân Châu đều thấp thỏm, xao động, nói rằng sứ giả Khiết Đan bất ngờ làm phản, cứu binh cũng muốn dựa vào đó mà gây sự. Nhờ Tô Ban trấn tĩnh xử lý, mọi việc đã được bình ổn trở lại.

3. Kho vũ khí cháy lửa, Lý Doãn vẫn tiến hành tiệc rượu như thường

Một lần, Lý Doãn đang cử hành tiệc rượu để uý lạo quân đội thì kho vũ khí bốc cháy. Lý Doãn vẫn vui vẻ uống rượu như thường, một lát sau, lửa bị dập tắt. Lý Doãn bí mật sai quan lại đem theo vốn thư của ông đến Doanh Châu, rồi làm các thùng đựng lá chè, cho vũ khí, áo giáp vào đó rồi vận chuyển về, không đầy 10 hôm, vũ khí trong kho lại đầy đủ cả, trong quân không có ai biết. Sau việc này, Khu mật viện mới thỉnh tấu Hoàng thượng trị tội Lý Doãn vì không đi cứu hỏa. Tống Chân tông nói “Lý Doãn chắc sẽ có điều gì đó muốn nói, trước tiên hãy tra hỏi ông ta đã”. Lý Doãn nói: “Các biện pháp phòng hỏa của kho vũ khí là vô cùng nghiêm mật, thần vừa mở tiệc thì ở đó cháy lửa, tất là có nội gian làm. Nếu thần mà bỏ tiệc đi cứu hỏa thì e rằng sẽ sinh ra những sự việc không thể ngờ tới được”.

Năm cuối niên hiệu Tường Phù đời Tống Chân tông, kho trong cung cũng sinh hỏa hoạn, lụa là gấm vóc hầu như bị thiêu trụi. Tam Tư sứ Lâm Đắc thỉnh cầu Hoàng thượng hãy chia đều những đồ đạc cần đến trong kho rồi phân bổ cho các vùng ở phía nam Hoàng Hà, lệnh cho họ phải cống nạp ngay lập tức. Ông ta liên tục trình tấu 3 lần. Khi đó, Trung thư lệnh Vương Đán đem ba bản tấu này giấu cả đi. Sau đó mới nói: “Có một chút lụa gấm như vậy, vốn là do tứ phương phải tự đem cống, việc gì phải ra lệnh cho họ để giơ cái khó khăn và nhược điểm của ta ra? ” Mấy ngày sau, hàng đoàn xe ngựa tiến cống lụa là gấm vóc không ngừng mang tới. Thực ra Vương Đán trước đó đã dùng mật thư để thông báo cho mọi nơi, nhắc họ hãy tới cống tiến, chứ không làm ầm ỹ to chuyện, khiến lòng dân hoang mang. Lý Doãn dùng thùng đựng lá chè để vận chuyển vũ khí cũng là theo cách này.

4. Hàn Thế Trung đơn thương độc mã thu phục phiến quân

Thời Nam Tống, anh hùng chống Kim ngang hàng với Nhạc Phi là Hàn Thế Trung, một lần phụng mệnh dẫn quân đội đi thảo phạt tướng phản loạn là Lý Phúc. Quân của Hàn Thế Trung chưa đầy một ngàn người, còn phiến quân thì lại có hàng vạn người, trước tình thế địch nhiều ta ít như vậy, Hàn Thế Trung vẫn ung dung, bình tĩnh. Khi quân đội đến gần Tri Hà, Hàn Thế Trung lệnh cho quân sĩ chia thành bốn đội, rồi cho chặn đường rút lui, tuyên bố với toàn quân: tiến thì thắng, rút thì chết, kẻ nào rút chạy sẽ đem chém. Thế là toàn quân trên dưới coi cái chết nhẹ như lông hồng, liều mình xông lên chém giết, không có người nào bỏ chạy, cuối cùng đã đại phá được phiến quân. Hàn Thế Trung dẫn quân đội thừa thắng đuổi theo đến Túc Thiên. Lúc này, phiến quân vẫn có hơn một vạn người, đang uống rượu vui vẻ. Hàn Thế Trung thấy rằng lấy ngàn mà chọi với vạn thì vẫn khó mà thắng nổi, bèn quyết định đánh đòn tâm lý. Đêm đến Hàn Thế Trung một người một ngựa tới doanh trại phiến quân, hô to lên rằng: “Đại quân đến rồi, bọn bay hãy mau thu vũ khí lại, gập áo giáp lại, ta có thể bảo toàn tính mạng cho các ngươi”. Phiến quân sợ hãi, đều quỳ cả xuống mà dâng rượu thịt. Hàn Thế Trung bình tĩnh xuống ngựa, ăn thịt, uống rượu. Phiến quân thấy thái độ ung dung của Hàn Thế Trung, toàn bộ đều xin đầu hàng.

5. Hốt Tất Liệt uống rượu dưới ô che nắng

Tháng 6 năm 1287, bộ tướng của quân phiến loạn Nạp Nhan, Kim Gia Nô, Tháp Bố Đại dẫn 10 vạn quân tấn công quân Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt chỉ huy đại quân chinh thảo bao vây quân phản loạn. Phiến quân dùng biện pháp cố thủ, không giao chiến với quân Hốt Tất Liệt. Quan Tư nông là Đặc Nhĩ Cách đề nghị rằng, mặc dù ta bao vây phiến quân, nhưng đội ngũ của phiến quân rất đông, tương quan lực lượng chênh lệch lớn, biện pháp tốt nhất là dùng kế nghi binh, buộc địch không chiến mà lui.

Thế là, ông lệnh cho người đem chiếc ô che nắng của Hốt Tất Liệt giương ra, rồi mời Hốt Tất Liệt ngồi trên ghế dưới ô, ung dung thư thái, Đặc Nhĩ Cách thì tươi cười kính rượu Hốt Tất Liệt. Bộ tướng của Nạp Nhan quan sát thấy cảnh tượng như vậy, cho rằng Hốt Tất Liệt ở vào hoàn cảnh này vẫn còn có thể ung dung tự tại được, tất đã sớm có bố trí, vì vậy bộ tướng của Nạp Nhan sinh nghi, không dám manh động.

Tả Thừa tướng Lý Đình phát hiện thấy địch đã trúng kế, cho rằng quân tâm của địch đã dao động, tất sẽ lợi dụng đêm mà chạy trốn. Ông đề nghị với Hốt Tất Liệt cho ông dẫn hơn mười tráng sĩ, mang theo hỏa pháo, lợi dụng đêm tối mà đột nhập vào doanh trại địch, phóng hỏa pháo. Quân địch quả nhiên bỏ chạy tán loạn.

Khi phiến quân rút chạy, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh cho Lý Đình và Ngự sử Đại phu Nhĩ Các dẫn quân Hán Mông, chia thành hai đường tấn công, đuổi đến tận cửa rừng, bắt được thủ lĩnh Nạp Nhan. Loạn Nạp Nhan đã được giải quyết dễ dàng.

6. Chu Ân Lai bình tĩnh dẹp tấn trò kịch “sự kiện ốc sên”

Tháng 12 năm 1973, Chính phủ Trung Quốc phái một đoàn khảo sát dây chuyền sản xuất bóng hình màu tới khảo sát tại công ty Khang Ninh (Canon) của Mỹ. Công ty này đã tặng cho đoàn khảo sát các sản phẩm pha lê của hãng làm kỷ niệm, đó là những con ốc sên pha lê tinh xảo, đẹp đẽ. Món quà nhỏ này vốn thuộc về quan hệ ngoại giao quốc tế, nhưng đã bị Giang Thanh đạo diễn thành một tấn trò kịch nực cười.

Năm 1973, Bộ Công nghiệp Trung Quốc đề nghị với Trung ương cho nhập dây chuyền sản xuất bóng hình màu của Mỹ. Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc nhanh chóng phê chuẩn đề nghị này. Tháng 6 năm đó, Công ty Trung Chi trực thuộc Bộ Công nghiệp đã liên hệ với công ty Khang Ninh, tháng 9 công ty này đã báo giá và gửi lời mời, hoan nghênh công ty Trung Chi cử người tới thăm và khảo sát tại nước Mỹ. Bộ Công nghiệp Trung Quốc đã phái một tổ khảo sát gồm 12 người, tháng 12 năm đó thực hiện chuyến khảo sát này.

Công ty Khang Ninh trước sau giữ thái độ nhiệt tình hữu nghị với đoàn khảo sát. Toàn bộ chi phí ăn ở, đi lại trong thời kỳ khảo sát đều do công ty này đứng ra bảo lãnh, ông Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty còn đặc biệt mở tiệc chiêu đãi đoàn.

Khi đoàn khảo sát kết thúc chuyến công tác, trên chuyến chuyên cơ bay tới Washington, Giám đốc quan hệ quốc tế của công ty này tay cầm một hộp tặng phẩm rất đẹp, đưa tới trước các vị khách Trung Quốc, tươi cười nói: “Đây là những đồ kỷ niệm do xưởng pha lê của công ty chúng tôi sản xuất, xin kính tặng quý vị, hy vọng quý vị sẽ hài lòng”. Nhân viên đoàn khảo sát nhận quà, mở ra thì thấy 12 con ốc sên bằng pha lê xinh xắn, được chế tạo rất tinh xảo, đẹp đẽ, sống động, tiếng cười bỗng rộ lên trong khoang hành khách.

Cuối tháng 12, đoàn khảo sát trở về Bắc Kinh. Bộ Công nghiệp Trung Quốc rất hài lòng về kết quả chuyến đi khảo sát này. Về sau, Công ty Canon cũng gửi lời cảm ơn đặc biệt về chuyến thăm của đoàn khảo sát.

Tháng 2 năm 1974, trong phong trào “phê Lâm phê Khổng”, một cản bộ thanh niên ở một Viện thiết kế thuộc Bộ Công nghiệp Trung Quốc đã viết thư cho Giang Thanh phản ánh sự việc đoàn khảo sát đã nhận món quà “ốc sên” của phía Mỹ và cho rằng đây là một hành động xỉ nhục người Trung Quốc của phía Mỹ. Giang Thanh nhận được bức thư này như là nhận được báu vật, gọi ngay xe đưa bà tới Bộ Công nghiệp, vừa xuống xe đã nổi trận lôi đình về sự kiện “ốc sên”: “Đây rõ ràng là hành động khinh thị chúng ta của người Mỹ, bọn họ muốn nói chúng ta bò chậm như ốc sên, chúng ta quyết không thể khuất phục thế lực chủ nghĩa đế quốc”.

Giang Thanh phẫn nộ chỉ mặt các lãnh đạo của Bộ Công nghiệp, nói: “Ốc sên để ở đâu, mau mang ra cho tôi, Trung ương phải dùng chúng để triển lãm, chúng ta phải đưa kháng nghị tới phòng liên lạc nước Mỹ ở Bắc Kinh, cần phải trả lại những con ốc sên này, dây chuyền sản xuất bóng hình màu chúng ta cũng không cần nữa”.

Hôm đó là ngày nghỉ, nên anh chàng viết bức thư “tìm ra được sự sỉ nhục đối với người Trung Quốc” không đi làm. Giang Thanh bèn viết thư cho anh ta, khen ngợi: “Tôi vô cùng khen ngợi tinh thần yêu nước và lòng tự tôn dân tộc của anh, nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của. Mao Chủ tịch và Đảng cộng sản đã đứng lên, quyết không thể chịu sự sỉ nhục của chủ nghĩa đế quốc. Mỹ cần chúng ta, chứ chúng ta không cần họ, càng không thể để họ khinh miệt”.

Đảng ủy Bộ Công nghiệp thấy một áp lực lớn ghê gớm trước những lời lẽ đột ngột bất ngờ đó của Giang Thanh và bức thư Giang Thanh viết cho chàng thanh niên nọ, nên lập tức tổ chức ngay hội nghị. Trong hội nghị Đảng ủy Bộ Công nghiệp cực lực phản đôi hành vi dùng tặng phẩm để “sỉ nhục” người Trung Quốc của phía Mỹ, mạnh mẽ yêu cầu lãnh đạo bộ không cho nhập dây chuyển sản xuất bóng hình màu của Mỹ nữa, đồng thời thông qua con đường ngoại giao, trả lại món quà “ốc sên”, ngay trong hội nghị có người còn phê bình nghiêm khắc tư tưởng hữu khuynh của lãnh đạo bộ vừa không “nắm ngay được sự kiện chính trị nghiêm trọng này”, lại cũng không kịp thời báo cáo với Trung ương.

Tiếp đó, Bộ Thủy lợi - Điện lực, Bộ Bưu điện cũng lần lượt tổ chức tuyên truyền những lời phát biểu của Giang Thanh và bức thư viết cho anh chàng thanh niên nọ. Một nữ công chức ở Bộ Thủy lợi - Điện lực còn dán một tờ báo chữ to, nói rằng người bạn trai của cô ta công tác ở Cục Hàng không năm ngoái tới Mỹ du học cũng đã nhận được món quà là một con ốc sên pha lê. Cô ta yêu cầu lãnh đạo bộ đem trả cho phía Mỹ món quà này. Bộ Bưu điện cũng có người yêu cầu cho kiểm tra toàn bộ những món quà và tư liệu mà người Mỹ đã tặng cho phía Trung Quốc.

Báo chữ to tờ tiếp tờ, những lời khiển trách trong các hội nghị lớn nhỏ đã thành cao trào, ngày càng dâng lên. Sự kiện ốc sên giống như là một quả pháo vô hình lăn khắp kinh thành, càng lăn càng xa, càng lăn càng lớn, dường như là nó lan tới mọi ban ngành ở trung ương, mọi đơn vị trong toàn quốc. Người tinh ý dễ nhận thấy rằng Giang Thanh muốn đưa “sự kiện ốc sên” thành một cửa đột phá trong lĩnh vực ngoại giao, làm ầm ỹ lên rồi gắn với phong trào phê Lâm phê Khổng và chĩa mũi nhọn tới Thủ tướng Chu Ân Lai.

Nhưng Chu Ân Lai lại bình tĩnh điềm đạm trước việc này, hai lần ông chỉ thị cho Bộ Ngoại giao điều tra nghiên cứu làm rõ về món quà tặng trước khi đưa ra quyết định. Qua điều tra đối với các nhân viên trong đoàn khảo sát, đồng thời tra đọc các tài liệu có liên quan, nhân viên Bộ Ngoại giao thấy rằng trong tiếng Anh cũng có cách nói dùng tốc độ của ốc sên để hình dung sự chậm chạp của động tác; thế nhưng từ bảng báo giá các đồ vật lưu niệm bằng pha lê mừng lễ Noel của công ty Canon thấy rằng ốc sên cũng là một trong các sản phẩm quà tặng mừng ngày lễ Noel mà công ty này sản xuất. Đối với người Mỹ, ốc sên còn là loại thực phẩm quý, giàu dinh dưỡng. Ngoài ra, công ty Canon đã có sự tiếp đãi rất thịnh tình hữu hảo đối với đoàn khảo sát Trung Quốc, chưa hề phát hiện thấy có những lời nói cử chỉ thiếu thiện chí nào. Kết quả điều tra được báo cáo với Trung ương. Bộ Ngoại giao căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng, lại thực hiện điều tra thêm về thực tế, cho rằng những vấn đề phát hiện thấy trong các món quà và tư liệu cần phải thực sự cầu thị, vấn đề cụ thể phải có phân tích cụ thể, đề nghị không cần phải trả lại món quà “ốc sên” cũng không được có một biểu hiện gì lớn làm phương hại đến quan hệ Trung - Mỹ.

Sau khi xem báo cáo của Bộ Ngoại giao, Thủ tướng Chu Ân Lai lập tức chỉ thị: “Những phân tích và kiến nghị xử lý mà Bộ Ngoại giao đưa ra là chính xác, đồng ý với báo cáo của Bộ Ngoại giao, trình ngay cho Chủ tịch ký”. Mao Trạch Đông sau khi xem xong, đồng ý với ý kiến của Thủ tướng và Bộ Ngoại giao.

Căn cứ vào phê chuẩn của Chủ tịch, Chu Ân Lai chủ trì hội nghị Bộ chính trị Trung ương, bàn về “sự kiện ốc sên”. Hội nghị quyết định, những lời phát biểu của Giang Thanh ở Bộ Công nghiệp là sai lầm, không được tán phát, không được ban bố, các tài liệu đã tán phát phải thu hồi ngay lập tức. Lúc này, Giang Thanh tím mặt, cúi đầu không nói gì, một cái cớ để chĩa mũi giáo vào Chu Ân Lai lại tuột mất, bà ta chỉ biết lặng lẽ sai người đem những con ốc sên bằng pha lê trả lại cho Bộ Công nghiệp, bức thư của anh chàng thanh niên cũng được hủy bỏ.

Thế là, “sự kiện ốc sên” náo động toàn quốc mà Giang Thanh đạo diễn đã nhanh chóng bị dập tắt.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.