16. Hoàn hồn tái sinh - Phần 01
Hoàn hồn tái sinh
1
Bình thường, ý nghĩa của “hoàn hồn” và tái sinh, sống lại
không có sự khác biệt, chính là muốn nói người đã chết sống lại. Nhưng nếu phân
tích cụ thể thì lại là hai trường hợp khác nhau. Một là người đã chết rồi, hồn
rời khỏi thể xác, còn thể xác cũng không có dấu hiệu sống nữa, lúc này nếu
“hoàn hồn” thì chính là hồi sinh từ cái chết. Còn có một trường hợp nữa, đó
chính là hồn đã rời khỏi xác, nhưng người đó lại chưa chết, ví dụ như chúng ta
thấy trong các cuốn tiểu thuyết thường viết “tim vẫn còn ấm”, lúc này nếu “hoàn
hồn” thì không thể được gọi là sống lại sau khi đã chết. Hai trường hợp này thực
ra chỉ có một chút khác biệt, thể xác kia dù đã chết hay chưa, nhưng một khi
không có linh hồn thì cũng không khác gì người chết cả, vì vậy khái niệm “hoàn
hồn” mà tôi nói tới ở đây bao gồm cả hai trường hợp: người chết hoàn hồn và người
sống hoàn hồn.
Do các tăng lữ của Phật giáo thường dùng những câu chuyện về
hoàn hồn, tái sinh làm phương pháp tuyên truyền của bản giáo, vì vậy, thường
người ta cho rằng khái niệm về hoàn hồn bắt nguồn từ sau khi Phật giáo được du
nhập vào. Thực ra không hoàn toàn như thế. Trong Nhân quả hoàn hồn không bắt
nguồn từ Phật pháp ở quyển hai mươi cuốn Tùy Viên tùy bút do Viên
Mai người đời Thanh viết có đề cập đến trường hợp của gián điệp nước Tần bị nước
Tấn bắt trong Xuân Thu Tả Thị truyện, đem ra chợ giết, sáu ngày sau thì
sống lại, hoặc trường hợp người con gái Triệu Xuân sau khi chết rồi lại hoàn hồn
trong Hán thư. Ngũ hành chí[94], đây đều là những chuyện xảy ra trước
khi Phật giáo lưu truyền vào Trung Quốc. Nhưng nếu chúng ta để ý kỹ hơn một
chút sẽ phát hiện ra tính chất của hai chuyện này hoàn toàn không giống nhau,
và sự khác biệt của nó chính là ở quan hệ với cõi âm, hay nói cách khác thì một
người là sống lại, còn người kia chỉ là sống lại sau khi chết lâm sàng, hoàn
toàn không liên quan gì đến việc hoàn hồn.
Gián điệp nước Tần trong Tả truyện xảy ra vào năm Lỗ
Tuyên Công[95] thứ sáu, nhưng chỉ là bị trọng thương dẫn đến hôn mê, người chưa
chết nên không thể nói là sống lại, cũng không có tình tiết hồn lìa khỏi xác. Tả
truyện đặc biệt ghi chép lại, chỉ vì người này “sáu ngày sau mới sống lại”,
thời gian khá lâu, thậm chí còn được coi là “chuyện lạ”, hoặc có thể gọi đấy là
kỳ tích trong hiện tượng sinh lý của cơ thể con người. Đương nhiên, nói mang ra
chợ giết, giết ở đây không phải chặt đầu, khiến đầu lìa khỏi xác, tôi thường
nghĩ, hình thức tử hình của hậu thế đa phần đều là chém đầu thậm chí còn treo
cái đầu đó lên một cây sào, thị chúng ba ngày cũng chưa chắc không phải không
có ý ngăn người bị chặt đầu sống lại.
[94] Hán thư: một tài liệu lịch sử Trung
Quốc cổ đại viết về giai đoạn lịch sử thời Tây Hán từ năm 206 TCN đến năm 25
CN. Đôi khi sách này cũng được gọi là Tiền
Hán thư để phân biệt với cuốn Hậu
Hán thư. Ngũ hành chí là
quyển bảy trong phần Chí của Hán thư.
[95] Lỗ Tuyên Công: tức
Cơ Nỗi (608-591 TCN), tại vị mười tám năm. Nước Lỗ là tên gọi một quốc gia thời
cổ đại tại Trung Quốc trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc.
Còn Triệu Xuân trong Hán thư. Ngũ hành chí lại là một
trường hợp “hoàn hồn” điển hình. Nguyên văn như sau:
Tháng Hai năm Nguyên Thủy Bình Đế[96] thứ nhất, người con gái tên Triệu Xuân ở phương Bắc bệnh chết,
đã cho vào quan tài được sáu ngày, sau khi ra khỏi quan tài, nói rằng đã gặp
cha chồng đã chết, cha chồng nói rằng: “Năm hai mươi bảy không hợp tuổi để chết.”
[96] Nguyên Thủy Bình
Đế: tức Hán Bình Đế, tên thật Lưu Khản hay Lưu Diễn, là vị hoàng đế thứ mười bốn
của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông ở ngôi từ năm 1 TCN cho đến khi bị
ngoại thích Vương Mãng sát hại năm 5 CN. Trong thời ở ngôi, Hán Bình Đế sử dụng
hai niên hiệu là Nguyên Thọ (năm 1 TCN), đây vốn là niên hiệu của Hán Ai Đế, đến
đây, Hán Bình Đế tiếp tục sử dụng từ tháng Chín đến tháng Mười hai năm 1 TCN và
Nguyên Thủy (1-5).
Triệu Xuân đã được cho vào quan tài sáu ngày rồi lại sống lại,
mặc dù hiếm gặp nhưng cũng không phải không thể xảy ra. Nếu chỉ nhìn tình tiết
đó thì thấy không khác nhiều so với chuyện gián điệp ở nước Tần, nhưng cô ta tự
nói rằng sau khi chết đã gặp người cha chồng quá cố, tình tiết này liên quan tới
âm gian rồi, hồn của cô ta đã xuống âm gian, sự sống lại của cô ta rõ ràng là sự
trở về của linh hồn. Chỉ là có một điểm phải lưu ý, cha chồng của cô ta biết rằng
cô ta chưa thể chết ở tuổi hai mươi bảy, nên bảo cô ta quay về, chi tiết này
không rõ ràng lắm, không giống với những tác dụng của âm phủ được giảng giải kỹ
càng trong các câu chuyện hoàn hồn đời sau, có lẽ khi ấy vẫn chưa có khái niệm
về sổ sinh tử.
Chân tướng của chuyện này không phải điều đáng quan tâm nhất,
mà điều đáng quan tâm là chuyện này đã phản ánh được ý thức về âm gian của con
người thời đó (những năm cuối Tây Hán). Không hề nghi ngờ rằng, khái niệm sống
lại xuất phát từ bản thân người Trung Quốc, câu chuyện của Viên Mai thực ra
cũng xảy ra khá muộn, thuật phù thủy nguyên thủy của Trung Quốc đã có tình tiết
chiêu hồn rồi, đương nhiên khi ấy không có quan niệm “âm phủ” dưới đất, linh hồn
chỉ là phiêu du lang bạt trên không trung mà thôi. Cho dù sau khi Phật giáo được
lưu truyền vào phía đông Trung Quốc, do sự tuyên truyền của nó bị hạn chế rất lớn,
trước thời Tam Quốc, sức ảnh hưởng của nó trong dân gian không nhiều, vì vậy,
đa phần những câu chuyện hoàn hồn sống lại ở thời Đông Hán và Ngụy - Tấn đều
mang tính chất đặc thù của Trung Quốc, không liên quan gì tới Phật giáo.
Đương nhiên, sự “hoàn hồn” của Triệu Xuân cũng có thể được
lý giải là “cái chết giả” trong y học. Chuyện này và chuyện về gián điệp nước Tần
trong Tả truyện trước đó cùng với Tấn thư. Lưu Diệu tái ký[97] sau
này kể về Trương Lô chết được hai mươi bảy ngày, do có kẻ trộm đào trộm mộ mà
được sống lại, đều không trừ một phần sự thật nhất định. Chúng ta có thể lấy
ghi chép Chết đi sống lại trong Tục Hán thư. Ngũ hành chí ngũ:
Năm Hiến Đế [98]Sơ
Bình[99], có một người họ Hoàn ở
Trường Sa chết, cho vào quan tài được gần một tháng, bỗng mẹ anh ta nghe thấy
trong quan tài có tiếng động, phát hiện ra anh ta vẫn còn sống. (Xem trong quyển
sáu cuốn Sưu thần ký do Can Bảo viết.)
[97] Tấn Thư: một trong hai mươi tư cuốn
sách lịch sử Trung Quốc (Nhị thập tứ sử),
do Phòng Huyền Linh và Lý Diên Thọ phụng mệnh vua Đường Thái Tông biên soạn vào
năm 648. Sách kể về các sự kiện bắt đầu từ Tư Mã Ý thời Tam Quốc đến khi Lưu Dụ
phế Tấn Cung Đế lập nhà Lưu Tống năm 420, đồng thời sách còn bổ sung hình thức
“ký tái” (ghi chép), dùng để tường thuật tình hình chính quyền của mười sáu nước.
Lưu Diệu tái ký: nằm trong quyển
ba của phần Tái ký.
[98] Hiến Đế là Hán Hiến
Đế (181 - 21/4/234, tại vị 189 - 25/11/220): tên thật là Lưu Hiệp, tự Bá Hòa, vị
hoàng đế thứ mười bốn của nhà Đông Hán và cuối cùng của nhà Hán trong lịch sử
Trung Quốc.
[99] Sơ Bình: một
trong những niên hiệu mà Hán Đế dùng trong ba mươi hai năm làm vua. Niên hiệu
Sơ Bình từ năm 190-193.
Tháng Hai năm Kiến An thứ tư (199), Khắc huyện phụ Quận
Vũ Lăng tên là Lý Nga, năm nay hơn sáu mươi tuổi, bị bệnh chết được mười bốn
ngày, được chôn cách thành vài dặm, có người qua đường nghe thấy trong mộ có tiếng
nói về mách lại với người nhà. Người nhà đi đến mộ xem xét, quả nhiên nghe thấy
tiếng phát ra từ bên trong, đào lên cứu sống Lý Nga.
Những chuyện kể trên có lẽ đều là một dạng sống lại của trạng
thái chết giả, cho dù thời gian đều là hơn tháng, gần tháng nghe có phần hơi
khoa trương, nhưng miễn cưỡng thì cũng có thể là cho qua được.
Cho dù là mất đi khả năng chân thực, ví dụ như não đã chuyển
nhà đi nơi khác mà vẫn tiếp nhận được sự sống, có thể ăn cơm, sinh con đẻ cái,
nhưng chỉ cần không giống như Triệu Xuân đã liên quan tới tử hồn ở âm giới thì
không phải là chuyện ma, cũng không thể quy vào văn hóa âm phủ, chỉ có thể coi
nó là tin tức xã hội có tính hư cấu. Những lời đồn đại này không liên quan gì tới
việc linh hồn đi về giữa hai thế giới âm và dương, đương nhiên không thể coi là
“hoàn hồn” trong câu chuyện về âm phủ. Còn về việc sau này mọi người cảm thấy
thời gian giả chết ngắn quá không gây được chú ý với người nghe, lập tức thoát
ly khỏi kiến thức thông thường như cuộc thi phóng vệ tinh ở thời kỳ đại nhảy vọt,
bắt đầu hư cấu nhiều hơn, để người sống lại nằm trong mộ tới vài tháng, vài
năm, mười mấy năm, thậm chí hàng trăm năm vẫn có thể bước từ mộ ra, như thế thì
có lẽ quá xa chủ đề rồi. Chúng ta hãy đọc hai truyện được ghi lại trong quyển bảy
của Bác vật chí[100]do Trương Hoa đời Tây Tấn viết:
[100] Bác vật chí: nghĩa là loài vật có chí
lớn.
Cuối đời nhà Hán, quan trung đại loạn, phát hiện ra mộ của
một cung nhân đời Tiền Hán, người cung nhân này vẫn còn sống, lập tức ra ngoài,
lại như bình thường. Ngụy Quách Hậu yêu mến, cho nạp vào cung, ở bên hầu hạ sớm
tối. Hỏi về những chuyện xảy ra trong cung thời Hán, người đó đều kể vanh vách,
rất có trật tự. Sau Quách Hậu biết, khóc lóc rất thảm, rồi chết.
Cuối đời nhà Hán phát hiện ra mộ của Phạm Minh Hữu, người
vẫn còn sống (Phạm Minh Hữu là con rể của Hoắc Quang[101]), nói về chuyện nhà Quang, chuyện truất ngôi, giống hệt như
những gì được ghi lại trong “Hán thư”. Tên này thường đi khắp nhân gian, không
dừng lại ở đâu, không biết sống ở đâu. Hỏi thăm về người này, đáng tin nhưng
chưa ai gặp bao giờ.
[101] Hoắc Quang: tự Tử
Mạnh, một nhà chính trị thời Tây Hán, làm quan dưới triều Hán Vũ Đế và là phụ
chính đại thần thời Hán Chiêu Đế, Xương Ấp Vương và Hán Tuyên Đế.
Hai câu chuyện trên đều là những người chết bị chôn dưới mộ
hàng trăm năm mà vẫn “còn sống”, nhưng chúng cũng chỉ giống như tường thuật lại
“sự việc” trong các mẩu tin tức xã hội, chứ không nói gì đến âm phủ, quỷ thần.
Từ điểm này có thể thấy, chúng thậm chí còn đơn giản hơn cả chuyện về Triệu
Xuân được viết trong Hán thư. Ngũ hành chí từ mấy trăm năm trước, không
có một chút thông tin nào về thế giới âm phủ. Quách Hoàng hậu chỉ biết hỏi người
sống lại kia chuyện trong cung thời nhà Hán hoặc chuyện nhà Hoắc Quang, chứ
hoàn toàn không hỏi tới chuyện xảy ra ở âm phủ, dường như hoàn toàn ngược lại với
chuyện Hán Văn Đế nói: “Không hỏi chúng sinh, hỏi quỷ thần.” Mặc dù tác giả của
câu chuyện cố ý đề cập tới điểm này chỉ vì muốn chứng minh người sống lại là
người chết từ mấy trăm năm trước, còn mọi người cũng chỉ coi nó như một hiện tượng
tự nhiên, rất hiếm gặp mà thôi.
Nhưng cũng chưa chắc đã là như thế. Những chuyện kỳ lạ này mặc
dù không đề cập tới vấn đề “quỷ”, song một khi đã khiến đám Nho sinh ưa bàn
chuyện lớn lao về ngũ hành chú ý, thì họ sẽ nghĩ cách để liên hệ những câu chuyện
trên với tình tiết “ý trời”, tức là những chuyện này cũng giống như hiện tượng
nhật thực, sao chổi, động đất... vậy, đều mang ý dự báo một “tai dịch” [102]nào
đó trong biến cố chính trị, trở thành lời “thị cáo” của ông trời đối với chúng
sinh. Ví dụ như chuyện Triệu Xuân sống lại, những thứ mà họ quan tâm hoàn toàn
không phải việc Triệu Xuân đã ở địa ngục và có giao tiếp với linh hồn người chết,
mà là bản thân việc sống lại này đã là một chuyện kỳ quái, muốn qua đó “đưa ra
dự báo trước việc con người sẽ phạm phải”, ý của họ là chuyện này báo trước việc
Đại tư mã Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Gia tộc ngoại thích Vương thị đã bị lật
đổ thời Hán Ái Đế, không còn hy vọng lấy lại giang sơn nữa, nhưng đang trị vì
thì Hán Ái Đế bệnh chết, Vương Mãng lập nên kỳ tích chỉ trong vòng một đêm mà
khôi phục lại địa vị, chuyện này dường như có liên quan đến việc Triệu Thị chết
rồi lại sống lại.
Những Nho sinh này hoàn toàn không dựa vào điềm báo gì, chỉ
là liên hệ, kết nối những chuyện xảy ra trong thời gian gần nhất với những “tai
dị” lại với nhau, chứ không luận để so sánh, trên lập trường thuận nghịch cũng
chẳng có gì chuẩn xác. Ví dụ, cuối thời Tam Quốc, Ngô Tôn Hưu[103] vào năm Vĩnh
An thứ tư, An Ngô Minh Trần chết được bảy ngày lại sống lại, đội mồ mà lên, Can
Bảo nói đây là ám thị việc Ô trình Hầu Tôn Hạo[104] “được lên ngôi”, còn vào
năm Hàm Ninh thứ hai Tấn Vũ Đế[105], Lang Gia Nhân bệnh chết lại nói là giai đoạn
Ngũ Hồ loạn Hoa[106] là lúc Lưu Uyên, Thạch Lặc phản lại nhà Tấn.
[102] Tai dị: có nghĩa
là tai ương và biến cố
[103] Ngô Tôn Hưu: Tôn
Hưu (235 - 3/9/264), tự là Tử Liệt, sau này trở Ngô Cảnh hoàng đế, vị quân
vương thứ ba của nhà Đông Ngô trong thời kỳ Tam Quốc. Năm Vĩnh An (258-264) là
niên hiệu khi Ngô Tôn Hưu trị vì.
[104] Hầu Tôn Hạo
(242-284), hay Đông Ngô Mạt đế là vua thứ tư và là cuối cùng của nhà Đông Ngô
thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông có tự là Nguyên Tông, tên gốc là
Tôn Bành Tổ. Tôn Hạo là cháu của Tôn Hưu. Khi Tôn Hưu lên ngôi thì Hạo được
phong làm Ô trình hầu. Về sau, Tôn Hưu mất, các quan Đông Ngô cho Hạo là người
sáng suốt nên đã lập lên làm vua.
[105] Tấn Vũ Đế: tên
thật là Tư Mã Viêm, tên tự là An Thế (236-17 tháng 5 năm 290), là hoàng đế đầu
tiên của nhà Tây Tấn (265-316) trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người có công
thống nhất Trung Hoa, chấm dứt thời chia cắt Tam Quốc. Hàm Ninh là một trong những
niên hiệu của Tấn Vũ Đế, từ năm 7-280.
[106] Giai đoạn Ngũ Hồ
loạn Hoa: (năm dân tộc Hồ làm loạn Trung Hoa) Ngũ Hồ tính năm tộc: Hung Nô (Lưu
Uyên - Hán Triệu), Yết (Thạch Lặc - Hậu Triệu), Tiên Ti (Mộ Dung - các nước
Yên, trừ Bắc Yên), Đê (Phù Kiên - Tiền Tần, Lý Đặc - Thành Hán), Khương (Diêu
Trường - nước Hậu Tần). Một thuật ngữ ít được sử dụng hơn là giai đoạn thập lục
quốc để miêu tả thời kỳ hỗn loạn này từ năm 304 đến 439.
Những chuyện này dường như không liên quan gì tới những câu
chuyện về địa phủ mà chúng ta muốn bàn tới, vì vậy nói tới những chuyện đó, chỉ
vì muốn chỉ ra rằng, trong mắt Nho sinh của Trung Quốc, những câu chuyện về hiện
tượng sống lại này nếu có thể kích thích chút gì đó trí tưởng tượng của họ, thì
cũng không phát triển theo hướng nghĩ về thế giới dưới âm phủ, mà điều họ quan
tâm hơn cả là ý trời và những liên tưởng về con người, sự vật.
Trong quyển năm của Ngũ tạp trở do Tạ Triệu Chiết người
đời Minh đã từng nói rằng, cuối thời nhà Hán và thời Ngụy Tấn có rất nhiều những
câu chuyện về việc đội mồ sống lại, và được ghi chép trong chính sử Ngũ hành
chí, điều đáng ngạc nhiên nhất là, thời Ngụy Minh Đế, khi khai quật mộ lên,
cô gái chôn trong đó còn sống, tính toán thì đã chôn được khoảng năm, sáu trăm
năm rồi. Nhưng ông lại nói: Kỳ lạ là, vào cuối thời Đường “Ôn Thao, Hoàng Sào
đào xới phần mộ khắp thiên hạ, mà chưa từng nghe nói chuyện lạ nào xảy ra.”
Những câu chuyện về việc đội mồ sống lại đa phần xảy ra vào
cuối đời Hán, đầu đời Ngụy - Tấn, hiện tượng này đáng để chúng ta phải suy ngẫm.
2
Từ thờ Hán - Ngụy tới nay, văn hóa u minh của Trung Quốc
đang xảy ra những biến đổi lớn trong dân gian. Nói chuyện người chết sống lại
mà không thăm dò tình hình của người đó khi còn ở âm giới là không hợp với lẽ
thường. Vấn đề này được đề cập hơi muộn bởi Can Bảo, trong quyển mười lăm của Sưu
thần ký, Can Bảo đã tường thuật lại một câu chuyện được lưu truyền từ trước
đó khá lâu, như sau: Thời Tào - Ngụy, có người đi đào mộ phá áo quan, phát hiện
ra người phụ nữ trong quan tài diện mạo tươi tỉnh như người sống, bèn dựng dậy
hỏi chuyện, đúng là một người sống thật, liền đưa chị ta vào kinh sư. Nhưng hỏi
chị ta chuyện sau khi chết, chị ta không hề biết gì. Chỉ nhìn tấm bia gỗ trên mộ,
chị ta có lẽ chết được hơn ba mươi năm rồi. Sau đó Can Bảo có đặt câu hỏi thế
này:
Không biết người phụ nữ này có phải đã sống ba mươi năm
trong lòng đất hay không? Hay là vừa sống lại đúng lúc có người tới đào mộ?”
Câu hỏi này có lẽ sẽ khiến những người ở thời hiện đại cảm
thấy rất mông lung, nhưng thực ra hoàn toàn không đơn giản như những gì chúng
ta nhìn thấy. Đối với câu hỏi này, Can Bảo cũng đưa ra câu trả lời, câu trả lời
mời xem trong Tấn thư. Can Bảo truyện, chính là câu chuyện về người thiếp
của cha Can Bảo mà tôi đã từng nói tới.
Cha Can Bảo sinh thời có một người thiếp yêu, mẹ ông đem
lòng ghen tuông, khi cha Can Bảo mất, bèn chôn sống người thiếp đó vào trong mộ
với ông. Anh em Can Bảo khi ấy tuổi còn nhỏ, không thể khuyên can. Hơn mười năm
sau, mẹ Can Bảo mất, đào mộ lên, thấy người thiếp kia đẩy nắp quan tài mà dậy,
vẫn còn sống. Nói rằng vẫn thường ăn uống qua lại với cha Can Bảo, tình cảm nồng
thắm như khi còn sống. Sau đó xuất giá lấy chồng, sinh con.
Người tiện thiếp bị chôn sống cùng cha Can Bảo, lại có thể ở
trong trạng thái giữa sự sống và cái chết, bà ta là người sống, nhưng hơn mười
năm trời lại “sống” dưới mộ, bà ta vẫn có thể sống cùng với vong linh của cha
Can Bảo. Tất cả mọi thứ diễn ra dưới âm phủ trong mắt bà ta không khác gì trên
trần gian, và không cảm thấy có gì là không thích ứng được. Chỉ hồn ma mới có
thể trải nghiệm được điều đó. Thứ mà bà ta ăn là thực phẩm của con người, vì vậy
mới có thể duy trì sự sống, nhưng lại có thể tiếp xúc được với linh khí của hồn
ma, vì vậy mới có thể biết trước được hung cát giống như ma.
Mặc dù đường đường là quyển chính sử, nhưng những câu chuyện
kỳ dị mà Tấn thư ghi chép lại vẫn có thể không đáng tin. Có điều bây giờ
chúng ta không đi truy cứu xem có đúng là chuyện ấy xảy ra với nhà Can Bảo hay
không, mà là xem con người thời ấy đã bày tỏ quan niệm của mình về thế giới u
minh như thế nào trước thân nhân hư cấu của Can Bảo. Trong chương mười lăm của Sưu
thần ký còn có một câu chuyện tương tự nữa: “Đời nhà Tấn có một tiện tì bị
chôn nhầm không ra được. Hơn mười năm sau, đào mộ mở quan, người tiện tì đó vẫn
sống. Nói rằng: “Như vừa nhắm mắt, cảm giác nghiêng dần.” Hỏi ra mới biết, cảm
giác của người đó chỉ như vừa mới ngủ một giấc dậy mà thôi. Khi bị chôn, mới mười
lăm, mười sáu tuổi. Sau đào mộ lên, tư chất vẫn như cũ. Sống lại năm mười lăm,
mười sáu tuổi, lấy chồng, sinh con.” Tôi cảm thấy mấy câu chuyện này đều xuất
phát từ một vấn đề chính. Nhưng hậu thế vẫn có những câu chuyện tương tự, ví dụ
như trong quyển 375 của Thái bình quảng ký dẫn lời Thôi Hàm sau khi chết
sống lại trong Tháp tự ký, Vân Thôi Hàm nói rằng: “Ở dưới đất hai mươi
năm. Như người ngủ say, không cần ăn uống. Thỉnh thoảng du hành, hoặc gặp đồ
ăn, giống như trong mơ, vẫn phân biệt được.” Còn dẫn lời của Lý Trung trong Kinh
thính lục làm nô tì dưới đất ba năm, sau khi sống lại nói rằng “giống như vừa
ngủ một giấc.”
Đây là quan nhiệm về u minh hoàn toàn không có chút liên
quan gì tới Phật giáo, nó là sản vật đậm chất quê hương của Trung Quốc. Quan niệm
về hai thế giới âm dương của lớp người này có thể kéo dài tới tận hậu thế, trở
thành tư tưởng cơ sở cho rất nhiều những câu chuyện ma, đặc biệt là những câu
chuyện về tình yêu giữa người sống và ma quỷ của Trung Quốc, cho tới cả những
tiểu thuyết kỳ quái đời Minh - Thanh, ví dụ như Liêu trai, có thể còn
tìm thấy rất nhiều ví dụ chứng minh nữa, có điều một người sống với nhục thể đầy
đủ thì thời gian ở dưới âm giới không dài mà thôi. Ví dụ một đoạn khá quen thuộc
với độc giả trong Ngũ Thu Nguyệt dưới đây: “Vương Đỉnh và người tình Ngũ
Thu Nguyệt tản bộ trong viện đình vào một đêm trăng sáng, Vương Đỉnh hỏi Thu
Nguyệt: “Dưới âm phủ có thành quách không?” Thu Nguyệt đáp: “Giống hệt dương thế,
có thành quách. Nhưng thành quách dưới âm phủ không phải ở đây, mà cách đây khoảng
ba, bốn dặm nữa, có điều lấy đêm làm ngày.” Vương Đỉnh muốn tới đó xem, Thu
Nguyệt đồng ý, thế là:
Nhân lúc đêm trăng họ cùng đi, nàng lướt như gió, chàng vội
vàng đuổi theo, chẳng mấy chốc đến một nơi, nàng nói: “Không còn xa nữa.” Vương
cố nhướn mắt nhưng không thấy gì, cô gái lấy nước bọt bôi lên mắt chàng, mở ra
lại nhìn thấy như bình thường, nhìn ban đêm rõ không khác gì ban ngày, chợt thấy
một bức tường ẩn hiện trong đám sương mù xa xa, người đi trên đường tấp nập như
đi chợ.”
Rất rõ ràng, Vương Đỉnh đi xuống âm giới với thân phận của một
người còn sống, anh ta không thể bay lượn nhẹ nhàng như linh hồn, mà mắt của
người sống cũng không thể nhìn thấy những thứ dưới âm giới. Khi anh ta mang
theo vong hồn của người anh trai Vương Nại đưa về dương thế, hồn của Vương Nại
lập tức tương hợp với thi thể mình, còn Vương Đỉnh lại không có trình tự ấy.

