Angiêlic và tình yêu, chương 26 cont
Lão Manigô vốn cục tính đỏ mặt lên vì câu chửi thề.
- Kế hoạch kẻ cướp á! Tôi thấy ông đảo ngược vai trò rồi đấy.
- Này! Vậy nên gọi hành động dùng vũ lực chiếm đoạt của cải của người khác, như tàu của tôi đây, là gì?
- Một con tàu ông đã đánh cắp của người khác. Ông sống bằng cướp bóc…
- Ngài thật hàm hồ trong nhận xét, các ngài Tân giáo ạ. Các ngài hãy đến Bôxton. Các ngài sẽ biết là tàu Gunxbôrô đã được đóng theo bản thiết kế của tôi và được trả bằng tiền vàng hẳn hoi.
- Vậy thì những đồng tiền vàng ấy, nguồn gốc cũng khả nghi lắm, tôi cam đoan như thế đấy!
- Ai có thể khoe khoang rằng những đồng tiền vàng trong túi mình là những đồng tiền vàng trong sạch cơ chứ. Cả ông nữa, thưa ông Manigô, của cải mà tổ tiên ngoan đạo của ông, dù là cướp biển hay thương gia ở La Rôsen để lại cho ông chẳng phải là đã thấm bao mồ hôi nước mắt của hàng nghìn nô lệ da đen ông đã mua trên bờ biển Ghinê để rồi đem bán lại ở châu Mỹ đó sao?
Đứng tựa lan can, miệng vẫn mỉm cười, chàng nói chuyện như trong phòng khách, chứ chẳng phải trước những họng súng đang lăm lăm định hạ sát mình.
- Có liên quan gì? Manigô sửng sốt nói – Tôi đâu có phát minh ra nghề buôn bán nô lệ. Hơn nữa châu Mỹ cần nô lệ thì tôi cung cấp. Thế thôi.
Đờ Perắc đột nhiên phá lên cười vui vẻ thỏa mãn tới mức Angielic phải bị tai. Nàng muốn nhảy bổ tới vì chắc chắn Manigô sẽ đáp lại sự khiêu khích đến như thế bằng một phát súng ngắn. Nhưng chẳng xảy ra chuyện gì hết. Đám người Tin lành như bị chàng thôi miên. Angielic cảm thấy như có một luồng điện toát một thứ quyền lực vô hình, chàng làm cho họ mất cảm giác về không gian và thời gian họ đang sống.
- Ôi lương tâm vô cùng tận của những người chính trực! - Chàng vừa nói vừa hít thở, - có ai còn mảy may nghi ngờ lý do chính đáng của hành vi con người khi người đó tin chắc mình đã nắm được chân lý? Nhưng hãy cho qua chuyện ấy đi – chàng nói với cử chỉ của một đại lãnh chúa ung dung và khinh thị. – chính lương tâm ngay thẳng làm cho hành động trong sáng. Tuy nhiên, nếu như ông hành động không phải là để cướp bóc thì ông đưa ra động cơ gì để biện bạch cho ý muốn cướp sạch tài sản của tôi và cả tính mạng của tôi?
- Ông dự định không đưa chúng tôi đến đích của chuyến đi là Xanh – Đômanhgơ.
Rescartor im lặng. Đôi mắt đen láy, sáng rực của chàng không rời khỏi khuôn mặt lão chủ tàu. Hai người mặt đối mặt. Thắng lợi sẽ thuộc về người nào có thể làm cho người kia phải cụp mắt xuống.
- Thế là ông không còn chối cãi được nữa – Manigô nói tiếp, vẻ đắc thắng – May mà chúng tôi đã biết tỏng ý đồ của ông. Ông muốn đem bán chúng tôi chứ gì!
- Hừ! buôn bán nô lệ chẳng phải là một cách tốt và lương thiện để hốt bạc đó sao? Nhưng ông nhầm rồi. Tôi chưa hề bao giờ có ý định đem bán các ông cả. Tôi chẳng quan tâm đến việc đó. Tôi không biết các ông có những gì ở Xanh – Đômanhgiơ, nhưng những gì mà tôi có, còn nhiều hơn tất cả của cải trên hòn đảo tí hon đó; và giá tôi có lợi dụng được cái thân xác chẳng lấy gì làm đẹp đẽ của những người Tân giáo các ông, thì cũng chẳng vì vậy mà tôi giàu có thêm và cũng không phải vì thế mà chăm lo cho các ông và gia đình các ông để thêm phiền phức đâu. Tôi sẵn sàng các thêm tiền để rũ khỏi các ông – chàng nói tiếp với nụ cười ngọt ngào – ông phóng đại cái giá trị hàng hóa của các ông lên đấy, ông Manigô ạ, mặc dù ông là người lái buôn thịt người có kinh nghiệm.
- À! Đủ rồi đấy – Manigô giận điên người kêu lên – chúng tôi để cho ông nói đã là quá tốt rồi. Sự láo xược của ông không cứu nổi ông đâu. Chúng tôi bảo vệ sự sống còn của chúng tôi mà ông đã từng nắm trong tay. Điều ác mà ông gây ra với chúng tôi…
- Điều ác gì?...
Bá tước đờ Perắc đứng thẳng người hai tay khoanh trước ngực dữ dằn nhìn hết người này người khác từ đầu đến chân và trước ánh mắt sáng quắc của chàng họ đứng lặng câm.
- Điều ác mà tôi gây nên cho các ông có lớn hơn điều ác mà bọn long kỵ binh của Nhà vua muốn trút lên đầu các ông khi chúng phi nước đại gươm tuốt trần, đuổi theo các ông không? Trí nhớ các ông quá xoàng, các ông ạ, nếu không phải là nó phản bội các ông…
Rồi chàng lại cười:
- Ồ! Đừng nhìn tôi với những tròng mắt ngơ ngác kia như thể tôi chẳng hiểu các ông nghĩ những gì. Nhưng tôi hiểu rõ, ồ, tôi hiểu! Điều ác thật sự mà tôi đã làm đối với các ông, tôi biết lắm. Tôi đã đem các ông tới trước mặt những người chẳng giống các ông, những người mà các ông cho là ác nhưng đã làm điều thiện cho các ông. Con người bao giờ cũng sợ cái mà người ta không hiểu. Những người Morơ trên tàu của tôi là những người dị giáo, kẻ thù của chúa Giêsu, là những người Địa Trung Hải trụy lạc, là những người làm nghề biển cục cằn và báng bổ: thế nhưng họ đã tự nguyện chia sẻ cho các ông khẩu phần bánh qui của họ, nhường cho con cái các ông rau tươi để giúp chúng chống lại bệnh hoại huyết. Dưới hầm tàu, có hai người bị thương ở La Rôsen. Nhưng các ông không thể có một chút tình hữu ái nào đối với họ vì theo các ông thì họ là những người “xấu”. Cùng lắm thì các ông cũng chỉ dùng họ làm những kẻ đồng mưu, như khi các ông thương lượng với những người Ả rập buôn bán nô lệ da đen chúng cướp được trên các vùng cao châu Phi mà tôi chứ không phải ông biết khá kỹ càng. Tôi cho qua.
- Ông còn xỉ vả tôi với đám nô lệ nữa hay thôi đấy? – Lão chủ tàu giận dữ hỏi, - Đúng là ông lên án tôi đã phạm tội ác. Những đứa vô thần man rợ thì có nên lôi chúng ra khỏi những thần tượng tội lỗi của chúng để làm cho chúng biết Thượng đế chân chính và niềm vinh quang của lao động hay không?
Giôphrây đờ Perắc ngạc nhiên. Chàng đưa tay lên sờ cằm và lắc đầu, vẻ suy tưởng.
- Tôi công nhận có thể bảo vệ quan điểm của ông, mặc dù phải là một bộ óc…tôn giáo sâu sắc mới có thể hiểu được. nhưng quan điểm đó làm tôi kinh tởm. Có thể là vì trước đây, tôi cũng vậy, đã từng đeo xiềng xích.
Chàng lật ống tay áo đăng ten lên và chìa hai cổ tay nâu sạm trên đó còn lưu lại những vết sẹo sâu nhợt nhạt.
Phải chăng chàng lầm lẫn? Đám người Tin lành nghe chàng nói, giật mình hoang mang và trên mặt họ - chính bản thân tôi và đoàn thủy thủ của tôi trên con tàu này, hầu hết đều đã bị xiềng xích. Vì vậy mà chúng tôi không thích những người buôn bán nô lệ như ông.
- Thằng tù khổ sai! – Manigô quát lên – Thế mà ngươi còn muốn chúng ta tin và tin bọn bạn tù khổ sai của ngươi.
- Bị tòa án Nhà vua cầm tù ở thế kỷ chúng ta có phải là điều xấu xa không thưa ông? Trước đây, tôi có những người bạn tù ở nhà lao Macxay mà tội ác duy nhất là đã theo Tôn giáo, như người ta thường nói trong vương quốc Pháp mà các ông đã bỏ trốn…
- Đấy là chuyện khác. Họ chịu khổ đau vì tín ngưỡng.
- Vậy ông có quyền gì xét xử mà không cần biết là niềm đam mê nào khác tôi phải chịu đựng những bản án bất công?
Manigô cười ha hả vẻ châm chọc cay độc.
- Chỉ ít nữa, Đức ông lại làm cho chúng tôi tin là trong nhà tù Macxay và trên ghế bị cáo của Nhà vua đầy rẫy những người vô tội, chứ không phải là bọn giết người, cướp của và bọn cường đạo chứ gì.
- Biết đâu đấy? chẳng thiếu gì đâu nếu theo chuẩn mực của cái thế giới cũ suy đồi. Than ôi “Có một nỗi đau mà tôi đã thấy dưới ánh sáng mặt trời như là một lỗi lầm của người cai trị: sự điên rồ chiếm những vị trí rất cao và những người giàu có bị đặt xuống địa vị thấp hèn. Tôi đã từng thấy những tên nô lệ ngồi trên lưng ngựa và những hoàng tử đi chân đất như những kẻ nô lệ” Tôi dẫn Thánh kinh đấy, các ông ạ.
Chàng giơ một ngón tay kiên quyết, hầu như tiên tri lên và lúc đó, Angielic đã hiểu.
Chàng tìm cách đánh lừa. Trong cuộc đối thoại kỳ quặc này chàng không hề biện bạch với đối phương, thuyết phục họ “hối cải” theo quan điểm của chàng với hy vọng hão huyền làm cho họ nhận ra sai lầm. Chính bản thân Angielic cũng biết là vô ích và vì thế nàng hết sức lo lắng theo dõi những lời lẽ trao đổi giữa hai bên mà nàng thấy hầu như không đúng chỗ trong lúc này. Bỗng nhiên nàng khám phá ra mưu mẹo của chàng. Biết là đám người Tin lành rất sính những cuộc tranh luận kinh viện, chàng đưa họ vào một cuộc thảo luận về tín ngưỡng, dùng những lý lẽ gian trá và đặt những câu hỏi kỳ quặc để thu hút sự chú ý của họ.
“Anh ấy tìm cách tranh thủ thời gian – nàng tự nhủ - nhưng anh ấy có thể hy vọng gì? Chờ đợi gì? Những người trung thành trong đoàn thủy thủ đều đã bị nhốt dưới hầm tàu và những người tìm cách thoát ra đều bị bắn không thương tiếc”.
Một phát súng trường vang lên dướ hầm tàu, như đáp lại ý nghĩ của nàng và nàng đau đớn giật mình.
Tình cảm nồng nàn đối với Angielic day dứt trong lòng Bécnơ khiến trực giác của lão càng thêm mạnh mẽ, liệu có làm cho lão linh cảm được những gì nàng đang suy nghĩ hay không?
- Hỡi các bạn – Lão kêu lên – Hãy coi chừng! kẻ quỷ quái này đang tìm cách ru ngủ lòng ngờ vực của chúng ta. Hắn mong bạn bè đến cứu và định dùng lời lẽ để trì hoãn bản cáo trạng của chúng ta.
Họ tiến lại gần Rescartor và vây chặt lấy chàng. Nhưng không một ai dám đưa tay ra để bắn giữ và trói tay chàng.
- Đừng có tìm cách lừa dối chúng tôi nữa – Manigô dọa dẫm – Ông hết đường hy vọng rồi. Những người của chúng tôi mà ông tuyển vào đoàn thủy thủ đã cung cấp cho chúng tôi một bản sơ đồ tỉ mỉ của con thuyền và chính bản thân ông Bécnơ – ông hãy nhớ lại đi – bị ông xích chân xích tay, đã nhận ra được là cái phòng ông ta bị giam, thông gió bằng một cái hầm tàu người ta thả dây neo trong đó. Qua hầm tàu mà chúng tôi giữ cửa ra vào ấy, chúng tôi có thể đi vào kho thuốc súng và kho đại bác. Nếu cần, chúng ta sẽ đánh nhau trong hầm tàu, nhưng chúng tôi đã nắm trọn kho dự trữ đạn dược rồi.
- Xin tỏ lời khen ngợi!
Chàng giữ tư thế một đại lãnh chúa và giọng mỉa mai hầu như không che giấu làm họ bực tức và lo lắng.
- Tôi công nhận trong lúc này các ông là người mạnh nhất. Tôi nhấn mạnh “trong lúc này” vì dù sao thì tôi cũng có năm mươi người dưới chân tôi đây.
Chàng dùng ủng dẫm mạnh xuống sàn tàu.
- Ông tưởng là sau phút bất ngờ đầu tiên, họ sẽ ngoan ngoãn chờ ông hết ngày này đến ngày khác để ông mở cửa lồng sắt cho họ ra ư?
- Nếu họ biết là họ không còn thuyền trưởng để mà phục vụ hay để sợ hãi nữa – Gabrien Bécnơ nói, giọng lúng túng – thì có thể phần lớn bọn họ sẽ đi với chúng tôi. Những người khác, những người sẽ vĩnh viễn trung thành với ông…thì mặc xác chúng!
Angielic ghét lão chỉ vì câu nói này.
Gabrien Bécnơ muốn Giôphrây đờ Perắc phải chết. Nhưng chàng chẳng tỏ vẻ xúc động.
- Vì thưa các ông, các ông chớ quên rằng muốn đi từ đây đến các hải đảo châu Mỹ, các ông ít nhất cũng phải mất hai tuần lễ vượt biển đầy khó khăn.
- Chúng tôi chẳng dại gì mà đi thẳng một mạch, không dừng – Manigô nói, điên tiết lên vì cái giọng kẻ cả của địch thủ và không thể nào kìm giữ nổi không nói ra ý đồ của mình, - Chúng tôi sẽ tiến về bờ biển và trong vòng hai ngày, chúng tôi sẽ đến Xacô hay Bôxtôn…
- Nếu như dòng xoáy Phlôriđơ cho phép.
- Dòng xoáy Phlôriđơ nào? Trong lúc đó, Angielic nhìn về hướng tầng thượng trước mũi tàu và bị thu hút vì một hiện tượng đáng lo ngại, nàng không chú ý theo dõi cuộc đối thoại. Lúc nãy nàng thấy hình như sương mù dày đặc lên ở phía đó, nhưng bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Không phải sương mù mà là khói. Nàng không thể phân biệt từ đâu những cuộn khói dày đặc tản ra, phủ kín cảnh tượng ngổn ngang trên boong tàu bị sóng đánh vỡ. Đột nhiên, nàng kêu lên một tiếng. Nàng chỉ tay vào cửa khoang boong, nơi đàn bà trẻ con đang ở trong đó và khói trắng đang từ từ thoát ra. Qua các khe hở từ những thanh ván sàn khép kín boong tàu, cũng có những cuộn khói đáng sợ như thế bốc lên cao, cuốn xoắn lại. Chính là dưới ấy, ở phía dưới ấy, ở phía trong đó đã nổ ra đám cháy.
- Cháy! Cháy!
Họ nghe tiếng kêu và nhìn về hướng tay chỉ
- Cháy trong kho chứa…các ông đã cho di chuyển các bà vợ đi nơi khác chưa?
- Chưa – Manigô nói – Chúng tôi dặn họ ngồi im trong khi chúng tôi hành động. Nhưng nếu xảy ra hỏa hoạn…tại sao họ không chạy ra?
Lão gân cổ ra gào.
- Chạy ra! Chạy ra …cháy đấy.
- Có khi nào họ bị chết ngạt rồi – Bécnơ nói.
Rồi lão lao đi, Mécxơlô chạy theo.
Không ai chú ý đến người tù nữa. Chàng nhảy đi, lẹ như một con cọp. Bỗng cất lên một tiếng rên bị nén lại trong cổ họng. Người thủy thủ Tây Ban Nha đứng gác trước cửa phòng Rescartor lăn ra, cổ họng hắn bị đâm một mũi dao găm chàng vừa rút từ trong ủng ra.
Khi quay lại, bọn Bécnơ còn trông thấy cái xác chết nằm sóng sượt. Rescartor đã nấp vào trong phòng, ngoài tầm tay của bọn họ. Chàng hẳn đã có vũ khí trong tay và buộc chàng ra khỏi nơi này chẳng phải là chuyện dễ.
Manigô nắm chặt tay, lão hiểu ra là đã bị đánh lừa.
- Tên khốn khiếp! Hãy đợi đây. Hai người trong bọn các anh ở lại đây – Lão ra lệnh cho những người thủy thủ mang vũ khí vừa chạy tới – Chúng tôi phải chạy xuống chỗ bị cháy và sẽ tính chuyện với hắn sau. Hãy canh chừng cửa và đừng để hắn thoát ra ngoài.
Angielic không nghe những lời sau cùng này. Nghĩ là Ônôrin đang ở giữa lò lửa, nàng nhảy bổ đến chỗ con tàu đang bị ngọn lửa đe dọa.
Chỉ cách hai bước, không còn trông thấy gì nữa. Trước cửa ra vào, Bécnơ và Mécxơlô ho khúc khắc vì nghẹt thở, cố hết sức phá cửa.
- Có thanh sắt chốt phía trong.
Họ dùng rìu phá tung cánh cửa.
Những bóng người loạng choạng xuất hiện, tay bưng lấy mắt. Những cơn ho, tiếng hắt hơi, tiếng kêu, tiếng khóc vang lên từ trong đám mây mờ đục. Angielic mò mẫm như người mù, vấp phải những sinh linh vô hình đang giãy giụa trong cơn ác mộng. Có những bàn tay túm chặt lấy nàng. Nàng nhấc mấy đứa trẻ ngã xỉu dưới sàn lên và lôi chúng ra ngoài. Bất giác nàng thấy mình không hề ngửi thấy mùi khói. Chỉ có mắt cay xè vì ngứa ở cổ họng, ngoài ra không có gì khó chịu lắm. Không sợ bị ngất nữa, nàng trở lại căn hầm dày đặc sương mù để tìm Ônôrin. Tiếng người ngột ngạt bắt đầu í ới gọi nhau.
- Xara! Gieni! Ở đâu đấy?
- Chị đấy ư?
- Có làm sao không?
- Không, nhưng cửa ra vào cũng như cửa sổ, không mở được.
- Tôi đau cổ họng.
- Bécnơ, Care, Đari lại đây. Phải tìm cho ra nơi gây hỏa hoạn.
- Nhưng …không hề thấy có hỏa hoạn!
Bỗng Angielic nhớ lại cái đêm Canđi bốc cháy. Con tàu của Rescartor trôi dạt trong một lớp khói màu vàng nhạt. Savary kêu lên:
- Đám mây là là trên mặt nước kia là cái gì vậy?... Là cái gì vậy?
Bò lê dưới sàn, Angielic sờ soạng tìm Ônôrin. Nỗi kinh hoàng của nàng dịu xuống. Không có khói, không có ngọn lửa. Chắc hẳn lại một âm mưu của Rescartor, chồng nàng, vị bá tước thông thái mà những thí nghiệm khoa học của chàng đã làm dấy lên khắp nơi những nỗi ngờ vực và khiếp sợ.
- Mở cửa sổ thành tàu ra – có người lên tiếng.
Những nắm tay mạnh mẽ hưởng ứng. Nhưng mặc dù có không khí mới lọt vào, lớp sương mù kỳ lạ cũng chỉ tản đi một cách chậm chạp: nó dính chặt vào đồ đạc và vách tàu.
Cuối cùng Angielic nhận ra khẩu đại bác cạnh chỗ nàng nằm và chiếc võng của Ônôrin. Võng bỏ không. Nàng tìm kiếm quanh mình, đụng phải một người đàn bà hai tay úp lên mặt và cố đi tìm một ô cửa để thở.
- Abighen! Cô có biết con gái tôi ở đâu không?
Abighen ho một tràng dài. Angielic dìu cô ta ra phía sau cửa sổ.
- Không sao đâu. Chắc chẳng có gì nguy hiểm đâu. Chỉ khó chịu tí chút thôi.
Lấy lại hơi thở, cô gái bảo nàng là cô cũng đang đi tìm Ônôrin.
- Tôi nghĩ là anh thủy thủ người đảo Xixin trông giữ cháu đã đem nó đi trước khi khói tuôn vào hầm tàu. Từ xa xôi tôi trông thấy anh đứng dậy, đi vào phía trong hầm tàu trên tay mang một vật gì, có thể là con bé. Tôi không chú ý…Lúc đó chúng tôi đang nói chuyện với nhau về tình hình xảy ra trên boong tàu. Chúng tôi hết sức lo lắng…Bà Angielic, bà tha lỗi cho tôi vì đã lơ là trong việc trông nom em bé. Hy vọng không xảy ra chuyện gì với em. Anh chàng người đảo Xixin ấy có vẻ hết lòng với nó.
Cô gái lại ho, lau hai mắt đỏ hoe và giàn giụa nước mắt. Giống như sương mù một buổi sáng mùa hè tan đi trong ánh nắng mặt trời mới mọc, màn khói dày đặc dần dần loãng ra, để lộ mọi vật xung quanh. Không một dấu vết lửa cháy.
- Bà Angielic, tôi cứ tưởng bà bị chìm, bị cơn bão khủng khiếp cuốn đi. Bà dũng cảm biết chừng nào trong cái đêm đi cứu đó. Khi cánh thợ mộc tới thì ông Mécxơlô vừa bị ngất xỉu. Tất cả mọi người chúng tôi đều đổ xô ra để chống đỡ cái sàn sắp đổ ụp xuống đầu. Sóng tràn ngập chúng tôi. Giá chỉ có một mình chúng tôi thì chẳng chống đỡ được lâu hơn. Những người thợ mộc ấy tuyệt thật!
- Thế mà sáng nay các người đã giết hại họ - Angielic nói, đầy vẻ chua xót.
- Cái gì đã thực sự xảy ra vậy? – Abighen thì thầm vẻ sọ hãi – Mệt quá, chúng tôi ngủ thiếp đi, khi thức dậy thì đã thấy tất cả đàn ông mang vũ khí. Cha tôi cãi nhau kịch liệt với ông Manigô. Ông cụ cho rằng lão ta sắp sửa làm một việc điên rồ.
- Đúng vậy, họ đã cướp tàu, giết chết những người trong đoàn thủy thủ đang canh gác trên boong tàu và giam giữ trong hầm tàu những người đang nằm nghỉ trong đó. Cả một sự lộn xộn.
- Thế còn ông Rescartor?
Angielic buông thõng hai cánh tay trong một cử chỉ tuyệt vọng. Thậm chí nàng cũng không còn đủ sức để nghĩ đến số phận của Giôphrây đờ Perắc, của Ônôrin, và để tự đặt cho mình những câu hỏi về cách giải quyết tình huống nguy kịch này.
Các sự kiện xảy ra dồn dập và xô đẩy nàng như trong bão tố.
- Làm gì để chống lại sự điên cuồng của con người – Nàng vừa nói, vừa ngơ ngác nhìn Abighen, - Tôi cũng không biết nữa…
- Tôi nghĩ chẳng có gì đáng lo ngại về em bé – Cô bạn cố an ủi nàng – Ông Rescartor đã ra lệnh cho anh chàng người Xixin khi ông đến đây hôm qua. Hình như ông dặn dò phải chăm sóc em bé như thể là con đẻ của chính ông vậy. Phải chăng ông gắn bó với em bé là vì bà? Ông Rescartor yêu bà, phải không?
- Bây giờ đâu phải là lúc nói về tình yêu! – Angielic phản đối và úp mặt vào hai bàn tay.
Nhưng phút yếu lòng chỉ thoáng qua.
- Cô bảo là ông ấy đến đây đêm qua?
- Vâng…chúng tôi bám lấy ông ấy và kêu toáng lên “Cứu chúng tôi với” Bà Angielic, làm sao giải thích được điều này: lúc đó, tôi cho là ông cười và thế là đột nhiên, chúng tôi hết sợ và hiểu là một lần nữa chúng tôi lại thoát chết. Ông bảo: “Bão táp sẽ không nuốt chửng các bà đâu. Chỉ là một cơn bão con con, nó không “thèm ăn đâu”. Chúng tôi thấy mình sợ hãi đến như thế thật là ngu ngốc. Ông giám sát và điều khiển công việc của đám thợ mộc, rồi sau đó…
“Rồi sau đó, chàng đến với mình- Angielic thầm thì – và ôm mình vào lòng. Không, mình không chịu thoái chí – nàng lại nghĩ. Số phận đâu run rủi mình đến chốn này…vào trong vòng tay chàng để rồi mình lại bị bỏ rơi …vì mệt mỏi qua bao cuộc vật lộn!”.
“Đây là cuộc thử thách cuối cùng” – Một tiếng nói từ nội tâm cất lên.
- Định mệnh không muốn có mối tình của chúng tôi – Nàng nói lớn – Có thể vì mối tình của chúng tôi lớn lao quá, mạnh mẽ quá. Nhưng con người có thể chiến thắng số mệnh. Osman Feraji đã từng nói như vậy.
Nét mặt nàng đanh lại và nàng vươn dậy một cách kiên quyết.
- Lại đây mau lên – Nàng bảo Abighen.
Hai người bước qua những tấm đệm nằm và đồ vật lăn lóc trên sàn tàu. Khói hầu như đã tan hết. Chỉ còn phảng phất một lớp khói mỏng, một mùi hăng hắc.
- Quái lạ thật, không biết cái hơi mù này từ đâu tới? – Angielic hỏi.
- Hình như từ khắp mọi nơi. Lúc đầu, tôi cứ tưởng mình ngủ thiếp hay ngất lịm đi…Ồ!...tôi cũng còn nhớ. Hình như tôi thấy người thầy thuốc Ả rập đến với chúng tôi. Ông ta cầm một cái bình to tướng bằng thủy tinh màu đen, nặng tới mức ông phải oằn người xuống. Tôi cứ tưởng mình đang nằm mơ, nhưng có thể đấy là sự thật…
- Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi trông thấy ông ta – nhiều tiếng nói cùng khẳng định.
Trên boong tàu, đàn bà và trẻ con tỉnh dậy. Họ bị choáng váng nhưng không có vẻ ốm đau, nhiều người trông thấy người thầy thuốc Ả rập hiện lên như có phép màu qua những mảng sương mù lúc đó dã bắt đầu bao phủ lấy họ.
- Làm sao ông ấy vào được và nhất là lại ra được? Đúng là trò phù thủy!
Thốt xong từ “phù thủy”, họ kinh hoàng nhìn nhau. Nỗi lo sợ tiềm tàng trong lòng họ từ khi lên tàu Gunxbôrô, giờ đây trở lên rõ rệt.
Manigô đưa nắm đấm về phía những cửa kính lấp lánh đằng kia, dưới boong thượng con tàu.
- Tên phù thủy! nó dám cả gan tấn công vào lũ trẻ để đánh lạc hướng cơn thịnh nộ của chúng ta và trốn thoát.
Angielic không còn chịu nổi nữa. Nàng lao vào giữa bọn họ.
- Đồ khốn nạn! Lúc nào cũng nhai nhải cái từ cách đây mười lăm năm người ta đã vu oan cho anh ấy: Đồ phù thủy! Tên phù thủy! Bao giờ cũng vẫn những lời nhảm nhí ấy! Này, những kẻ ngớ ngẩn kia! Tín ngưỡng của các người và những lời giáo huấn của mục sư của các người có ích lợi gì nếu các người vẫn mê muội như những người nông dân thô lỗ theo đạo Thiên chúa mà các người khinh bỉ? “Con người còn thù ghét khoa học đến bao giờ?...”. Đọc Thánh kinh, có khi nào các ngươi suy ngẫm về những lời nói trong đó không? Người ta còn thù ghét đến bao giờ những cái gì cao hơn mình, thù ghét con người mà không một nỗi khiếp hãi nào có thể ngăn cản trong công cuộc tìm hiểu vũ trụ? Các người để mình được đưa đến một vùng đất mới phỏng có lợi ích gì, nếu như người vẫn mang theo dưới đế giày tất cả bùn nhơ của những sự dại dột, tất cả bụi bặm vô bổ của thế giới cũ?..
Báo cáo nội dung xấu

