Một mình ở châu Âu - Chương 02

Đêm qua, trước
khi đi ngủ, rồi đã nhủ thầm rằng sáng nay sẽ dậy trước 6 giờ để tới nhà thờ
Santa Maria Maggiore xem người Rome xưng tội trong lễ sáng. Tuy nhiên, khi tôi
mở được mắt, đồng hồ đã chỉ 7 giờ. Ngoài cửa sổ, bầu trời có màu xanh Địa Trung
Hải ngăn ngắt, không mây. Một ngày nắng rực rỡ.

Hơn 8 giờ, chị
Mai tới. Hôm qua, chị mặc áo trắng với váy đen; hôm nay áo hoa và váy hoa vải
phin thô màu vàng nhạt nhưng kiểu dáng giống hệt hôm qua. Chị đi xăng đan da
nâu và đội mũ vải mềm – gợi tôi nhớ đến những bức ảnh các thiếu nữ trường dòng
Sài Gòn từ trước năm 1975. Chị nhìn tôi bằng đôi mắt nâu rất trong, mỉm cười:

“Hôm qua Việt
ngủ có ngon không?”

Chị nói chậm;
và sự chậm rãi, cộng với cái nhìn của chị đột nhiên gột khỏi tôi một cái gì đó.
Có lẽ là sự đề phòng bản năng. Chị đã hỏi một câu đơn giản nhưng thật lòng.

“Em ngủ như
chết.” - Tôi nói. Tôi đã ngủ như chết thật.

Chị Mai chỉ
hơn tôi bốn tuổi, người gốc Huế. Chị vào nhà dòng từ năm mười sáu tuổi, sau khi
tốt nghiệp trung học. Chị đã sống nhiều năm ở Pháp rồi qua Rome từ bốn năm nay để học tiếp. Khi nào học
xong trong trường dòng, chị sẽ ở lại đây và sống vĩnh viễn trong nhà dòng. Dòng
tu mà chị theo gọi là dòng Nữ Công Truyền Giáo; những người theo dòng này không
mặc trang phục nữ tu như các dòng khác (tức áo thụng với khăn trùm đầu) mà vẫn
mặc quần áo bình thường vì họ muốn sống đạo giữa đời.

Sáng nay, trên
tàu điện ngầm đi Vatican,
tôi hỏi rất nhiều về cuộc sống trong nhà dòng của chị. Ví dụ như hằng ngày lịch
hoạt động của chị như thế nào, chị lấy đâu ra tiền để sống; chị nói rằng nhà
dòng chu cấp cho chị “mọi thứ”, chị không phải lo gì cả.

“Mọi thứ tức
là,” tôi cố nghĩ ra cái gì đó thật riêng tư “em xin lỗi chị, kể cả quần áo lót
và băng vệ sinh?”

“Ừ,” chị cười.
“Bọn mình có một chị bề trên lo quản lý tất cả những thứ đó, khi nào hết thì
chị phát cho.”

“Thế nếu chị
muốn tiêu gì đó riêng thì sao?”

“Bọn mình
không phải tiêu gì riêng hết,” chị lại cười từ “riêng” của tôi. “Bọn mình sống
chung, hưởng chung, có gì cần thì trình bày với chị bề trên, chị sẽ cung cấp
cho.”

“Nhưng mà… chị
vẫn phải có những thứ cần dùng riêng chứ. Như hôm nay chị ra ngoài thì vé tàu
điện ngầm chị lấy tiền ở đâu để mua? Nếu chị muốn ăn kem hay uống nước bên
ngoài thì sao?”

“À, cũng được
lo hết rồi; mình trình bày với chị bề trên và chị đưa vé cho mình. Mỗi tháng,
mình được 15 euro để chi các khoản riêng như Việt nói. Nhưng bọn mình không có
đi ra ngoài nhiều như người thường, hôm nay mình ra gặp Việt thì mình trình bày
với chị bề trên là em xin phép ra ngoài gặp gia đình từ Việt Nam sang.”

Chị cho tôi
biết chị sống cùng với một sơ người châu Phi nữa trong một căn phòng nhỏ. Tôi
không nhịn được tò mò nên cứ căn vặn chị mô tả tỉ mỉ cho tôi xem phòng đó trông
thế nào, diện tích bao nhiêu mét vuông, đồ đạc chính xác có những gì, giường có
đệm không, có toilet riêng không, có ti vi, radio, máy tính không, có Internet
không, vân vân… Chị cười, kiên nhẫn trả lời tôi rằng phòng của chị khoảng 12
mét vuông, trong phòng có vài cái ghế gỗ, hai cái bàn, không có tivi với radio,
Internet thì có ở một cái máy tính chung cho mọi người và chỉ dùng vào cuối
tuần. Chị và sơ cùng phòng mỗi người có một giường ngủ đơn chứ không có phòng
ngủ riêng và quanh giường của mình thì “mình cũng có thể trang trí tùy theo sở
thích”.

“Thế sở thích
của chị là gì?”

“Mình chỉ muốn
phụng sự Chúa thôi!” Chị Mai cười ngất trước sự háo hức của tôi.

“Thế chị trang
trí quanh giường thế nào? Các bạn của chị trang trí như thế nào?” (Tôi cứ hình
dung các phòng ký túc xá của sinh viên ở Việt Nam với những cái giường cá nhân
quây ri đô, và những bức tường dán đầy ảnh Brad Pitt.)

“Mình thì
không trang trí gì cả; chỉ có ảnh Chúa,” chị Mai cười. “Các chị em khác cũng
thế. Có người thì có ảnh gia đình, có người thì không.”

Tôi càng tò mò
không biết sống trong nhà dòng thì thế nào.

“Chị Mai ơi,
cho em vào sống với chị mấy ngày được không?”

Chị Mai ngạc
nhiên nhìn tôi. Rồi chị nói nếu tôi nghiêm túc thì chị sẽ trình với “chị bề
trên” xem thế nào.

Tôi nghiêm túc
chứ. Cách đây hơn mười năm, tôi từng vô cùng dị ứng với đạo Thiên Chúa khi
Quang Anh, người bạn thân của tôi lúc đó, quyết định theo đạo. Tôi từng nghe
rằng tôn giáo “là thuốc phiện của đám đông”, chỉ dành cho những người yếu đuối,
không làm chủ được cuộc sống của mình nên phải trông vào một đấng siêu nhiên.
Khi thấy Quang Anh đổi từ “lương” sang “đạo” vào năm thứ hai ở đại học, tôi bắt
đầu đi nhà thờ theo bạn, thậm chí còn đến các lớp học Kinh Thánh do một nhà
truyền giáo Tin Lành người Mỹ dạy trong hai năm. Nhưng sự thật là trong suốt
những năm ấy, cái duy nhất mà tôi thích trong đạo Tin Lành chỉ là những buổi
thánh ca miễn phí ở nhà thờ. Tôi không sao có thể tin Chúa.

Thế thì những
người tin Chúa là như thế nào? Cái gì làm cho tôi không thể tin mà họ lại tin?
Tôi chắc chắn người Mỹ không phải "những người yếu đuối, không làm chủ
được cuộc sống của mình"; tại sao đa phần người Mỹ tin Chúa? Mà thực tế là
hơn hai tỷ người trên thế giới này đang tin Chúa. Hơn thế, nếu chỉ lựa chọn tin
Chúa nhưng vẫn sống cuộc sống thế tục thì không sao, nhưng còn những người vào
nhà dòng để toàn tâm toàn ý phụng sự Chúa? Cái đức tin ấy của họ là thế nào,
cái đời sống ấy là thế nào? Không ít người cho rằng những người tu hành sống
đời khổ hạnh, thậm chí hành xác, không có tự do. Nhưng nhìn chị Mai, tôi không
thấy bóng dáng khổ hạnh, cũng không có bóng dáng sự tù túng. Trên mặt chị ít
khổ đau hơn hầu hết những người "vô thần", "tự do" mà tôi
gặp.

Một bà sơ trên
đường phố Rome.

Sáng nay,
chúng tôi định sẽ tới bảo tàng Vatican trước.
Lúc 9 giờ sáng, bên ngoài bảo tàng đã có một hàng người dài khoảng hai trăm
mét, vắt từ cổng qua hai khúc quanh của con đường. Họ nhích chậm chạp dưới cái
nắng ngày càng gay gắt. Những người đứng xung quanh tôi – đa phần là khách du
lịch da trắng – vừa liên tục uống nước, vừa thở nặng nề và lau mồ hôi nhễ nhại
trên mặt, trên cổ. Nhìn tốc độ di chuyển của dòng người, chúng tôi quyết định
bỏ cuộc để đi sang nhà thờ Thánh Peter.

Nhà thờ Thánh
Peter là một trong những điểm du lịch chính của Vatican và cũng là nơi công
chúng được vào tự do, những nơi khác đều có những người lính Thụy Sĩ mặc đồng
phục vàng, xanh, đỏ, đeo súng đứng gác. Trên đường từ bảo tàng Vatican sang nhà
thờ, tôi nhìn thấy nhiều linh mục mặc áo thụng đen và các bà sơ mặc áo thụng
xanh nhạt nghiêm trang đi ra đi vào các cánh cổng có lính gác. Họ băng qua
đường, chậm rãi bước trên các vỉa hè lát đá, khuôn mặt không thuộc về thế giới
này và không hề quan tâm tới những dòng xe cộ đông đúc. Đây hẳn là một cảnh
bình thường với Rome
và với chị Mai nhưng tôi phải đứng lại nhìn. Có cái gì đó siêu thực trong chuyển
động của những khuôn mặt bình thản ấy giữa phố phường Rome ngập người và xe.

Quảng trường
Thánh Peter là một không gian đồ sộ. Tôi chưa từng thấy một quảng trường nào đồ
sộ như vậy. Cả quảng trường được bao bởi những hành lang vòng cung lớn với 248
cột đá khổng lồ, mỗi cột cao hai mươi mét, đường kính mấy người ôm, được dựng
song song theo kiểu các hàng cột của đền Pantheon. Trên đỉnh các hành lang vòng
cung là 140 bức tượng thánh trong các tư thế rất sinh động, đang đổ những bóng
dài trên quảng trường ngập nắng.

Nhưng tôi
thích quảng trường bên ngoài bao nhiêu thì lại không thích bên trong nhà thờ
Thánh Peter bấy nhiêu, mặc dù, đây nữa, đây cũng là một công trình khổng lồ. Có
quá nhiều thứ được “trưng bày” ở đây; bức tranh nào, bức tượng nào cũng đi kèm
những dòng giới thiệu về kì tích có một không hai của nó, khiến cả basilica [6]
như một bữa tiệc thánh tích ngồn ngộn mà chỉ nhìn đã phải bội thực. Nào là các
thánh tích và hầm mộ của các Giáo hoàng; nào là tượng của Michelangelo; nào là
tranh, bàn thờ của người nổi tiếng này người nổi tiếng khác. Tôi không thấy
Chúa hay “đạo” ở đây. Cũng không thấy có sự thiêng liêng hay bình yên nào -
ngay cả trong những phòng nguyện nhỏ hai bên nhà thờ cho các khách du lịch vào
cầu nguyện.

[6]
Basilica là nhà thờ kiểu lớn, xây kiểu hoàng cung La Mã.

Cái duy nhất
có vẻ có tính đạo trong nhà thờ Thánh Peter là cảnh một nhóm khoảng hai mươi
phụ nữ Hàn Quốc đứng xung quanh một cây thánh giá gỗ gắn trên một bức tường
trần trụi hiếm hoi trong nhà thờ. Họ cùng vươn tay về cây thánh giá; những
người không đứng gần cây thánh giá thì vươn tay chạm vào vai người đứng trước.
Trông họ như những cái rễ mọc ra từ cây thánh giá trong lúc họ cúi đầu, lầm rầm
cầu nguyện.

Ở nhà thờ
thánh Peter ra, chúng tôi đi tới Spanish steps, qua quảng trường Republica, qua
Piazza del Popolo (quảng trường Nhân dân); rồi đi qua các đường phố hẹp lát đá
tới đài phun nước Trevi. Có đi bộ như vậy mới bắt đầu hình dung được Rome và cái tinh thần thần thánh của Rome. Ở Rome,
nếu tính tỷ lệ, có lẽ đài phun nước, nhà thờ, và các quảng trường công cộng là
ba dạng công trình có mật độ dày đặc nhất. Cứ đi vài phố lại thấy một đài phun
nước giữa một quảng trường lớn hoặc nhỏ. Và nhà thờ thì hầu như góc phố nào
cũng có. Hình như từ ban đầu, người La Mã hiểu rằng để có một xã hội tốt và một
đời sống cao thì phải có một xã hội dân sự và người dân cần được thực hành
quyền dân chủ của mình bên cạnh việc vui chơi giải trí. Họ hiểu rằng con người
thực sự là một thực thể xã hội, bên cạnh việc là một thực thể sinh học và tâm
linh. Một điều nữa cũng khiến tôi nghĩ: Rome thực sự rất nhỏ về diện tích và
theo một số tài liệu tôi từng đọc thì người La Mã cổ đại chỉ có chiều cao trung
bình khoảng một mét rưỡi, nhưng họ đã thiết kế tất cả các công trình công cộng
với một sự phóng khoáng và vĩ đại cả về ý nghĩa và kích thước thực. Những quảng
trường thênh thang, những nóc nhà cao, những hành lang đá lớn, những trụ tường
cẩm thạch mấy người ôm, những tháp nhà thờ vươn thẳng lên trời, những bậc thềm,
và những chạm trổ kỳ công… Mọi thứ đều phải cao rộng, hoành tráng, phải như thế
giới của các vị thần, của Chúa trên thiên đàng. Con người quả là một bản sao
của thế giới thần thánh; và nghiễm nhiên có thể là thần thánh.

Sau 3 giờ
chiều, Rome tràn ngập người ngồi nhàn tản sưởi
nắng ở các quảng trường – cả dân cư Rome
và khách du lịch. Cũng khó mà có thể vội vã trong một ngày nắng đẹp như thế
này, giữa một thành phố chậm rãi thế này. Trên phố, các tiệm kem đầy ắp người.
Ngay cả những cảnh sát lực lưỡng, bảnh bao cũng vừa tán chuyện, vừa ngả ngốn
trên những chiếc xe Vespa mà ăn kem thoải mái. Những người đàn ông đi bộ trên
phố với một vẻ tự tin và trễ nải của những con báo ăn no đang đi dạo. Tôi thấy
cả những ông già mặc com lê nghiêm chỉnh đủng đỉnh bước đi, vừa đi vừa liếm kem
như một đứa trẻ. Các cô gái mặc đẹp chạy rông trên phố với mái tóc đen buông
xõa; họ thoải mái phô bày cái cơ thể sexy như một quyền tự nhiên của con người.

Quanh đài phun
nước Trevi, khách du lịch và người Rome
la liệt nằm, ngồi, sưởi nắng; họ ở sát cạnh nhau mà không thấy chật chội. Ngay
cạnh đó, tôi nhìn thấy một cánh cửa gỗ màu đen pha đỏ, trông rất cổ kính; tôi
không rõ nó là cửa vào cái gì nhưng cứ liều đẩy thử rồi bước vào. Bên trong hóa
ra là một nhà thờ nhỏ hoàn toàn tĩnh lặng. Nhà thờ chỉ có diện tích như một
gian phòng nhỏ, tối, với một ban thờ Chúa ở chính giữa và một vài hàng ghế. Có
ba người đang gục đầu yên lặng cầu nguyện trong khi chỉ cách vài bước chân là
bao nhiêu khách du lịch và người Rome
đang ngồi ăn kem sưởi nắng. Nhìn từ bên ngoài, không thể biết được đây là một
nhà thờ - và có lẽ có tuổi đời cả ngàn. Không biết có bao nhiêu nhà thờ như thế
này ở Rome - thật khó tưởng tượng rằng tôi đang ngồi ở một tàn tích có thể đã
có từ thời Julius Caesar Cleopartra, Antony, khi mà đế chế La Mã trải rộng tới
tận sông Nile.

Tối nay, đã
chán ngán các loại pizza và mỳ ống, tôi ăn tối ở một nhà hàng Trung Quốc gần
khách sạn. Bàn bên cạnh là một cặp vợ chồng châu Á và một cậu con trai nhỏ - có
vẻ như cặp vợ chồng đã cãi nhau trước khi đi ăn tối nên họ không hề nói chuyện
với nhau và cũng không nhìn nhau suốt bữa; cả hai chỉ nhìn vào cậu con trai.
Người vợ có một vẻ mặt khiến cho tôi nghĩ tới cụm từ "bể khổ". Hai
mắt chị là hai cái hố khổ và khuôn mặt chị là một bản khắc sống của những năm
tháng không vui; một khuôn mặt chỉ chực gục xuống khóc nếu quanh đây không có
người. Chị có vẻ rất muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này nhưng không biết cách, có
khi không biết lựa chọn đó liệu có tồn tại với chị. Giữa hai người ngồi đó là
một khoảng trống chết chóc. Thật là một cảnh đau lòng giữa Rome - thành phố mà người ta hôn nhau ở khắp
các góc phố và cúi xuống buộc giày cho nhau.

Tôi vừa ăn vừa
liếc nhìn chị và tự hỏi, không biết chị đang nghĩ gì.

Khó lắm, tôi
biết chứ.

Những ngày
này, tôi chỉ ngủ từ hai đến năm tiếng mỗi ngày. Đã thế, ngày nào tôi cũng đi bộ
liên tục, ăn ít, chỉ uống nước là nhiều. Vậy mà không thấy mệt.

Sáng nay, tôi
mở mắt lúc 3 giờ sáng và đến 5 giờ đã ra khỏi nhà, xuống tàu điện tới bảo tàng Vatican. Tôi
muốn đến sớm để xếp hàng mua vé và có thể vào được bảo tàng trước khi rời Rome.

Bên ngoài,
trời còn tối và hơi lạnh. Những đường phố Rome
yên tĩnh. Dưới bến tàu điện, chỉ có một vài người chờ tàu. Trông họ đều mệt mỏi
và nhem nhuốc - điều rất khó thấy ở Rome.
Họ chắc chắn không phải người Ý. Có vẻ như họ là dân nhập cư từ Ấn Độ, Sri
Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan hay một nước nào đó có màu da sẫm màu.

Lúc hơn 6 giờ
15, bên ngoài bảo tàng chưa hề có ai. Nhưng chỉ vài phút sau, một nhóm người
Tây Ban Nha xuất hiện: một gia đình bốn người, gồm bố mẹ và hai người con có lẽ
đang là học sinh cấp ba. Sau đó, một chiếc xe buýt dừng lại ở ngay chỗ chúng
tôi và hai bà sơ chừng ngoài bốn mươi tuổi bước xuống, một mặc áo thụng trắng,
một mặc áo thụng đen. Hôm trước, tôi hỏi chị Mai các màu áo có nghĩa là gì; có
phải giống như là đai trắng, đai đen trong võ thuật không; chị Mai cười, bảo không
phải, màu khác nhau là do các dòng tu khác nhau. Hai bà sơ đi tới chỗ tôi đứng;
nhìn tấm biển báo giờ mở cửa; rồi có vẻ không chắc chắn lắm, họ hỏi tôi. Người
mặc áo trắng nói tiếng Anh không sõi nhưng có thể hiểu được; vậy là chúng tôi
bập bõm tán gẫu. Hóa ra, họ từ Philippines
tới. Tôi nói rằng bảo tàng phải đến 8 giờ 30 mới mở cửa, nhưng người ta có thói
quen đến từ sớm để xếp hàng. Sau khi nghe thông tin này và thấy mới chỉ có
khoảng chục người đứng xếp hàng, hai bà sơ đi ra trước hai cánh cổng kín bằng
gỗ của bảo tàng để chụp ảnh cho nhau. Họ giơ tay giơ chân làm điệu bộ, rồi trêu
nhau gì đó và cười lăn lộn, đến mức phải ngồi xuống cho khỏi ngã. Trông họ
giống như hai cô gái trẻ thân nhau đang đi shopping trong siêu thị chứ không
phải hai nữ tu sĩ. Tôi quan sát họ và cũng thấy vui lây.

Trời buổi sớm
có gió lạnh nên những người đứng đợi bắt đầu co ro. Chẳng mấy chốc, có mấy
người phụ nữ mang rất nhiều khăn quàng và mũ len đến chào bán. Khăn mũ đủ các
loại màu sắc, bằng lụa và len, giá từ 3 đến 5 euro. Họ bán những thứ này vì bảo
tàng cấm những người mặc quần sooc và áo cộc tay vào bên trong, những người này
phải mua khăn để trùm lên.

Đến 8 giờ 30,
bảo tàng mở cửa. Phòng đầu tiên là các cổ vật và tượng thần trong Thần thoại Hy
Lạp, hầu hết được làm từ trước hay ngay đầu Công nguyên. Tôi nhanh chóng nhận
ra rằng tôi cần cả tuần mới có thể xem hết được bảo tàng này, mà tôi chỉ có
buổi sáng nay. Vậy là tôi đành bỏ qua một loạt phòng để đi thẳng tới Nhà nguyện
Sistine.

Đường đi tới
đó không dễ. Phải đi lên đi xuống các cầu thang hẹp và xuyên qua các căn phòng
đầy những bức tranh trần và tranh tường lớn, vẽ các tích tôn giáo. Một ý nghĩ
cứ trở đi trở lại trong đầu tôi: tại sao ở các nền văn minh đầu tiên của con
người, đời sống nghệ thuật và tôn giáo – tâm linh được hòa trộn tự nhiên đến
thế vào đời sống thế tục? Nghĩa là việc kính Chúa, thờ thần, việc coi con người
như một hóa thân hoặc sự nối dài của thế giới thần linh là một việc tự nhiên;
trong khi thế giới hiện đại của chúng ta dễ coi điều đó là biểu hiện của sự tăm
tối và ngu dốt. Kết luận này có vẻ quá vội vàng và là một sản phẩm chính trị -
xã hội nhiều hơn là sự thật. Con người hiện đại có lẽ đã quá tự mãn về quyền
lực của mình và trong sự tự mãn đó đã cắt đứt mình khỏi một sợi dây nối với một
cái gì đó cao cả, toàn thiện.

Phần chính của
nhà nguyện Sistine là một căn phòng kiến trúc Phục hưng được xây dựng theo kích
thước của đền thờ Solomon trong kinh Cựu ước – và lúc này đông nghẹt người. Tôi
hầu như không thể di chuyển mà chỉ có thể thả lỏng cho mình được đẩy đi trong
cái sóng người đều đang ngửa cổ nhìn lên trần nhà. Trên đó, trong vòng bốn năm
từ 1508 đến 1512, Giáo hoàng Julius đệ nhị đã thuê Michelangelo vẽ chín bức
bích họa để mô tả ba giai đoạn trong quan hệ của con người với Chúa trời: Chúa
tạo ra thế giới, Chúa và con người, Loài người phản bội lại Chúa. Sau đó, từ
năm 1537 đến năm 1541, Giáo hoàng lại thuê tiếp Michelangelo vẽ bức Sự phán xử
cuối cùng (The Last Judgment) để tạo nên mắt xích cuối cùng cho tổng thể câu
chuyện về loài người và Chúa.

Căn phòng lúc
này rất tối vì toàn bộ cửa sổ đều bị đóng và do vậy khó mà nhìn rõ các họa
tiết, nhất là trong tư thế ngửa đầu. Tuy thế, chỉ quy mô của những bức họa cũng
có thể khiến người ta choáng ngợp. Tất cả những người trong phòng hẳn đều cũng
có cảm giác này nên hầu như không ai nói gì, chỉ ngửa cổ nhìn, và thỉnh thoảng
khẽ tặc lưỡi. Sự chiêm bái và ngả mũ này chỉ có một nửa với Chúa; nửa còn lại
là với sức sáng tạo kinh khủng của Michelangelo. Ít nhất là tôi cảm thấy thế.
Tôi không có gì để nói khi đứng đây. Tôi chỉ có thể im lặng và đồng tình với
cái tuyên ngôn không lời của Michelangelo khi ông vẽ những bức fiasco này: hoặc
là thế này, hoặc là không gì cả.

Nhưng thế này
thực sự khó lắm. Những người cho rằng nó dễ là những người hoặc rất may mắn,
hoặc không hề biết họ đang nói gì.

Tôi tới Rome làm gì? Câu hỏi này
trở đi trở lại trong đầu tôi tối qua. Đa số những người tới Rome
– mà phần nhiều là từ các nước phương Tây, hoặc các nước châu Á thân phương Tây
như Nhật, Hàn Quốc, Singapore – đều ít nhiều có mục
đích hành hương. Họ tới Rome để tới Vatican, để
được gần Chúa hơn thông qua việc gần với Giáo hoàng hơn và gần với đất thánh
hơn. Nói gì đi nữa, Thiên Chúa giáo vẫn là tôn giáo lớn nhất thế giới vào thời
điểm hiện tại, với khoảng hơn hai tỷ tín đồ, trong đó có quá nửa thuộc Thiên
Chúa giáo La Mã.

Với tôi, mục
đích hành hương này hoàn toàn không có. Từ lâu tôi đã nghĩ, ngoại trừ chuyện
một người xuất thân trong gia đình nào và xã hội nào, sự lựa chọn tôn giáo của
người đó còn phụ thuộc tạng người. Tạng của tôi không sao tin được những điều
cơ bản mà người theo đạo Thiên Chúa nào cũng tin: có một đấng sáng tạo, gọi là
Chúa Trời, đã tạo ra thế giới và con người từ cát bụi; loài người đã phản bội
lại Chúa và vì thế mà tất cả chúng ta sinh ra đã có tội lỗi khởi thủy; tuy nhiên
Chúa thương loài người nên đã cử con duy nhất của Ngài là Jesus xuống chịu tội
cho loài người bằng cách chết trên thánh giá; và những ai tin nhận Chúa sẽ được
rửa sạch tội lỗi để lên thiên đường sau khi chết còn tất cả những người không
tin Chúa sẽ xuống địa ngục [7].

[7] Dĩ
nhiên là một số dòng chỉ tin chúa Jesus là sứ giả của Chúa chứ không phải con
của Chúa.

Đi nhà thờ với
Quang Anh đến hai năm và dầu cố gắng hết sức, tôi vẫn không sao chấp nhận được
những điều này. Có cái gì đó trong tôi cứ cưỡng ra. Có lần, khi hết cả kiên
nhẫn với tôi, Quang Anh đã nói:

“Tại sao chị
bướng thế nhỉ? Chị không chịu tin nhận Chúa chẳng qua là do chị kiêu ngạo chứ
không phải vì nó phi logic. Chị sợ người ta bảo chị ngu ngốc.”

Bướng thì tôi
công nhận, nhưng sợ người ta bảo mình ngu ngốc thì chắc chắn là không.

“Em nhầm,” tôi
nói, “Nếu thực sự có Chúa, và Chúa đã để Jesus chết trên thánh giá để rửa tội
cho con người, thì chị hết tội rồi, tại sao chị lại phải theo Đạo, mà không chị
lại còn phải xuống địa ngục. Đã bảo là chết để đền tội thay rồi mà vẫn còn bắt
vào đạo mới được chuộc tội thật; cái lỗi đấy là lỗi phiên dịch và cưỡng ép của
nhà thờ, chị chẳng tin Chúa tử tế nào lại ép người ta như thế. Phật chẳng bao
giờ ép ai theo đạo Phật, Phật bảo mỗi người đều là Phật, phải tự mà cứu mình.”

Nghe đến Phật
thì dĩ nhiên Quang Anh càng điên tiết. Nhất là vì lúc đó, trong cố gắng tìm một
lối tắt để đi tới sự thật (trời ơi!), tôi vừa đi nhà thờ cùng Quang Anh vừa bắt
đầu tập thiền cùng với một nhóm bạn khác.

“Đây không
phải là phiên dịch của nhà thờ,” Quang Anh nói “Đây là Kinh Thánh nói! Kinh
Thánh là lời Chúa; chị đã đọc sách Luke và Mathew trong Tân ước, chị biết việc
Chúa Jesus là con của Chúa chính là lời Chúa nói trong Kinh Thánh chứ không
phải là sự phiên dịch của nhà thờ.”

“Dào,” tôi tặc
lưỡi, “Luke và Mathew trước hết là các nhà chính trị.”

Đến đây thì
Quang Anh hết chịu nổi.

“Vấn đề không
phải là logic, vấn đề là chị chưa thấy địa ngục đấy thôi; nếu chị biết chắc chị
sẽ phải xuống địa ngục nếu không tin Chúa thì chị đã ba chân bốn cẳng tin nhận
rồi. Chị đúng là chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ.”

“Em lại nhầm
nữa rồi,” tôi cũng phì khói qua hai tai. “Nếu quả thực là như thế thì lại càng
phi lý. Thế thì chị thà xuống địa ngục còn hơn. Đằng nào thì đa số bạn của chị
với em cũng xuống địa ngục với chị. Xuống đấy cũng vui chán.”

Lúc ấy chúng
tôi đang uống sinh tố trên phố Hoàng Diệu vào một buổi tối thứ Bảy, sau khi đi
tập thánh ca ở nhà thờ về (hồi đó, phố Hoàng Diệu còn là phố sinh tố). Đến đây
thì Quang Anh không nói không rằng, lên xe đi thẳng.

Cũng vì xung
đột này mà bọn tôi đã từ mặt nhau một thời gian dài trước khi làm bạn trở lại
một cách dè dặt. Chúng tôi học cách không mang chuyện tôn giáo ra tranh luận
nữa; nhưng tôi biết Quang Anh vẫn không thể tiêu hóa nổi việc tôi lại không
nhận ra cái sự thật rành rành về Chúa.

Chị Mai, trái
lại, thuộc tạng có thể theo đạo Thiên Chúa và thực tế là chị đang hiến cả đời
mình cho Chúa. Tôi đoán, khi tôi và chị Mai đứng trong nhà nguyện Sistine nhìn
lên những bức fiasco của Michelangelo, chị Mai nhìn thấy Chúa, còn tôi chủ yếu
thấy Michelangelo. Chị Mai cho rằng ngay cả sự sáng tạo của Maichelangelo cũng
thuộc về Chúa, nếu không nhờ ân phước của Chúa thì Michelangelo không thể nào
tạo ra kiệt tác này; còn tôi thì chỉ nhìn thấy cơ bắp và các nơ ron thần kinh
của Michelangelo căng ra trong lúc ông ngửa đầu ra vẽ, bất kể Chúa hay quỷ
Satan có muốn ông vẽ hay không.

Nhưng rốt
cuộc, tôi tới Rome
để làm gì?

Báo cáo nội dung xấu