Nhà Khổ Hạnh và Gã Lang Thang - Chương 10 (Phần 2)
- Ước muốn ấy là gì?
- Tôi muốn làm người tập sự và học việc bên cạnh
thầy.
- Cậu không phải là người độc nhất muốn điều đó. Nhưng tôi không
thích kẻ tập sự, tôi đã có hai người thợ bạn. Vậy chớ cậu ở đâu
đến và song thân là ai?
- Tôi không có cha mẹ, cũng chẳng từ đâu đến. Tôi là học trò trong
một tu viện, tôi đã học hai thứ tiếng Hy Lạp và La Tinh, sau đó tôi
trốn đi và từ mấy năm nay tôi lang thang mãi cho đến hôm nay.
- Sao cậu có ý nghĩ là cậu trở thành một nhà điêu khắc? Cậu đã
thử làm lần nào chưa? Cậu biết vẽ chứ?
- Tôi đã vẽ rất nhiều, nhưng không còn bức nào cả, và điều đã khiến
tôi khao khát học về nghệ thuật này, tôi có thể thưa rõ cùng thầy.
Tôi đã thường nghiền ngẫm nhiều ý nghĩ, tôi thường thấy nhiều khuôn
mặt và nhiều dáng vóc, và tôi đã nghĩ về chúng, có nhiều khuôn mặt
luôn luôn ám ảnh tôi, không hở một phút giây. Tôi đã giật mình nhận ra
rằng trong một con người, ta có thể bắt gặp lại một hình dáng,
đường nét nào, bất cứ nơi đâu luôn luôn có một sự tương xứng giữa
cái trán với chiếc đầu gối và đôi vai, với chiếc hông, và tất cả
đều đồng thể với bản chất thâm sâu, với tâm hồn con người có đầu
gối, vầng trán và đôi vai như thế. Và còn một điều nữa khiến tôi
chú ý, một điều tôi đã khám phá trong đêm nọ khi tôi phải giúp cạnh
một người đàn bà đang lâm bồn, điều ấy là cơn đau cùng cực và khoái
lạc tuyệt vời của nhục thể, cả hai đều có những nét diễn tả như
nhau.
Ông thầy nhìn đăm đăm vào chàng trai lạ mặt.
- Cậu biết rõ điều cậu vừa nói chứ?
- Thưa thầy vâng, đúng như thế, chính điều ấy đã làm tôi sung sướng
và kinh ngạc khi thấy nó được biểu hiện nơi tượng Đức Mẹ của thầy
và cũng vì thế mà tôi phải đến đây. Có một vẻ gì thật đau đớn trên
khuôn mặt yêu kiều ấy, đồng thời tất cả đớn đau ấy đều như lột xác
để biến thành hạnh phúc tinh thuần và thành nụ cười. Khi nhận thấy
điều trên, một ngọn lửa như bừng lên trong tôi, tất cả những ý nghĩ,
tất cả những giấc mơ tôi đã mang theo từ mấy năm qua, tất cả đều
được xác nhận, chúng không còn là những điều hư hoặc nữa. Tức thì
tôi hiểu ngay mình phải làm gì và phải đi đâu. Thưa thầy, tôi xin thầy
với tất cả tấm lòng, hãy cho tôi được tập việc cạnh thầy.
Không
Lộ vẫn chú ý nghe nhưng không tỏ vẻ niềm nở hơn.
Này cậu bé, điều cậu bàn về nghệ thuật rất hay, tôi đã ngạc nhiên
về điều ấy. Tôi cũng kinh ngạc khi thấy cậu còn trẻ, thật quá trẻ
mà đã chứng nghiệm được bí ẩn thâm sâu của sự khoái lạc cùng đau
khổ. Tôi sẽ rất vui mừng được tiếp chuyện cùng cậu về những vấn đề
ấy vào một buổi tối nào đó bên ly rượu ngọt. Nhưng cậu thấy đó,
thích thú trò chuyện cùng nhau với làm việc bên nhau năm này qua
tháng nọ là hai chuyện khác hẳn. Khi cậu ở trong xưởng nơi mọi người
đang làm việc, sự tán gẫu sẽ không có ; điều đáng kể ở đây, không
phải là ý nghĩa mỗi người có trong đầu để diễn tả ra, mà là điều
mỗi người có thể sáng tạo bằng đôi tay mình, chỉ độc nhất có điều
đó. Cậu có vẻ tha thiết thật sự, vì vậy tôi không muốn mời cậu ra
cửa ngay, ta hãy xem cậu có khả năng làm ra một việc gì không. Cậu
đã tập nặn đất hay sáp gì chưa?
Đan Thanh nghĩ ngay đến một giấc chiêm bao đã mơ từ lâu: chàng đang nặn
những hình tượng nhỏ bằng đất sét, bỗng tự nhiên tất cả đều dựng
đứng, biến ra thật to lớn. Nhưng chàng không nói đến những điều đó
mà chỉ trả lời rằng chưa hề thử những công việc ấy.
- Thôi được, cậu thử vẽ một cái đi. Bàn nơi kia, có sẵn giấy và than
đó, cậu hãy ngồi và vẽ đi. Cứ thong thả. Cậu có thể ngồi đến trưa,
đến chiều cũng được. Có thể tôi sẽ thấy cậu khá về gì. Thôi, bây
giờ nói đã khá nhiều, tôi phải làm việc của tôi, cậu vẽ đi.
Đan Thanh ngồi vào bàn nơi Không Lộ đã chỉ định. Chàng không hấp tấp
bắt tay vào việc ngay; chàng ngồi yên chờ đợi như một chú học sinh
nhút nhát, tò mò và yêu thích, nhìn theo ông thầy đang quay lưng về
phía mình và tiếp tục đẽo gọt một khuôn hình nhỏ bằng thạch cao.
Chàng ngắm người đàn ông nghiêm khắc, tóc đã lốm đốm bạc, đôi tay
thành thạo cứng rắn nhưng thanh nhã và đầy hứng thú, có sức mạnh
tạo ra những ma lực lôi cuốn. Người thầy điêu khắc không giống như con
người chàng tưởng tượng, ông ta già hơn, khiêm cung hơn, nhưng kém hẳn
vẻ tươi vui và thiện cảm, hình như không một chút nào sung sướng. Đôi
mắt ông sắc bén không thể tả bây giờ đang chiếu xuống tác phẩm của
ông, tia nhìn kia không còn đè nặng lên người chàng nữa. Chàng có thể
tưởng tượng cả con người ông rõ ràng. Chàng tự nhủ, con người này
rất có thể là một nhà thông thái, một người đi tìm chân lý trong yên
lặng và nghiêm khắc đang để hết mình vào một tác phẩm đã được số
đông người trước khởi công, và một ngày kia ông ta sẽ truyền lại cho
những người khác, một công việc đòi hỏi lao tâm khổ trí, có khi không
bao giờ hoàn tất. Những thế hệ đều phải tận tụy gắng công. ít ra
đó là điều mà chàng đã đọc được trên những đường nét của ông thầy
bằng nhiều kiên nhẫn, nhiều khả năng và suy tưởng, nhiều khiêm tốn và
ý thức về sự bất lực trong mọi tác phẩm nghệ thuật loài người
nhưng đồng thời còn có niềm tin vào sứ mệnh mình, tất cả đều in
dấu trên những đường nét đó. Đôi tay của nhà điêu khắc tuyệt vời lại
nói lên một ngôn ngữ khác. Những ngón tay nặn thạch cao như đôi tay ve
vuốt người yêu đã buông thả toàn thân nóng bỏng, những ngón tay run
rẩy với những cảm giác yêu đương, với sự dịu dàng không phân biệt,
những ngón tay vừa nhiệt tình vừa kính cẩn, chúng có vẻ nắm vững
chắc chắn một kinh nghiệm thâm sâu xưa cũ như mặt đất. Đan Thanh thích
chí chiêm ngưỡng đôi tay giáng phúc ấy. Nếu không có sự tương phản
giữa khối óc và đôi tay làm tê liệt nó thì đấy hẳn là một hình
ảnh chàng ưa thích phác họa.
Sau một giờ ngồi nhìn ông thầy làm việc, không bận tâm đến những
điều khác, chăm chú dò xét người đàn ông; một hình ảnh khác từ đáy
lòng bắt đầu hiện ra, trở nên rõ rệt trong chàng, bóng dáng của
người chàng quen biết hơn tất cả, người chàng yêu mến và thán phục;
và hình ảnh này không một rạn nứt, không một sự lỗi nhịp nào dù
rằng nó cùng chứa nhiều nét rất khác biệt nhau, nhắc chàng nhớ đến
những xung đột. Đó là hình ảnh của người bạn chàng, Huyền Minh. Mỗi
lúc hình dáng mỗi cô đọng và Huyền Minh hiện ra như một toàn thể,
quy luật thiết thân của người chàng yêu mến mỗi lúc một đậm nét
trong trí chàng: chiếc đầu thanh nhã biểu lộ thông minh, chiếc miệng
xinh đẹp, cao quý bởi phụng sự, tri thức và tuân phục kỷ luật, đôi
mắt thoáng vẻ sầu tư, hai vai mảnh dẻ, chiếc cổ dài và đôi tay thanh
tú dịu dàng biểu lộ một nỗ lực thấng vượt ra ngoài vật chất. Đã
lâu kể từ khi chàng rời tu viện Thánh n, chưa bao giờ chàng thấy bạn
rõ ràng như vậy, chưa bao giờ chàng nắm vững bóng hình bạn sống
trong chàng mãnh liệt đến thế.
Như trong mơ, như có một cái gì khẩn thiết buộc chàng phải ngoan
ngoãn vâng theo, Đan Thanh bắt đầu vẽ. Với lòng trìu mến kính cẩn,
những ngón tay chàng phác họa những nét đại cương hình ảnh đang ngự
trị trong tim chàng. Chàng đã quên tất cả, quên luôn nơi chàng ngồi.
Chàng chẳng biết ánh sáng đang từ từ di chuyển trong căn phòng; chàng
chẳng thấy ông thầy thinh thoảng liếc mắt vào tác phẩm của chàng.
Đan Thanh hoàn thành công việc như một nghi thức thiêng liêng buộc chàng
phải làm công việc mà trái tim chàng đã ra lệnh, đó là bức chân dung
Huyền Minh, để giữ mãi trong lòng chàng bóng hình thân yêu sống động
trong hồn chàng ngày hôm đó. Chàng có cảm tưởng làm công việc ấy là
để trả một món nợ, để bày tỏ một tấm lòng tri ân.
Không Lộ lại gần chàng và bảo:
- Trưa rồi, tôi phải đi ăn, cậu có thể dùng bữa với chúng tôi. Cho tôi
xem một chút nào, xem cậu đã vẽ được gì rồi?
Nhà
điêu khắc đứng sau lưng chàng, khẽ đẩy chàng ra để nhìn vào tấm giấy
lớn, đôi tay khéo léo cầm lấy bức họa một cách thận trọng. Đan Thanh
đã tỉnh cơn mơ mộng và ngước nhìn thầy bằng cặp mắt lo âu, chờ đợi.
Giữ bức họa trong hai tay, ông ta đứng ngắm hai con mắt xanh nghiêm khắc
và long lanh sáng. Một lát sau ông hỏi:
- Cậu vẽ ai đây?
- Đó là một người bạn của tôi, một tu sĩ trẻ, một nhà thông thái.
- Được rồi, cậu hãy rửa tay, bồn nước ngoài sân kìa. Sau đó ta sẽ đi
ăn. Những ông thợ bạn của tôi không ở đây, họ làm việc ở ngoài.
Đan Thanh ngoan ngoãn đi ra, chàng rửa tay và ước ao được biết ý kiến
của thầy. Khi chàng trở lại phòng, ông ta đã đi đâu mất. Chàng nghe
tiếng ông khua động ở phòng bên; khi ông trở ra, ông cũng đã rửa tay
xong, chiếc áo làm việc đã thay vào bộ đồ dạ rất đẹp khiến ông có
vẻ đường bệ, oai phong. Ông đi trước, cả hai leo lên cầu thang có tay
vịn bằng gỗ hồ đào tạc tượng đầu thiên thần, họ qua gian phòng
ngoài chứa những pho tượng cổ điển lẫn tân thời, rồi bước vào một
căn phòng rất đẹp; sân, vách và trần nhà đều lót gỗ tốt, chiếc bàn
ăn được đặt trong phòng cạnh cửa sổ. Một cô gái chạy ra: cô gái
chàng đã nhìn thấy hôm trước.
- Ly
Phương, con dọn thêm bát đũa, cha có một người khách, đó là, à cha
cũng chưa được biết tên.
Đan Thanh nói tên mình.
- À, cậu Đan Thanh, chúng ta ăn được chưa?
- Vâng, xin cha chờ một lát.
Cô gái tìm một cái đĩa rồi đi ra, sau đó trở vào với mụ đàn bà
giúp việc mang theo các món ăn: thịt heo, đậu và bánh mì. Trong bữa
ăn hai cha con nói chuyện này chuyện kia luôn miệng. Đan Thanh ngồi im
lặng, chàng ăn không được nhiều và cảm thấy tù túng, khó chịu. Nhưng
cô gái rất hợp nhãn chàng, dáng nàng đẹp khỏe mạnh, cao gần bằng
cha, nhưng nàng giữ một thái độ nghiêm trang cách biệt như đàng sau
một tấm gương, nàng không nhìn, không trao đổi một lời nào với người
khách lạ.
Bữa ăn đã xong, ông thầy bảo:
- Tôi muốn nghỉ ngơi nửa giờ. Cậu hãy vào trong xưởng mà dạo chơi,
sau đó chúng ta sẽ bàn vào chương trình của cậu.
Đan
Thanh kiếu từ đi ra. Ông thầy đã xem bức vẽ của chàng cả tiếng đồng
hồ mà chẳng nói gì về chuyện đó cả. Và bây giờ còn phải đợi nửa
giờ nữa. Không làm sao hơn, chàng đành đợi vậy. Đan Thanh không vào
xưởng, bây giờ chàng không muốn xem lại tác phẩm chàng. Chàng đi ra
sân, ngồi trên thành giếng, nhìn dòng nước con con tuôn ra không ngừng
từ chiếc máng xuống đến bệ đá sâu, dòng nước đổ tạo thành đợt
sóng li ti, kéo theo những bọt không khí chìm sâu xuống rồi nổi lên
như từng chuỗi ngọc trắng. Chàng nhìn thấy bóng hình in trong gương
nước, chàng nghĩ tên Đan Thanh đó, tên đang nhìn chàng từ đáy nước sâu
không còn là tên Đan Thanh của tu viện hay tên Đan Thanh của cô gái Liên
Đài, cũng không là tên Đan Thanh của rừng thẳm. Chàng tự nhủ là
mình, cũng như tất cả mọi người, sống trôi lăn, biến chuyển không
ngừng để sau cùng vở tan trong khi hình ảnh do người nghệ sĩ sáng
tạo vẫn không đổi dời, vẫn trường tồn mãi mãi.
Có phải chăng căn nguyên của mọi nghệ thuật và có lẽ ngay cả của
mọi tư tưởng chính là sự sợ hãi đối với cái chết. Chúng ta sợ
chết, chúng ta rùng mình trước cuộc đời dâu bể, ta buồn nhìn cánh
hoa tàn úa, lá rụng mỗi năm; hiển nhiên trong lòng chúng ta cảm thấy
mình cũng là sinh vật phù du, chẳng mấy chốc sẽ tàn tạ rã rời. Khi
là nghệ sĩ, ta sáng tạo những hình dáng, hoặc là nhà tư tưởng ta
tìm ra những định luật hay lập thành những ý nghĩ, chúng ta đều
hành động như thế để cứu vãn một cái gì trong trò đùa ma quái ấy,
để giữ lại một cái gì tương đối dài lâu hơn chúng ta. Người đàn bà
mẫu pho tượng Đức Mẹ có lẽ nhan sắc đã tàn tạ, hoặc đã chết, ngay
chính ông thầy không lâu ông cũng sẽ chết, những kẻ khác ở trong ngôi
nhà này, ăn ở chiếc bàn kia, nhưng tác phẩm của ông vẫn còn đó,
trong nhà nguyện lặng lẽ, nó sẽ còn rạng rỡ hàng trăm năm sau với
nụ cười buồn trong tuổi thanh xuân bất diệt.
Chàng nghe tiếng ông thầy bước xuống thang và đi nhanh về phía xưởng.
Không Lộ đi qua đi lại, thỉnh thoảng nhìn vào bức họa của chàng, sau
cùng ông ta dừng lại bên cánh cửa sổ và ngập ngừng nói với giọng
khô khan:
- Ở đây kẻ học nghề thường mất ít ra là bốn năm và phụ huynh phải
trả thù lao cho thầy.
Khi ông ta ngừng nói Đan Thanh tưởng nhà điêu khắc sợ chàng không có
tiền trả. Chàng vội lấy con dao trong túi, nhanh tay cắt đường chỉ
khâu trong áo để rút đồng tiền vàng đưa ra. Không Lộ ngạc nhiên nhìn
chàng và bật lên cười khi chàng đưa đồng tiền cho ông.
- À, ra cậu hiểu như thế? Không phải đâu. Cậu hãy giữ nó và nghe đây.
Tôi đã nói đó là thông lệ trong phường thợ của chúng tôi. Nhưng tôi
không phải như những thầy khác, và cậu cũng chẳng phải như nhúng đứa
bé tập sự kia. Cậu phải biết, một thằng bé học nghề từ mười ba
mười bốn cùng lắm là mười lăm, suốt một nửa thời gian học nghề, nó
chỉ được dọn dẹp và chạy vặt. Nhưng với cậu, cậu đã lớn quá, với
số tuổi của cậu, cậu có thể đã là thợ bạn hoặc thầy từ lâu. Một
người học nghề râu ria như cậu thật tôi chưa từng thấy. Ngoài ra, tôi
không muốn có ai tập sự trong nhà tôi cả. Cậu không có vẻ là một kẻ
chịu để người ta sai vặt. Đan Thanh đã sốt ruột đến cùng cực, mỗi
lời nói quanh co của ông thầy như mỗi đòn tra tấn, ông ta có vẻ dạy
đời quá đáng, chàng kêu lên:
- Nếu thầy không muốn dạy nghề cho tôi sao thầy lại nói với tôi những
lời như thế?
Không
bối rối, ông ta vẫn giữ nguyên giọng như trước.
- Tôi đã suy nghĩ một tiếng đồng hồ về lời thỉnh cầu của cậu, giờ
đây cậu cũng nên kiên nhẫn mà nghe tôi nói. Tôi đã nhìn bức họa của
cậu, có nhiều nét sai, nhưng tuy vậy cũng rất đẹp, nếu không tôi đã
cho cậu ít tiền rồi mời cậu ra cửa và quên cậu đi. Tôi không muốn
nói nhiều đến công việc của cậu. Tôi chỉ muốn giúp cậu trở nên một
người nghệ sĩ. Có lẽ đó chính là thiên tính của cậu. Nhưng cậu
không thể làm một kẻ học nghề được nữa và hễ ai chưa từng làm kẻ
tập sự và hoàn tất bổn phận của họ trong bấy nhiêu, kẻ đó không
thể là thợ bạn hay thầy trong phường được. Cậu nên biết trước điều
ấy. Nhưng cậu cố thử xem sao. Nếu cậu có thể ở lại đây, trong thành
phố này một thời gian, cậu có thể đến nhà tôi học một vài điều.
Chuyện đó không có gì bắt buộc, không có gì ký kết cả; cậu có thể
bỏ đi tùy thích. Cậu có thể làm gãy vài con dao khắc, làm hỏng vài
miếng gỗ và khi cậu thấy mình không phải là một nghệ sĩ điêu khắc,
cậu sẽ xoay sang việc khác. Cậu có bằng lòng như thế không?
Đan
Thanh đã lắng nghe, hổ thẹn và cảm động, chàng
nói:
- Tôi xin cám ơn thầy với tất cả tấm lòng. Tôi sống không nhà không
cửa và tôi có thể xoay sở sống ở thành thị cũng như trong rừng. Tôi
hiểu rằng thầy không muốn nhận lấy lo âu và trách nhiệm về tôi như
một kẻ tập việc. Thật vô cùng may mắn cho tôi được học với thầy, tôi
rất cám ơn thầy đã vui lòng cho tôi học.

