Phương Đông lướt ngoài cửa sổ - Chương 28
Quay
trở lại trung tâm Tokyo, ở thềm chờ số 18, khoảng một trăm người đàn
ông Nhật trong những bộ com lê màu xám đang đứng đợi tàu. Nỗi u sầu
phảng phất trên gương mặt họ. Họ không mang hành lý; họ không phải người
đi du lịch. Đứng tụ tập theo hình bán nguyệt quanh một toa tàu, họ nhìn
không chớp mắt, mắt dán chặt vào một cửa sổ. Bên trong chuyến tàu, tại
cửa sổ đó, một người đàn ông và đàn bà đứng cạnh ghế của mình, chỉ có
phần cằm của họ hiện ra dưới khung cửa số. Hồi còi rúc lên; tàu bắt đầu
di chuyển, nhưng trước khi nó động đậy dù chỉ một xăng ti mét, người đàn
ông và đàn bà bắt đầu cúi gập người chào tại cửa sổ, lặp đi lặp lại,
bên ngoài sân ga, cả trăm người đàn ông kia cũng cúi chào tương tự, rất
nhanh chóng, vì đoàn tàu đang tăng tốc. Rồi việc cúi chào ngừng lại:
trăm người đàn ông kia vỗ tay. Người đàn ông và đàn bà tiếp tục đứng cho
tới khi chúng tôi ra khỏi nhà ga, sau đó họ ngồi xuống đọc báo.
Tôi hỏi một người Nhật ngồi kế bên xem họ là ai.
Anh
ta lúc lắc cái đầu. Trong chốc lát, tôi nghĩ anh ta sẽ nói, “Không biết
tiếng Anh” - nhưng anh ta đang nghĩ. Anh ta nói, “Không cần nghĩ, tôi
cho đó là một giám đốc công ty. Hoặc có thể là một chính trị gia. Tôi
không biết ông ta.”
“Quả là một buổi tiễn đặc biệt.”
“Chuyện
này không lạ ở Nhật. Tay đàn ông là người quan trọng. Người làm thuê
cho ông ta phải thể hiện sự tôn trọng nào đó, cho dù - anh ta cười - cho
dù trong lòng họ không cảm thấy như vậy.”
Tôi
muốn bám lấy câu chuyện, nhưng khi tôi đang nghĩ câu hỏi, người đàn ông
bên cạnh đã với cái cặp và lấy ra một quyển sách sờn mép có tên The
golden bowl (Chiếc bát vàng) của Nhà xuất bản Penguin. Anh ta mở ra giữa quyển, gập cái gáy sách tã và bắt đầu đọc. Tôi cũng làm thế với quyển Silence (Im lặng)
của Shusaku Endo viết, cảm thấy may mắn vì tin rằng Endo làm cho tôi
vui, chứ không phải Henry James. Người đàn ông bấm cái bút bi, viết
nguệch ngoạc ba ký tự vào một bên lề đã có chữ viết và giở sang trang.
Xem một ai đọc tác phẩm của James có thể rất buồn chán. Tôi đọc cho đến
khi người soát vé tới, khi kết thúc việc đục lỗ vé cho hành khách, anh
ta đi ngược lại lối đi giữa các hàng ghế, cúi chào và nói, “Cảm ơn! Cảm
ơn! Cảm ơn!” đến tận lúc ra tới cửa. Người Nhật cư xử tốt đến hoàn hảo
và khiến tính cách này không thể phân biệt được với sự khiếm nhã.
Tôi
nhìn ra ngoài cửa số, ngắm vùng ngoại ô Tokyo lần chót, nhưng chúng
tiếp tục hiện ra, trải dài hút tầm mắt tôi trên đồng bằng màu nâu phẳng
như cái bánh quy. Tàu siêu tốc Hikari, chuyến tàu khách nhanh nhất thế
giới, vượt qua quãng đường gần năm trăm cây số từ Tokyo đến Kyotol trong
chưa đầy ba giờ, thật sự chưa bao giờ khơi lên nỗi sợ thuần túy trong
người dân về việc nối hai thành phố lại với nhau bằng chuỗi đô thị. Dưới
một khoảng trời, chỗ làn khói đen phun lên như len dệt, là cột điện cao
thế dây nhợ chằng chịt, các tòa nhà cao tầng giống như những hộp số
khổng lồ, và các ngôi nhà lộn xộn không được phân khu, không ngôi nào
hơn hai tầng, những khung cửa số như tranh vẽ đối diện với các nhà máy.
Bên trong các ngôi nhà - tôi biết điều này từ buổi tối đi tham quan ở
Tokyo - đều ảm đạm, giản dị, không chê vào đâu được và không thể định
tuổi chính xác; bên ngoài, lớp gỗ đã phai màu dính đầy bồ hóng từ ống
khói nhà máy bên cạnh, và không nhà nào cách nhà nào quá một bàn chân.
Hiểu mật độ dân số ở đây là để đi đến kết luận rằng việc quá đông đúc
cần có lối cư xử tốt; bất kỳ sự làm phiền nào, bất cứ thứ gì không ở
trong trạng thái hoàn hảo, sẽ khiến nó lộn xộn.
Lướt
qua một trang trại rộng chừng tám nghìn mét vuông, tôi hy vọng sẽ nhìn
thấy nhiều cánh đồng hơn, nhưng trang trại đó là điều khác biệt duy
nhất, không còn gì đáng chú ý hơn nữa: cái cày bé tí, luống cày chật
hẹp, cây vụ đông được gieo hạt cách nhau vài chục phân, cỏ khô không
được đóng bánh mà thu lại trong các vải bọc nhỏ - bức tranh thu nhỏ về
một trang trại. Xa xa, mô hình này được lập lại trên vài ngọn đồi, nhưng
những luống cày phủ đầy tuyết, biến cảnh vật thành một tấm vải nhăn
nhúm. Đó là hình ảnh hiện ra trước mắt tôi, nhưng ngay khi tôi nghĩ tới
chúng thì tàu đã đi xa hàng ki lô mét. Con tàu đi nhanh hơn tôi nghĩ –
quá nhanh, mọi người đều ngồi nguyên trên ghế.
Quả
là khó để đi dạo trên tàu khi nó di chuyển ở tốc độ đó - một lần rung
lắc cũng có thể hạ đo ván bạn - chỉ có những người đẩy xe bán trà và
bánh di chuyển dọc các hàng ghế. Không có các đặc trưng truyền thống của
tàu chợ, tàu hỏa của Nhật dựa vào các tiện nghi của máy bay: sự tĩnh
lặng, chỗ để chân, đèn đọc sách - phải trả thêm mười đô la để ngồi hai
người (thay vì ba) một hàng ghế và ngăn hành khách không đứng
lên bám vào cửa ra vào. Tốc độ khiến nhiều người buồn ngủ; cũng khiến
những người khác không thở được. Nó cản trở việc nói chuyện. Tôi nhớ
những chuyến tàu chậm với các toa xe có ghế tựa và những bánh xe ầm ĩ.
Đi tàu ở Nhật là sự di chuyển đơn thuần từ thành phố này sang thành phố
khác, chẳng có gì thích thú: chỉ có giờ đến là đáng quan tâm. Những
chuyến tàu của châu Á đã ở sau tôi. Tôi vẫn tiếp tục đi.
“Tôi thấy anh đang đọc Henry James.”
Người đàn ông cười.
“Tôi thấy James về sau này sa vào lảng tránh,” tôi nói.
“Khó hiểu?”
“Không, không khó hiểu - chỉ lảng tránh.”
“Anh có thể tới lớp của tôi!”
“Anh lên lớp về James à?”
“Ồ, tôi gọi lớp học đó đơn giản là Chiếc bát vàng.”
“Nghe có vẻ tham vọng,” tôi nói. “Một sinh viên bình thường của anh mất bao lâu để đọc Chiếc bát vàng?”
“Khóa học kéo dài hai năm.”
“Họ có đọc quyển sách nào khác không?”
“Chỉ quyển đó thôi.”
“Lạy Chúa lòng lành. Anh dạy bao nhiêu bài?”
Anh
ta làm một phép đếm đơn giản, sử dụng các đầu ngón tay của mình, sau đó
nói, “khoảng hai mươi bài giảng một năm. Tổng cộng bốn mươi bài tất
cả.”
“Tôi đang đọc Shusaku Endo.”
“Tôi biết. Ông ta một trong những người Thiên Chúa giáo ở Nhật.”
“Anh dạy văn học Nhật Bản à?”
“Ồ vâng. Nhưng sinh viên vẫn nói chúng tôi không đủ hiện đại. Chúng muốn đọc các sách viết sau chiến tranh.”
“Cuộc chiến nào?”
“Thế chiến I - các tác phẩm viết ra sau cải cách Minh Trị.”
“Vậy là anh chuyên sâu về các tác phẩm cổ điển?”
“Vâng, thế kỷ 8, 9, cả thế kỷ 11 nữa.”
Anh
ta liệt kê các tác phẩm và bỏ qua James. Anh ta bảo mình là giáo sư đại
học. Tên anh ta là Toyama và là giáo sư dạy tại một trong các trường
đại học ở Kyoto. Anh ta nói tôi sẽ thích Kyoto. Faulkner đã rất thích nó
và Saul Bellow - ồ, ông ấy cũng thích nó. “Saul Bellow không vui vẻ.
Thế là chúng tôi đưa ông ta đến một buổi biểu diễn thoát y. Ông ta thích
lắm.”
“Tôi cá là thế đấy.”
“Anh có thích biểu diễn thoát y không?”
“Chỉ
một điểm,” tôi đáp. “Nhưng cái mà tôi thấy không phải là biểu diễn
thoát y. Những kẻ ác dâm làm tình với bọn bạo dâm, trần truồng tự sát -
tôi chưa bao giờ xem những thứ máu me thế! Tôi chả có bụng dạ nào xem
chúng. Anh đã đến nhà hát Nichigeki chưa?”
“Rồi,” giáo sư Toyama nói. “Chả có gì cả.”
“Ôi, tôi không khoái mấy trò truyền máu dâm dục. Tôi rất tiếc. Tôi muốn xem người Nhật ‘quan hệ’ bên ngoài khu vực cấp cứu cơ.”
“Ở
Kyoto,” ông nói, “chúng tôi có một buổi trình diễn thoát y rất đặc biệt
- dài ba tiếng. Buổi trình diễn này nổi tiếng lắm. Saul Bellow thích nó
nhất. Hầu hết là trình diễn đồng tính nữ. Ví dụ, một cô gái sẽ mang mặt
nạ - mặt nạ đặc biệt dùng trong nhà hát kabuki. Mặt nạ đó rất dữ dằn
với cái mũi dài. Rõ ràng đây là vật biểu tượng cho dương vật. Cô gái
không đeo mặt nạ trên mặt - cô ta đeo nó ở dưới, ngay dưới eo. Bạn diễn
của cô ta ngả người xuống và cô ta đút cái mũi vào, giả vờ đang giao
hợp. Cao trào của buổi tối là, xin lỗi, là màn trình diễn âm vật. Khi
màn này kết thúc, mọi người vỗ tay. Nhưng đó là một vở diễn hay. Tôi
nghĩ lúc đó anh nên xem nó.”
“Anh có tới đó thường xuyên không?”
“Khi còn trẻ thì tôi hay tới đó, gần đây tôi chỉ tới cùng các khách viếng thăm. Nhưng chúng tôi có rất nhiều khách.”
Anh
ta nói chính xác, tay siết chặt; anh ta rụt rè, nhưng anh ta có thể
nhận thấy tôi thích thú, tôi nói với anh mình cũng là một giảng viên đại
học. Anh ta biết nơi ở tại Kyoto: anh nói có thể tới dự giờ giảng của
tôi ở đó. Anh ta hỏi về chuyến đi của tôi và hỏi rất kỹ về chặng đi bằng
tàu qua Thố Nhĩ Kỳ và Iran.
“Đây
là một chuyến đi dài từ London tới Nhật bằng tàu hỏa. Chuyến đi có các
khoảnh khắc của nó,” tôi nói. Tôi kể cho anh ta về quyển Following the
Equator (Theo đường xích đạo) của Mark Twain, về kẻ lang thang hài hước Harry De Windt, người đã viết quyển From Paris to New York by Land (Đi từ Paris tới New York bằng đường bộ), và From Pekin to Calais by Land (Đi từ Bắc Kinh tới Calais bằng đường bộ) tại thời điểm chuyển giao thế kỷ. Giáo sư Toyama cười khi tôi trích lời khuyên của De Windt trong quyển sách cuối:
Tôi
chỉ có thể tin quyển sách này may chăng sẽ ngăn cản người khác đi theo
tấm gương của tôi, sẽ cảm thấy viên mãn khi biết rằng các trang sách này
không phải được viết trong vô vọng. M. Victor Meignan kết luận tác phẩm
hài của ông Từ Paris tới Bắc Kinh bằng đường bộ thế này: “Đừng đến đó!
Đó là tinh thần của quyển sách này!” Hãy để người đọc hưởng lợi từ kinh
nghiệm của chúng ta.
“Một
lần,” giáo sư Toyama nói, “tôi đi tàu thủy từ London tới Yokohama. Hành
trình dài bốn mươi ngày. Đó là một con tàu hàng - không có nhiều hành
khách. Chỉ có một người phụ nữ duy nhất trên tàu. Cô ấy là bạn gái của
một kiến trúc sư. Nhưng họ như thể là vợ chồng. Đó là thời gian thiếu
đàn bà lâu nhất mà tôi chịu đựng. Tất nhiên, khi tới Hồng Kông, chúng
tôi lên bờ và xem vài phim khiêu dâm, nhưng chẳng phim nào hay. Phòng
chiếu thì ngột ngạt, máy chiếu hỏng liên tục. Phim của Đức, tôi cho là
vậy. Âm bản rất chán. Sau đó chúng tôi về Nhật.”
“Hồng Kông là chặng dừng chân duy nhất à”
“Ở
Penang nữa.” Đoàn tàu đã đến một ga xép, điểm dừng duy nhất của tàu Ánh
Nắng, bốn mươi lăm giây ở Nagoya, sau đó chúng tôi lại đi tiếp.
“Có rất nhiều gái ở Penang!” tôi nói.
“Đúng
thế. Chúng tôi đến quán rượu để tìm người dắt mối. Chúng tôi uống chút
bia và gã tú ông bảo, ‘Có gái ở trên tầng.’ Chúng tôi có năm người - tất
cả đều là sinh viên Nhật đi từ Anh quốc. Chúng tôi hỏi hắn liệu có thể
lên, nhưng trước khi hắn dẫn chúng tôi lên, hắn nhất định thống nhất giá
cả. Chúng tôi cũng gặp khó khăn về ngôn ngữ. Hắn có giấy và bút chì.
Hắn viết, 'Một lần giao hợp' - quá đắt; ‘hai lần’ - vẫn quá nhiều. Các
tiết mục khác nữa - ồ, anh biết thể loại đó mà. Hắn bảo chúng tôi chọn.
Nhục thế không biết. Chúng tôi thậm chí phải khai giao hợp bao nhiêu lần
trước khi lên tầng. Chúng tôi thôi luôn.
“Tôi
hỏi hắn liệu có buổi trình diễn đồng tính nữ nào không. Nhưng hắn là
một gã tú ông khôn ngoan. Hắn giả vờ không hiểu! Chúng tôi giải thích -
sau đó hắn hiểu. Hắn nói, ‘Người Trung Quốc ở Penang không làm những
việc đó. Chúng tao không có buổi trình diễn đồng tính nữ nào.’ Chúng tôi
quyết định quay trở về tàu. Hắn rất muốn chúng tôi ở lại. Hắn nói, ‘Bọn
tao có thế tổ chức buổi trình diễn. Tao có thể tìm một cô, một trong số
chúng mày diễn phần của người nam và những thằng còn lại có thể xem.’
Nhưng dĩ nhiên điều này không cần phải hỏi.”
Để
đáp lại, tôi kể cho anh ta nghe về nhà thổ trẻ con ở Madras, các tú bà ở
Lahore, các mánh khóe tình dục ở Viêng Chăn và Băng Cốc. Với hành trình
đã đi, vốn liếng giai thoại của tôi về những chuyện thế này cả đống,
giáo sư Toyama rất trân trọng tôi, anh ta đưa tôi danh thiếp. Phần còn
lại của chuyến đi, anh ta đọc James, tôi đọc Endo và vị giám đốc công ty
đang xử lý cái có vẻ là bài diễn thuyết hoặc báo cáo đang đặt trên cặp,
nó được in trên một tờ giấy khổ lớn với các cột chữ đối xứng. Sau đó
loa tàu vang lên, chúng tôi được thông báo bằng tiếng Nhật và tiếng Anh
về sự nhanh gọn khi tàu tới ga ở Kyoto.
“Không phải vội đâu,” giáo sư Toyama nói. “Tàu sẽ đỗ ở đây đủ một phút.”
Việc
đi một quãng đường dài, sau ba tháng, trở nên giống như thử rượu hoặc
dự một bữa tiệc đứng toàn cầu. Đến một địa điểm, thăm thú nó và đánh
dấu. Một cuộc thăm viếng, sự tạm nghỉ trước khi chuyến tàu kế tiếp lăn
bánh ngăn cản tính phàm ăn, nhưng có thể quay lại. Do đó từ tất cả những
ghi chép dài dòng của tôi, có một kết luận đơn giản hơn nổi lên, trong
đó Iran được ghi nhớ, Afghanistan bị xóa đi, Pershawar đáng chú ý, Simla
tạm được, vân vân. Và điều đó xảy ra ngay sau khi cái mùi nồng nặc của
một địa điểm hoặc cảnh tượng ngửi thấy từ một góc ghế trong Toa Xanh
cũng đủ xui khiến khách du lịch bỏ qua và đi tiếp. Đến Singapore, tôi
biết sẽ không bao giờ quay lại; Nagoya thì tôi đã bỏ qua tại sân ga
trong chưa đầy bốn mươi lăm giây; nhưng tôi ghi nhớ Kyoto cho một chuyến
quay lại. Kyoto giống như một chai rượu mà bạn nhớ nhãn mác để đảm bảo
hạnh phúc trong tương lai.
Kyoto
có đền Heian, một ngôi đền màu đỏ rực rỡ, trong khu vườn cây cối mùa
đông trụi lá của đền có một chiếc xe điện cổ đỗ giữa các cây thấp, trên
con đường rộng chục mét, được nâng niu như vật thiêng. Thời tiết dễ
chịu, các phòng trà bằng gỗ, những ngọn núi bao quanh, các phương tiện
chở khách công cộng trên phố, bầu không khí thân thiện của những người
có học thức uống rượu trong quán nhỏ trên các con hẻm của thành phố.
Không có cảnh tiền trao tay ở các quán rượu đó, không phải ký hóa đơn.
Người ta uống rượu tại những chỗ này còn hơn cả khách hàng thân thuộc -
họ như là thành viên. Nữ chủ quán ghi lại những gì họ ăn còn đồ uống thì
dễ đếm. Mọi đàn ông đều có riêng trong tủ rượu của quán này chai whisky
Suntory lâu năm, tên người hoặc số được in màu trắng trên cái chai đó.
Vào
lúc hai giờ sáng, tại một trong những quán rượu Kyoto, chúng tôi có một
cơ số cuộc tán gẫu từ chuyện hài hước của người Nhật cho tới tính dâm
dục phảng phất trong Women Beware Women (Đàn bà coi chừng đàn bà)
của Middleton. Tôi chộp lấy chủ đề Yukio Mishima tự sát làm người đọc
phương Tây sợ hãi nhưng hình như đấy là điều an ủi người Nhật, những
người nhìn ra xu hướng đế quốc ngu hiểm của ông ta. Họ dường như coi ông
ta theo cách người Mỹ nói về Mary McCarthy rằng cô ta là một đứa con
của Cách mạng Mỹ. Tôi nói mình nghĩ Mishima dường như viết các tiểu
thuyết của ông dựa trên những phép tắc của đạo Phật.
“Đạo Phật của ông ta sai - rất hời hợt,” giáo sư Kishi nói.
“Hắn chỉ học đòi.”
Ông
Shigahara bảo, “Điều đó không quan trọng. Người Nhật không biết gì về
đạo Phật và Mishima cũng không cảm thấy nó. Chúng tôi không cảm thấy nó
sâu sắc như người Công giáo các anh cảm thấy về Công giáo. Đó là cách
chúng tôi sống, nhưng không dâng hiến hay cầu nguyện. Người Công giáo
các anh có giác quan tâm linh.”
“Điều
này thật mới mẻ với tôi,” tôi đáp. Nhưng tôi có thể hiểu làm thế nào
người Nhật đi tới kết luận này sau khi đọc quyển Im lặng của Endo, nói
về sự ngược đãi tôn giáo và mức độ trung thành. Tôi nói tôi đã đọc các
tiểu thuyết Sea of Fertility (Biển màu mỡ) của Mishima. Tôi từng rất thích Spring Snow (Tuyết mùa xuân); quyển Runaway Horses (Những con ngựa chạy đi) khó đọc hơn; đến quyển The Temple of Dawn (Ngôi đền bình minh) thì tôi thấy hoàn toàn lúng túng trước chủ đề tái sinh.
“Ồ, đó là cái mà nó muốn nói,” giáo sư Kishi giải
thích.
“Xem ra khó hiểu với tôi,” tôi nói.
“Khó hiểu với cả tôi nữa,” ông Iwayama lên tiếng.
“Vâng,” ông Shigahara thêm vào. “Nhưng khi anh đọc những quyển tiểu thuyết cuối cùng đó, anh hiểu tại sao ông ta lại tự sát.”
“Tôi có nhận thấy,” tôi nói. “Ông ta tin vào sự tái sinh, có lẽ ông ta mong đợi sẽ sớm quay trở lại.”
“Tôi không hy vọng thế đâu!” giáo sư Kishi nói.
“Thật à?”
“Phải, tôi thực sự không hy vọng thế. Tôi hy vọng ông ta ở nguyên nơi ông ta đang ở.”
“Một ví dụ về tính hài hước của Nhật!” ông Iwayaina nói.
“Hài hước đen!” giáo sư Miyake góp lời.
Một thứ màu trắng bốc khói, có hình bánh xà phòng, được đặt trước mặt tôi trên quầy rượu.
“Củ cải đấy. Kyoto nổi tiếng vì nó. Ăn đi - anh sẽ thấy nó ngon tuyệt,” giáo sư Kishi, người trong vai trò chủ nhà nói.
Tôi nếm thử: nó hơi xơ nhưng thơm. Cô phục vụ nói gì đó bằng tiếng Nhật với giáo sư Kishi.
”Cô ta nói anh trông giống Engelbert Humerdinck. ”
“Nói với cô ta,” tôi nói, “tôi thấy cô ta có cái đầu gối thật đẹp.”
Giáo sư thuật lại. Cô cười và lại nói.
“Cô ấy thích cái mũi của anh!”
Ngày
tiếp theo tôi mang dư vị rượu lên đỉnh núi Hiei. Tôi được giáo sư
Varley, trước đây từng là thầy giáo của tôi dẫn đi. Giáo sư tìm ra ở
Kyoto một nơi ẩn náu tạm thời trước sự ngu xuẩn cao độ mà ông thấy ở
Amherst. Gần đến tuổi về hưu, ông rút lui vì chán ghét nơi đó và trốn
tới Kyoto. Chúng tôi ngồi trên ghế nhung của chuyến tàu điện Keifuku tới
công viên Yase, nơi những cây phong vẫn còn lưa thưa lá, những ngôi sao
màu cam nhỏ lấp lánh; sau đó chúng tôi ngồi cáp treo lên mỏm cao thứ
hai – tuyết xuất hiện trên mặt đất khi chúng tôi lên; tiếp đó tới đường
cáp, một khoang treo lơ lửng đi qua các cây tùng bị tuyết bao phủ lên
tới đỉnh núi. Ở đây tuyết đang rơi. Chúng tôi đi xuyên qua rừng, thăm
nhiều ngôi đền khác nhau, và tại một điểm hẻo lánh chúng tôi gặp một
nhóm hai mươi nông dân bất chấp thời tiết, chủ yếu là ông già, bà già
với vài cô gái mập mạp, họ đi nghỉ ngày đầu tiên sau mùa vụ, hướng những
khuôn mặt đỏ hồng rắn rỏi của họ về phía các ngôi đền trên núi. Người
dẫn đầu đoàn quấn một lá cờ trên đầu để giữ cho khô ráo, giống như người
gác ghi ở Ceylon vào mùa mưa gió hôm nào. Nhóm người vượt qua chúng tôi
và không lâu sau đó, chúng tôi nghe thấy họ đánh chuông trên đền. Khúc
gỗ đánh vào cái chuông đồng khổng lồ, vang rền và cảnh tỉnh, những tiếng
trầm vang xuyên qua cánh rừng tuyết tĩnh lặng và theo chúng tôi trên
suốt đường xuống núi.

