Size 12 không phải là mập - chương 02
Mà thật
trông không gì lạc lõng bằng một gian hàng bán đồ lót ngay trước cửa Fischer
Hall. Đây đơn giản không phải là loại nhà có thể kết hợp với một hàng quần lót!
Toà nhà Fischer Hall vươn lên đầy ngạo nghễ trên công viên Washington Square kia được xây bằng gạch đỏ từ tận
khoảng năm 1850. Tôi biết điều đó từ một số tài liệu tìm được trong ngăn bàn
ngay ngày đầu tiên tiếp quản công việc, và rằng cứ năm năm một lần, thành phố
lại bắt trường thuê một công ty đến cạo hết vữa cũ ra để thay một lớp vữa mới,
sao cho gạch của toà nhà không rớt ra và đáp coong coong vào đầu người ta
Ý thì hay
đấy, tôi nghĩ vậy. Thế nhưng, mặc cho những nỗ lực của thành phố, vẫn có những
thứ rơi rớt khỏi Fischer Hall và đập vào đầu người ta như thường. Đấy là tôi
không nói đến chuyện gạch đá. Tôi đã nhận được những báo cáo về các loại chai,
lon, quần áo, sách vở, CD, rau củ, những thanh kẹo Good & Plentys, và một
lần nọ là hẳn một chú gà quay nguyên con đáp xuống mặt đường.
Nói cho bạn
biết: mỗi khi đi ngang qua Fischer Hall, lúc nào tôi cũng phải nhìn lên, cẩn
tắc vô áy náy.
Tuy nhiên,
hôm nay thì không. Hôm nay tia nhìn của tôi dính chặt vào cửa chính của toà
nhà. Tôi đang cố nghĩ cách xem làm sao để lẻn được vào trong qua cái đám đông
vị đại - và cả cảnh sát New York nữa - đang án ngay trước cửa. Có vẻ
như cùng với vài tá khách du lịch lượn lờ hội chợ, khoảng một nửa số “cư dân”
của Fischer Hall đang đứng ở bên ngoài, chờ người ta cho phép vào lại bên trong
toà nhà. Bọn nhóc không hề biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi biết thế vì nghe
chúng la hét hỏi han nhau trên nền tiếng sáo ngang phè vang lên từ một gian
hàng khác ngay trước toà nhà, hình như là gian hàng bán…ờ… cát-sét nhạc sáo Pan
gì gì đấy.
“Có chuyện
quá
“Ai biết!
Có cháy hả?”
“Lại thằng
điên nào để cho nồi lá thơm sôi cạn khô đi chứ gì.”
“Không, là
thằng Jeff đấy. Đảm bảo nó lại làm rớt tẩu thuốc cho mà xem.”
“Jeff, mày
tệ ghê luôn á!”
“Lần này
không phải tao, thề!”
Bọn nhóc
chưa biết có một vụ án mạng xảy ra trong toà nhà. Chứ biết thì chắc chúng đã
chẳng đứng đây mà đùa về nước với thuốc như vậy. Tôi nghĩ thế.
Okay, là
tôi hy vọng thế.
Rồi tôi
chợt tia thấy một gương mặt quen quen, người này chắc chắn biết chuyện gì đang
xảy ra. Nhìn mặt chị là tôi biết ngay. Chị không phải chỉ bời bời vì bên cứu
hoả không cho chị vào lại bên trong. Chị bời bời vì chị biết.
“Heather!”
Magda cũng nhận ra tôi trong đám đông, chị vẫy vẫy bàn tay đã được làm móng rất
kĩ. “Ôi, Heather! Kinh khủng quá!”
Magda đứng
đó, trong cái áo thụng căng-tin và tất chân in da báo, lắc lắc mái tóc xù mì và
rít những hơi dài căng thẳng điếu Virginia Slim kẹp giữa hai cái móng dài tầm
3cm. Mỗi móng là một bản sao nhỏ xíu của quốc kì Mỹ. Mặc dù có thể trở về quê
hương cộng hoà Dominica bất cứ lúc nào nhưng Magda vẫn vô cùng yêu quý đất nước
đã đón nhận mình, và chị bộc lộ lòng ái quốc đó qua nghệ thuật làm móng.
Cũng nhờ
vậy mà tôi gặp được chị chứ đâu, khoảng bốn tháng trước, trong một tiệm làm
móng. Và cũng nhờ đó mà lần đầu tiên tôi biết đến công việc trong kí túc (ý là
khu cư trú). Cô trợ lý quản lý trước tôi - Justine - vừa bị sa thải vì đã hô
biến 7.000 đô trong quỹ tiêu vặt của khu nhà, và vụ ấy làm cho Magda, người thu
ngân của căng-tin kí túc - ý là khu cư trú - vô cùng cáu tiết.
“Có tin
được không chứ?” Magda đã càu nhàu với tất cả những ai chịu để tai nghe, khi
tôi đang làm móng chân ở tiệm Hot Tamale Red - bởi vì, ờ thì, ngay cả khi quãng
đời còn lại của bạn có đang trôi tuột xuống đáy toa-lét, như cuộc đời tôi lúc
đó đi chăng nữa thì ít nhất bạn vẫn có thể làm cho bộ móng của mình trông xinh
xẻo một chút chứ.
Magda cách
tôi vài bàn, lúc ấy đang cho người sơn xịt hình Nữ thần Tự Do mini vào ngón
cái, nhân ngày tưởng niệm các Liệt sĩ, và chị đang nổi cơn tam bành về Justine
- người tiền nhiệm của tôi.
“Nó đặt
hàng 27 cái lò sưởi gạch men ở phòng cung ứng để tặng cho bạn nó làm quà cưới!”
Tôi vẫn
chưa hiểu lò sưởi gạch men là cái quái gì, hay tại sao lại có ai đó thích mua
một cái lò sưởi để làm quà cưới. Nhưng vừa nghe nói có người bị đuổi việc ở chỗ
làm của Magda, nơi mà một trong các phúc lợi công việc được hưởng - ngoài 20
ngày nghỉ một năm cùng toàn bộ bảo hiểm y tế và chế độ chăm sóc nha khoa - là
miễn toàn bộ học phí, tôi đã nhảy cẫng lên sung sướng.
Chính ra
tôi nợ Magda rất nhiều, không phải chỉ vì chị đã giúp tôi kiếm được việc (cũng
chẳng phải vì chị cho tôi ăn miễn phí ở căng-tin bất cứ lúc nào tôi muốn - và
chính điều này là một phần lý do vì sao bây giờ tôi không còn là size 8 nữa,
trừ phi đó là size nịnh), mà vì Magda đã trỡ thành một trong những người bạn
tốt nhất của tôi.
“Mag,” tôi
nói, khép nép đến đứng cạnh chị. “Ai thế? Ai chết thế?”
Bởi vì tôi
không thể không lo rằng biết đâu đó lại là một người tôi quen, như một trong
mấy bác công nhân bảo dưỡng kỹ thuật lúc nào cũng rất dễ thương trong việc lau
dọn những vũng chất lỏng thải ra từ cơ thể người, mặc dù chúng không nằm trong
mô tả công việc của các bác ấy. Hay một trong số cácêm mà tôi được cho là có
trách nhiệm quản lý - đúng thật là được cho là ấy, bởi qua ba tháng làm việc ở
Fischer Hall, chỉ có một nhúm các nhân viên nói trên chịu làm theo những gì tôi
sai bảo (rất nhiều đứa vẫn một mực trung thành với cô nàng Justine “tay dính”
kia).
Mà ngay cả
khi có đứa nào chịu làm theo nững gì tôi bảo, thì cũng chỉ vì công việc đó liên
quan đến những chuyện như kiểm tra phòng sau khi những đứa ở đó vừa chuyển ra
và dọn dẹp những gì chúng để lại, thường là những chai rượu mùi Jagermeister
còn dang dở.
Thế nên hôm
sau, khi đến chỗ làm, tôi không sao gọi được bất kỳ một đứa nào xuống lầu để
phân loại thư bởi vì chúng đều đã say bét nhè.
Nhưng cũng
có một vài đứa tôi thật sự quý mến - chẳng hạn như những sinh viên được học
bổng không đến trường bằng một cái thẻ Visa được bố mẹ luôn sẵn lòng trả hộ mỗi
tháng; những đứa thật sự phải làm việc để kiếm tiền mua sách vở và chi trả các
loại phí khác, và vì thế luôn sẵn sàng nhận ca trực từ 4g chiều cho mãi đến đêm
tại bàn tiếp tân vào một tối thứ Bảy mà chẳng cần tôi phải van vỉ gì nhiều.
“Ôi,
Heather,” Magda thì thầm. Chỉ có điều chị phát âm tên tôi thành Haythar. Chị
thì thầm vì không muốn mấy đứa nhóc biết chuyện gì đang thật sự xảy ra. Bất kể
là chuyện gì. “Một trong số những ngôi sao màn bạc của chị!”
“Một sinh
viên á?” Tôi có thể thấy mọi người trong đám đông đang tò mò liếc nhìn Magda.
Không phải vì trông chị hơi kì quái - ừ thì đúng là trông Magda có hơi kì quái
thật, chẳng là chị trang điểm đậm đến mức nếu lúc này Christina Aguilena mà có
đứng bên cạnh chị thì chắc cô ấy cũng sẽ hoá thành vô cùng tự nhiên, và chị còn
có một bộ móng tay rõ dài nữa chứ.
Nhưng vì
đây là Làng nên vẻ ngoài của Magda vẫn có thể được xem là khá hiền lành.
Chính cái
từ “ngôi sao màn bạc” mới là thứ mọi người không hiểu. Cứ mỗi lần có một sinh
viên bước vào nhà ăn của Fischer Hall là Magda liền cầm lấy phiếu ăn của đứa
đó, quét qua máy scan, và hát, “trông k những ngôi sao màn bạc xinh đẹp đến ăn
ở đây. Ta thật may mắn vì có thật nhiều ngôi sao xinh đẹp ở Fischer Hall này!”
Ban đầu tôi
chỉ nghĩ Magda cố tình tâng bốc các sinh viên khoa kịch của New York College - mà đám ấy thì trường này có cả tấn,
nhiều hơn hẳn so với sinh viên y khoa hay kinh tế.
Rồi vào một
ngày Tự làm kem ăn, Magda thả một quả bom tin rằng Fischer Hall thực chất rất
nổi tiếng. Không phải vì những lý do như bạn nghĩ đâu - như kiểu tại vì nó toạ
lạc tại quảng trường Washington lịch sử, nơi Henry James từng sinh sống; hay vì
nó ở ngay đối diện cái Cây Treo Cổ nổi tiếng, nơi người ta thường hành hình các
phạm nhân hồi thế kỉ 18; cũng chẳng phải vì khu công viên này từng là nghĩa địa
của những người nghèo, thế nên tóm lại là tất cả những thứ nào là băng ghế gỗ
và quày bán xúc xích nóng kia đều đang “toạ” ngay trên những xác người.
Không, theo
nguồn tin của Magda, Fischer Hall nổi tiếng vì người ta đã quay một cảnh trong
bộ phim Ninja Rùa Đột Biến Tuổi Thiếu Niên ở đây. Donatello hay Raphael hay một
trong những chú rùa nào đấy khác - tôi thật sự chẳng nhớ nổi là chú nào - đã
phi thân từ mái ngói của Fischer Hall sang toà nhà bên cạnh, và toàn bộ bọn
sinh viên của Fischer Hall đóng vai quần chúng, đã nhìn lên và chỉ trỏ trầm trồ
màn trình diễn của chú rùa thông minh.
Thật chứ!
Fischer Hall có một lịch sử rất li kì.
Chỉ là bọn
sinh viên đóng vai quần chúng ấy đã tốt nghiệp từ lâu rồi và đều đã rời khỏi
Fischer Hall. Thế nên tôi đoán chắc hẳn mọi người đều lấy làm kỳ quái vì sao
bao nhiêu năm rồi mà Magda vẫn nhắc tới cái chuyện ấy.
Nhưng thật
sự, bạn có thể nhận thấy rằng, đối với người như Magda thì việc có một cảnh
trong một bộ phim điện ảnh chính thống được quay tại chính chổ làm của chị là
một trong rất nhiều thứ đã khiến nớc Mỹ trở nên vĩ đại.
Nhưng bạn
cũng thấy rằng, với một người không biết lịch sử đằng sau ấy thì cái chuyện
ngôi sao màn bạc bé nhỏ của chị” nghe có vẻ thật... ừm, quái dị.
Điều này có
thể giải thích tại sao rất nhiều người đang hiếu kì nhìn về phía chúng tôi khi
nghe lỏm được cơn bộc phát của Magda.
Không muốn
đám trẻ đánh hơi được có điều tồi tệ nghiêm trọng đang xảy ra, tôi nắm lấy cánh
tay Magda và kéo chị về phí cây thông trồng trong chậu ở bên ngoài toà nhà -
nơi mà, tiếc thay, vài sinh viên vẫn thường dùng làm cái gạt tàn riêng - cho có
chút riêng tư.
“Có chuyện
gì vậy chị?” tôi hỏi nhỏ. “Rachel để lại tin nhắn nói vừa có một người chết
trong toà nhà, nhưng chị ấy chỉ nói vậy thôi. Chị có biết ai không? Làm sao mà
chết?”
“Chị không
biết,” Magda thầm thì, lắc đầu. “Chị đang ngồi ở quầy thì nghe có tiếng hét,
rồi ai đó nói có một cô gái đang nằm dưới đáy giếng thang máy, đã chết rồi.”
“Ôi chúa
ơi!” tôi sốc thật sự. Tôi cứ tưởng mình sẽ được nghe tin về một ca tử vong vì
dùng ma tuý quá liều hoặc bị hành hung - toà nhà này luôn có bảo vệ canh gác
hăm bốn trên hăm bốn nhưng đâu có nghĩa là thỉnh thoảng không có một kẻ gớm
ghiếc nào đó lọt được vào bên trong. Dù sao đây cũng là New
York mà.
Nhưng chết
vì thang máy á?
Magda, mắt
hoen ướt, dũng cảm cố gắng không khóc - vì như thế sẽ làm cho đám sinh viên cực
nhạy với những tình tiết kịch tính đánh hơi thấy ngay rằng đang có chuyện rất
tệ xảy ra (với cả khóc lóc cũng chẳng hay ho gì cho tầng tầng mascara của
Magda) - nói thêm, “Họ nói con bé... con bé làm gì ấy nhỉ? Hình như là cưỡi
trên đỉnh thang máy hay gì gì đấy?”
“Lướt?” giờ
thì tôi còn sốc hơn nữa. “Lướt thang máy ấy hả?”
“Đúng rồi!”
Magda c trọng chạm nhẹ phần đầu của một cái móng được tỉa tót vô cùng khéo léo
vào khoé mắt, khẩy đi một giọt nước mắt. “Chính vì thế nên người ta không cho
ai vào cả. Các ngôi sao màn bạc bé nhỏ của ta cần thang máy để đến phòng thay
đồ, nhưng họ còn phải dọn cái...”
Magda bắt
đầu thút thít. Tôi vòng một tay qua và xoay chị về phía mình thật nhanh, vừa để
an ủi vừa để hãm bớt tiếng khóc của chị lại. Lũ sinh viên đang tò mò liếc về
phía chúng tôi. Tôi không muốn chúng biết chuyện. Nhưng mà thể nào rồi chúng
chẳng phát hiện ra, chẳng mấy chốc nữa.
Chỉ là
chúng sẽ không cảm thấy mọi chuyện khó tin bằng tôi thôi.
Nhưng đáng
lẽ tôi không nên ngạc nhiên đến vậy. Lướt thang máy là vấn nạn, không chỉ ở New
York College, mà ở tất cả các trường đại học và cao đẳng của Mỹ. Lũ thanh niên
rỗi hơi chẳng nghĩ ra được cái gì hay ho hơn để làm, thế nên cứ lao vào dùng ma
tuý và thách nhau nhảy lên nóc những cabin thang máy đang trượt lên trượt xuống
trong những chiếc lồng tối tăm, nguy hiểm. Đã có không biết bao nhiêu vụ bọn
nhóc bị kẹp chết trong những lần thách thức say xỉn như thế.
Tôi đã đoán
rằng chuyện này sớm muộn gì rồi cũng sẽ xảy ra ở Fischer Hall mà.
Chỉ là...
Chỉ là Magda
cứ nhắc đi nhắc lại là “con bé”. Rằng một con bé đã bị chết.
Điều này
rất kì, bởi tôi chưa từng nghe nói đến một đứa con gái nào lại chơi lướt thang
máy cả. Ít nhất là không phải ở Fischer Hall này.
Rồi Magda
nhấc đầu khỏi vai tôi và nói, “Ối giời ơi!”
Tôi quay
lại để xem chị đang nói về cái gì và hít một hơi thật nhanh. Thì ra là bà
Allington, vợ của Phillip Allington - người mà mùa xuân rồi đã nhậm chức chủ
tịch thứ 16 của trường - đang đic vỉa hè, hướng đến chỗ chúng tôi.
Tôi biết
rất nhiều về gia đình Allington, bởi vì có một thứ khác tôi cũng tìm thấy trong
đám hồ sơ của Justine - ngay trước khi tôi vứt chúng đi - là một bài báo cắt từ
tờ The New York Times, bơm thổi hoành tráng về việc ngài chủ tịch mới được bổ
nhiệm đã quyết định sống trong khu cư trú thay vì một trong những toà nhà sang
trọng thuộc sở hữu của trường.
“Phillip
Allington,” bài báo viết, “là một hàn lâm học sĩ không muốn sống xa cách sinh
viên. Khi từ pòng làm việc quay về, ông đi cùng thang máy với các sinh viên cao
đẳng sống ngay cạnh phòng mình...”
Điều mà tờ
Times hoàn toàn quên không nhắc đến là ngài chủ tịch và gia quyến sống tít trên
tầng mái của Fischer Hall. Nguyên tầng 20. Và họ liên tục phàn nàn về việc
thang máy cứ dừng lại ở từng tầng một trên đường đi lên để đón sinh viên, đến
nỗi cuối cùng Justine phải phát cho họ chìa khoá riêng để cho phép thang máy đi
thẳng lên tầng trên cùng.
Ngoại trừ
việc than phiền về mấy cái thang máy, vợ củ ngài chủ tịch Allington hình như có
rất ít việc để làm. Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy thì bà Allington nếu không
phải đang trở về từ Saks Avenue,
thì cũng đang bắt đầu đi đến đó. Bà nghiện mua sắm đến mức điên cuồng - hệt như
một vận động viên điền kinh Olympic chăm chỉ luyện tập.
Chỉ có
điều, môn thể thao yêu thích của quý bà Allington - ngoài mua sắm - còn bao gồm
luôn cả việc tiêu thụ một khối lượng khổng lồ rượu vodka. Mỗi khi cùng tiến sĩ
Allington trở về từ những buổi tiệc khuya với các thành viên trong hội đồng cố
vấn, bà Allingyon thể nào cũng làm om sòm trong khu tiền sảnh, thường câu chuyện
có liên quan đến mấy con vẹt mào cảnh của bà - vụ này tôi được nghe kể lại từ
chính miệng bác Pete, một nhân viên bảo vệ mà tôi rất yêu mến.
“Mấy con
chim của tôi,” bà từng bảo với bác Pete. “Mấy con chim của tôi ghét cay ghét
đắng lão, lão béo ạ!”
Câu này
nghe thật dễ ghét - bạn cứ thử nghĩ mà xem. Lại còn sai lệch nữa chứ, bởi vì
bác Pete không hề béo. Bác ấy chỉ - bạn biết rồi đấy - trung bình thôi.
Những lời
lẽ lăng mạ nhè nhè của bà Allington là nguồn mua vui bất tận tại quầy tiếp tân
của khu tiền sảnh, một chỗ toàn bọn sinh viên làm thêm ngoài giờ - mấy đứa tôi
có nhiệm vụ trông nom ấy mà. Đêm khuya, nếu tiến sĩ Allington không có nhà, bà
Allington thỉng thoảng lại gọi đến bàn tiếp tân để thông báo đủ mọi tin giật
gân: nào là ai đó đã chén sạch đám a-ti-sô nhồi thịt của bà, nào là có chó sói
ngoài ban công, rồi những chú lùn bé xíu vô hình đang gõ ầm ầm ở đầu giường ngủ
của bà.
Theo lời
bác Pete, bọn sinh viên ban đầu rất bối rối trước những thông tin ấy, thế là
chúng lập tức gọi cho các RA(1) - những đứa sinh viên năm cuối muốn
đổi lấy phòng ở và cơm tháng miễn phí nên phải hành động hệt như một người mẹ
trong gia đình, mỗi tầng một đứa. Các RA này đến lượt mình dẽ thông báo với
quản lý toà nhà, và viên quản lý này sẽ phóng ngay thang máy lên tầng 20 để
kiểm tra.
Nhưng khi
cửa mở, với đôi mắt lờ đờ, người bọc trong nhung - vâng! Nhung đấy ạ! Xịn gần
bằng nhung giãn ấy - bà Allington chỉ nói, “Tôi chả hiểu ông đang nói cái chi,
ông béo ợ.”
Trong lúc đó
thì sau lưng bà (theo lời đám RA vẫn thường kể lại câu chuyện này), bọn vẹt mào
đang huýt sáo điên cuồng.
Toàn chuyện
quái dị!
Nhưng hoàn
toàn chả quái dị chút nào với bà Allington, bởi vì ngay ngày hôm sau bà tỏ ra
chẳng nhớ chuyện gì đã xảy ra đêm qua, và lại thẳng tiến đến Saks như một bà
hoàng - Bà hoàng của Fischer Hall.
Như lúc này
đây chẳng hạn. Trên tay lỉnh kỉnh những đồ đạc vừa sắm, bà Allington đang gay
gắt nhìn viên cảnh sát đứng chắn trước cửa chính của Fischer Hall và kêu lên,
“Xin lỗi đi. Tôi sống ở đây.”
“Xin lỗi
quý bà,” viên cảnh sát nói. “Cửa này chỉ dành cho nhân viên công vụ khẩn cấp.
Không dân thường nào được phép vào lại toà nhà.”
“Tôi không
phải dân thường.” Bà Allington có vẻ như sắp căng phồng lên giữa đám túi xách.
“Tôi là... tôi là...” có vẻ như bà chưa hoàn toàn ngộ ra được mình là ai. Mà
viên cảnh sát có vẻ như chả quan tâm.
“Xin lỗi
bà,” anh ta nói. “Sao bà không ra chơi hội chợ một lát đi nhỉ? Hay ở đằng kia
có mấy cái ghế dài có vẻ thoải mái kia kìa, mời bà đến đó nghỉ ngơi một lúc,
chờ chúng tôi dọn dẹp mọi thứ trước khi cho mọi người vào được không.”
Bà
Allington trông có vẻ hơi heo héo một tí khi tôi quày quả tiến đến chỗ bà. Tôi
đã bỏ rơi Magda vì dường như bà Allington đang cần tôi hơn. Bà cứ đứng lớ ngớ ở
đó trong cái quần jeans chật cứng, một chiếc áo tơ tằm, hàng tấn nữ trang vàng,
và những chiếc túi xách nặng trĩu cả tay, miệng hết há ra rồi ngậm lại vì ngơ
ngác. Rõ ràng trông bà rất xanh xao.
“Bà có nghe
tôi nói không thế?” viên cảnh sát nói. “Không ai được phép vào trong. Bà thấy
bọn nhóc đây không? Chúng cũng đang chờ. Vì thế hoặc là bà phải chờ cùng chúng,
hoặc là mời bà đi chỗ khác cho.”
Có điều, bà
Allington dường như chả còn hơi sức đâu mà đi chỗ khác, đứng còn chẳng vững nữa
cơ mà - theo như tôi thấy. Tôi bước đến và đỡ lấy cánh tay bà. Bà thậm chí còn
không hề biết là tôi có mặt ở đó, mà tôi nghi có khi bà còn chẳng biết tôi là
ai nữa kia. Tuy rằng mỗi ngày bà vẫn gật đầu chào tôi khi bước ra cửa thang máy
đối diện cửa văn phòng tôi trên đường đến một cuộc tiêu pha phung phí mới - ý
tôi là đi dạo chơi mua sắm - và nói, “Chào buổi sáng, Justine,” (dù tôi đã
chỉnh đi chỉnh lại) nhưng tôi đoán việc nhìn thấy tôi ở bên ngoài toà nhà vào
một ngày cuối tuần như thế này đã làm bà quên hết mọi thứ.
“Chồng của
bà đây là chủ tịch của trường, anh sĩ quan ạ,” , tôi nói, gật gật đầu về phía
bà Allington, lúc này hình như đang nhìn chằm chằm vào một sinh viên tóc tía
đeo khuyên trên lông mày cạnh đó.
“Ông
Phillip Allington ấy! Ông ấy sống ở tầng thượng. Tôi nghĩ bà đây đang không
được khoẻ. Có thể có thể cho phép tôi dìu bà ấy vào trong được không?”
Viên cảnh
sát nhìn tôi chằm chằm.
“Hình như
tôi đã gặp cô ở đâu rồi thì phải?” anh ta hỏi. Câu này hoàn toàn không có ý tán
tỉnh. Với tôi, câu nói này chưa bao giờ chứa đựng tình ý gì cả.
“Chắc là
gặp quanh đây thôi, tôi làm việc trong toà nhà này mà.” Tôi chìa thẻ nhân viên
ra, bên trên có một cái hình trông như người đang say rượu, mặc dù lúc chụp tôi
không hề say. Phải mãi đến khi nhìn thấy tấm hình đó thì tôi mới say. “Thấy
chưa, tôi là trợ lý quản lý khu cư trú.”
Trông viên
cảnh sát có vẻ chẳng mấy ấn tượng với chức danh của tôi, nhưng anh ta vẫn nhún
vai, “sao cũng được. Nếu cô muốn thì cứ đưa bà ấy vào đi. Nhưng tôi không biết
cách nào để mấy người đưa được bà Allington lên nhà đâu nhé, thang máy bị ngắt
rồi.”
Tôi cũng
chẳng biết làm sao đưa được bà Allington lên tầng đây, đến đi bình thường mà bà
còn chẳng vững nữa là, chắc phải vác lên quá. Tôi bắn một cái nhìn qua vai về
phía Magda, thấy tín hiệu của tôi, chị đảo mắt. Nhưng rồi chị cũng dụi điếu
thuốc và liều tiến về phía chúng tôi, sẵn sàng giúp đỡ hết mức có thể.
Magda chưa
kịp đến chỗ chúng tôi thì có hai cô nàng trẻ trung - ăn mặc theo kiểu New York College tiêu biểu: quần tụt, khuyên rốn - từ
trong toà nhà phóng thẳng ra ngoài và thở hồng hộc.
“Ôi chúa
ơi, Jeff,” một đứa gọi tên thằng nhóc chuyên làm rớt tẩu. “Thang máy làm sao
ấy? Bọn này vừa phải cuốc bộ xuống 7 tầng cầu thang đấy.”
“Tao sắp
chết rồi đây.” Con bé còn lại tuyên bố.
“Thực tức
chết đi được,” con bé đầu tiên hổn hển th“bọn mình trả chừng đó học phí cùng
với tiền nhà cơ mà, chí ít ông chủ tịch cũng phải sắm lấy mấy cái thang máy cho
ra hồn chứ.”
Rồi những
cái nhìn hằn học cùng bắn về phía bà Allington, người đã sai lầm để cho người
ta trưng ảnh mình lên báo tường, và tự biến mình thành mục tiêu lộ liễu cho
toàn kí túc - à quên, khu cư trú.
“Đi nào, bà
Allington” tôi nói nhanh, hơi kéo tay bà, “mình vào trong thôi.”
“Ờ phải,”
bà nói, hơi lảo đảo một tí khi Magda di chuyển để đỡ nốt cánh tay còn lại của
bà. Cả 2 chúng tôi dẫn bà qua cửa chính trong tiếng kêu réo - từ lũ sinh viên -
“Này này! Tại sao bọn họ vào được mà bọn tôi thì không? Bọn tôi cũng sống ở đây
mà!” rồi thì “bất công” với cả “phát xít.”
Cứ nhìn cái
cách bà Allington cẩn thận nhấc từng bước một cách õng ẹo, tôi dám cá bà đã ngà
ngà say dù bây giờ vẫn còn là buổi sáng. Phỏng đoán của tôi được xác nhận ngay
khi cả ba vừa bước vào bên trong toà nhà, và bà Allington đột nhiên nhoài người
về phía trước, nhanh chóng bón toàn bộ bữa sáng của mình cho một chậu cây trong
tiền sảnh.
Rõ ràng quý
bà A. đây đã uống kèm ít Mary Máu với trứng trong bữa sáng nay.
“Lạy đức mẹ
đồng trinh!” Magda kinh hãi thốt lên. Cũng đúng thôi.
Không biết
người khác thế nào, chứ mỗi lần bị nôn (và xin lỗi quý vị, tôi làm việc này khá
thường xuyên vào mỗi đêm giao thừa), tôi thường mong nhận được một chút cảm
thông, ngay cả nếu mọi chuyện đều là lỗi tại tôi.
Thế là tôi
vỗ vỗ vào một bên vai áo độn bông của bà Allington và nói “Nào, bà thấy khá hơn
chưa?”
Bà
Allington chớp chớp mắt nhìn tôi như thể mới thấy tôi lần
“Cô là
ai?”, bà hỏi.
“Ừm,” tôi
nói. “Tôi là trợ lý phụ trách toà nhà. Heather Wells. Bà nhớ không? Chúng ta đã
gặp nhau cách đây vài tháng ấy?”
Bà
Allington trông hơi hoang mang, “thế Justine sao rồi?”
“Justine đã
tìm được một việc khác rồi,” tôi giài thích, chính ra là nói dối, vì Justine bị
sa thải. Nhưng tôi đâu đã được nghe câu chuyện từ phía cô ta. Ý của tôi là có
khi cô ta thật sự cần tiền thì sao. Biết đâu cô ta có họ hàng sống ởBosnia hoặc một nơi nào đó lạnh cóng, mà lại
không có lò sưởi, và mấy cái lò gốm kia đã giúp họ sống sót qua mùa đông. Làm
sao mà biết được!
Bà
Allington lại liếc tôi thêm mấy cái.
“Heather
Wells?” bà chớp mắt thêm mấy cái. “Nhưng cô chẳng phải… chẳng phải là cái con
bé đó sao? Cái con bé hồi xưa suốt ngày hát trong mấy khu mua sắm ấy?”
Đây chính
là lúc tôi nhận ra rằng bà Allington rốt cuộc đã nhận ra tôi, được rồi… nhưng
không phải với tư cách trợ lý quản lý trong toà nhà mà bà đang ở.
Chà! Không
ngờ bà này lại là fan của nhạc teen pop cơ đấy. Trông bà giống những người
thuộc týp Barry Manilow hơn - cũng teen pop nhưng là loại cứng hơn nhiều.
“Hồi đó là
vậy,” tôi nói dịu dàng, vì vẫn thấy tội nghiệp cho bà sau cái vụ nôn mửa kia,
“Nhưng giờ tôi không còn biểu diễn nữa.”
“Sao vậy?”
bà Allington tò mò.
Magda và
tôi liếc nhau. Magda có vẻ đã lấy lại vẻ hài hước, bởi nơi khoé môi kẻ viền của
chị xuất hiện một cú nhếch khá rõ.
“Ừm,” tôi
nói. “Chuyện này cũng khá dài dòng. Căn bản là tôi đã mất hợp đồng thu âm…”
“Bởi vì cô
béo lên chứ gì?” bà Allington hỏi.
Đến đoạn
này thì phải thú thật là tôi chả còn thấy tội nghiệp bà ta một chút xíu nào
nữa.
__________
1. Resident
assistant - trợ lý sinh viên trong các khu kí túc

