Bản sonata Kreutzer - Chương 18 - 20
XVIII
-
VÂNG, TÔI BIẾT MÌNH luôn đi xa chủ đề, nhưng vì tôi đã suy nghĩ lại rất
nhiều điều, nhìn nhận ra rất nhiều điều mới mẻ, nên muốn kể tất cả
những cái đó. Thế là chúng tôi chuyển lên sống ở thành phố. Những kẻ bất
hạnh sống ở thành phố dễ chịu hơn. Ở thành phố con người có thể sống
đến trăm tuổi mà không nhớ ra là anh ta đã chết và thối rữa từ lâu.
Chẳng có thì giờ để ngồi phán xét mình vì lúc nào cũng bận rộn. Nào công
việc, nào quan hệ xã hội, nào chuyện sức khỏe, nào nghệ thuật, nào con
cái cũng như việc giáo dục chúng. Khi thì phải tiếp người này đón người
kia, khi thì phải đến thăm ông này hỏi bà kia, khi đi xem vở kịch này,
khi đi nghe buổi hòa nhạc kia. Ở thành phố, bất cứ giờ phút nào cũng
luôn có một, hoặc thậm chí cùng lúc có hai hay ba nhân vật nổi tiếng nào
đó mà không thể bỏ qua dịp làm quen được. Rồi lại phải chữa trị bệnh
nào, rồi nào phải gặp người đỡ đầu, thuê thầy giáo, mướn gia sư. Tất cả
đều là sự trống rỗng giả tạo, nhưng chúng tôi đã sống như thế và cảm
thấy nỗi đau khổ của cuộc sống chung nhẹ bớt đi. Ngoài ra, thời gian đầu
còn có những mối bận tâm thú vị là sắp xếp cho cuộc sống mới, cho căn
hộ mới ở thành phố, rồi còn thêm những chuyến đi lại từ thành phố về quê
và từ quê ra thành phố nữa.
Chúng tôi sống qua một mùa đông, đến
mùa đông thứ hai xảy ra một chuyện mà chưa ai để ý, tưởng như rất nhỏ
nhặt, nhưng chính lại là điều dẫn đến tai họa sau này. Vợ tôi không được
khỏe. Cái bọn bác sĩ vô lại không cho phép nàng sinh nở nữa và dạy cho
nàng phương cách. Tôi cảm thấy ghê tởm chuyện đó. Tôi kháng cự, nhưng
nàng bằng sự bướng bỉnh sốc nổi vẫn giữ nguyên ý mình, và tôi đành khuất
phục; cái cớ cuối cùng để biện hộ cho cuộc sống tồi tệ của chúng tôi là
con cái đã bị lấy mất đi, và cuộc sống trở nên gớm ghiếc hơn.
Đối
với những người nông dân, những người lao động, con cái là cần thiết.
Mặc dù họ nuôi chúng rất vất vả, nhưng họ cần chúng, bởi vậy cuộc sống
vợ chồng của họ có cái để biện hộ. Còn với chúng tôi, những người đã có
con rồi, lũ con không còn cần thiết nữa, chúng chỉ là những mối bận tâm,
những khoản chi phí, những kẻ đồng thừa kế, chúng là gánh nặng. Và thế
là không còn sự biện hộ nào cho cuộc sống nhơ nhuốc của chúng tôi nữa.
Hoặc là chúng tôi dùng biện pháp để tránh không có con, hoặc nếu lỡ có
con ra thì xem chúng như nỗi bất hạnh, hậu quả của sự không cẩn trọng,
điều này còn tệ hơn. Không có sự biện hộ nào cả. Nhưng chúng tôi đã sa
đọa đến độ không còn thấy cần phải biện hộ cho cuộc sống của mình nữa.
Phần lớn tầng lớp có học thức của chúng ta hiện nay sa vào cuộc sống như
thế mà không hề bị lương tâm cắn rứt.
Chẳng bị cắn rứt, bởi vì
chẳng có cái lương tâm nào ở trong cuộc sống của chúng ta, trừ dư luận
xã hội và luật hình sự, nếu có thể gọi đó là lương tâm. Nhưng ngay cả
hai điều này cũng chẳng làm ảnh hưởng gì đến chúng ta cả. Chẳng có gì
phải hổ thẹn trước dư luận xã hội bởi tất cả mọi người đều làm như thế:
cả Maria Ivanovna, cả Ivan Zakharych, cả những người khác nữa. Trước
luật hình sự cũng chẳng có gì phải sợ cả. Đó là cái lũ con gái hoang hay
bọn vợ lính mới vứt con xuống hồ hay xuống giếng; bọn đó tất nhiên là
phải nhốt vào tù rồi, còn những người có học thức như chúng ta thì làm
những chuyện đó đúng lúc và cẩn thận lắm.
Chúng tôi sống như vậy
thêm hai năm nữa. Các phương cá của lũ bác sĩ vô lại rõ ràng bắt đầu có
hiệu quả: vợ tôi khỏe và đẹp ra, giống như vẻ đẹp rực rỡ cuối mùa hè.
Nàng cảm thấy được điều đó và quay sang chăm sóc bản thân. Ở nàng toát
ra vẻ đẹp khêu gợi làm bối rối người khác. Nàng đang ở độ sung mãn của
người phụ nữ ba mươi tuổi son rỗi và vui vẻ. Dáng điệu của nàng làm
người khác bất an. Khi đi ngang qua đám đàn ông, nàng cuốn hút ánh nhìn
của họ về phía mình. Nàng giống như con ngựa nuôi nhốt bỗng được tháo
dây cương. Chẳng có cái dây cương nào ràng buộc nàng, cũng như chín mươi
chín phần trăm phụ nữ của chúng ta. Tôi cảm thấy điều đó và tôi kinh
hãi.
XIX
ANH TA BỖNG NHIÊN đứng lên và chuyển sang ngồi sát bên cửa sổ.
-
Xin lỗi ngài. - Anh ta nói, hướng mắt nhìn ra cửa sổ, ngồi im lặng như
thế chừng ba phút. Sau đó, anh ta thở dài nặng nề và trở lại chỗ đối
diện tôi. Khuôn mặt anh ta trở nên khác hẳn, đôi mắt đầy vẻ tội nghiệp,
và gần như có một nụ cười kỳ lạ gợn trên đôi môi. - Tôi hơi bị mệt một
chút, nhưng tôi sẽ kể tiếp. Vâng, - anh ta tiếp tục và lại châm thuốc
hút, - nàng đẫy người ra từ khi không sinh con nữa, và căn bệnh của nàng
- tức sự đau khổ dai dẳng vì lũ con - bắt đầu qua đi; không phải chỉ là
nỗi khổ qua đi, mà nàng còn như bừng tỉnh sau cơn say, hồi nhớ lại và
nhìn thấy có cả một thế giới thần tiên dành cho nàng, với bao niềm vui
sướng mà nàng đã lãng quên. Nhưng nàng không biết sống như thế nào trong
thế giới đó, cái thế giới thần tiên mà nàng không hiểu gì hết. “Làm sao
đừng để vuột mất! Thời gian sẽ trôi qua và không quay lại nữa!”. Tôi
hình dung nàng nghĩ hay đúng hơn là cảm thấy như thế, mà nàng không thể
không nghĩ và không cảm thấy như thế được: người ta dạy dỗ nàng, rằng
trên đời này chỉ có một điều đáng quan tâm là tình yêu. Nàng lấy chồng,
nhận được từ tình yêu không những không một niềm vui sướng nào như nàng
chờ đợi và được hứa hẹn, mà chỉ toàn thất vọng buồn phiền, rồi còn thêm
nỗi đau khổ bất ngờ là con cái. Nỗi đau khổ đó làm nàng mệt mỏi. May nhờ
có các bác sĩ tận tâm mà nàng mới biết là có thể tránh được chuyện có
con. Nàng vui mừng và lại sống cho một điều duy nhất mà nàng biết là
tình yêu. Nhưng đó không phải là tình yêu với ông chồng xấu xí luôn ghen
tuông và cáu giận. Nàng bắt đầu tưởng tượng đến tình yêu nào đó khác
hơn, tinh khiết, mới mẻ hơn. Ít nhất là tôi đã nghĩ về nàng như thế. Và
nàng bắt đầu ngó nghiêng, dường như đợi chờ một cái gì đó. Tôi nhìn thấy
điều đó và không thể không lo lắng. Nhất là thời gian cuối, trong khi
nói chuyện với tôi thông qua người khác (nàng vẫn hay làm thế, nghĩa là nói với người ngoài, song những lời nói đó lại hướng tới tôi), nàng mạnh dạn phát biểu nửa đùa nửa thật (mà hoàn toàn không nhớ là một tiếng trước đó nàng nói hoàn toàn ngược lại),
rằng sự quan tâm của người mẹ chỉ là điều dối trá, rằng không đáng phải
dâng hiến cả cuộc đời mình cho con cái, trong khi đang còn trẻ tuổi và
còn có thể hưởng thụ cuộc sống. Nàng ít bận rộn với các con, không mang
vẻ tuyệt vọng như trước, càng lúc càng chú tâm đến bản thân hơn, chăm
sóc cho hình thức bề ngoài của mình. Mặc dù cố dấu điều này, nhưng nàng
chăm lo nhiều cho việc thỏa mãn bản thân mình và thậm chí lo làm cho bản
thân hoàn hảo hơn. Nàng lại say mê chơi dương cầm, việc mà trước đó
hoàn toàn bị bỏ quên. Mọi chuyện bắt đầu từ đó.
Anh ta lại quay người hướng đôi mắt mệt mỏi ra phía cửa sổ, nhưng rồi lập tức quay vào, rõ ràng cố ép mình tiếp tục câu chuyện.
- Vâng, rồi con người ấy xuất hiện - Anh ta lúng búng, hai lần từ mũi phát ra âm thanh vốn có của mình.
Tôi
thấy rằng anh ta rất đau khổ khi phải nhắc đến tên người kia và phải
nhớ lại, kể lại về hắn. Nhưng anh ta gắng sức, dường như cố vượt qua
được vật đang cản trở mình, rồi quả quyết kể tiếp.
- Hắn là một kẻ
tồi tệ, theo như tôi nhận xét và đánh giá. Không phải vì hắn đã gây nên
chuyện gì trong đời tôi, mà bởi thực tế hắn là người như thế. Vả chăng,
việc hắn là đồ tồi chỉ chứng minh cho sự vô can hoàn toàn của nàng. Nếu
không có hắn thì sẽ có kẻ khác, mọi chuyện nhất định phải như thế.
Vâng, đó là một tay chơi vĩ cầm; không phải là nhạc công chuyên nghiệp, mà là nửa chuyên nghiệp, nửa tài tử.
Cha
hắn là một điền chủ, láng giềng của cha tôi. Ông ta đã bị phá sản. Ba
đứa con trai đều được thu xếp ổn định, chỉ có đứa út là hắn được đưa đến
cho bà mẹ đỡ đầu sống Paris. Người ta gửi hắn vào nhạc viện, vì hắn có
năng khiếu âm nhạc, và hắn ra trường thành nhạc công chơi vĩ cầm trong
các dàn nhạc. Hắn là một kẻ... - Rõ ràng anh ta muốn nói điều gì đó tồi
tệ về người nhạc công kia, song kìm lại được và nói nhanh. - Tôi không
biết hắn sống ra sao ở Paris, chỉ biết rằng năm đó hắn trở về nước Nga
và xuất hiện ở nhà tôi.
Hắn có đôi mắt ươn ướt màu hạt dẻ, , đôi
môi đỏ hồng luôn mỉm cười, hàng ria mép mềm mại, tóc cắt theo mốt mới
nhất, khuôn mặt trông dễ chịu một cách đểu cáng, kiểu mặt mà phụ nữ vẫn
cho là không tệ lắm. Dáng người hắn có vẻ yếu ớt, nhưng không xấu xí.
Hắn thường cố tỏ ra suồng sã, song lại rất nhạy bén và luôn sẵn sàng
dừng lại nếu có ai hơi tỏ ý chống cự. Với bề ngoài kiểu cách, với đôi
ủng đặc biệt theo mốt Paris, với những nút cài và cà vạt màu sặc sỡ, và
nhiều thứ khác nữa mà những kẻ ngoại kiều sống ở Paris thường sắm sửa
cho mình, cộng thêm vẻ độc đáo, mới lạ, hắn luôn gây được ấn tượng cho
phụ nữ. Hắn tỏ ra vui vẻ, hóm hỉnh. Khi nói chuyện, ngài biết không, hắn
hay nói bóng gió và bỏ dở chừng, làm như ngài cũng biết và nhớ ra mọi
chuyện hắn nói để có thể kể tiếp cùng hắn.
Chính hắn, cùng với âm
nhạc của hắn, đã là nguyên nhân của mọi chuyện. Ở tòa án, người ta xem
xét vụ án và kết luận nguyên nhân tôi giết vợ là do ghen tuông. Hoàn
toàn không phải như thế, tưởng là thế nhưng sự thực không phải thế. Tòa
án quyết định tôi là người chồng bị lừa dối và giết vợ để trả thù cho
danh dự bị bôi nhọ của mình (họ gọi cái đó là danh dự đấy). Và
vì thế mà tôi được trắng án. Trước tòa, tôi cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa
của vụ việc, thì họ lại nghĩ là tôi muốn phục hồi danh dự cơ.
Mối
quan hệ của vợ tôi với tay nhạc công đó cụ thể như thế nào, đối với tôi
điều đó không có ý nghĩa gì, đối với nàng cũng vậy. Cái chính là điều
tôi đã kể cho ngài nghe, là sự nhơ nhuốc bẩn thỉu của tôi. Tất cả mọi
chuyện xảy ra là do giữa chúng tôi đã có một vực thẳm khủng khiếp mà tôi
đã nói rồi đấy, một sự căng thẳng thù hận đáng sợ, mà chỉ cần một cớ
nhỏ cũng đủ gây ra thảm họa. Cãi cọ giữa chúng tôi thời gian cuối trở
nên thường xuyên và đặc biệt dữ dội, cũng lại luân phiên với sự tăng
cường những thèm muốn thú tính.
Nếu như không có hắn, thì cũng sẽ
có kẻ khác xuất hiện. Nếu không có chuyện ghen tuông thì lại có cớ khác.
Tôi chắc chắn là tất cả mọi người chồng đều sẽ phải hoặc sống phóng
đãng, hoặc tự vẫn, hoặc giết vợ như tôi đã làm. Nếu như điều đó không
xảy ra với ai đó thì đó là trường hợp ngoại lệ vô cùng hãn hữu. Trước
khi gây ra án mạng tôi đã mấy lần định tự vẫn, còn vợ tôi cũng đã từng
uống thuốc độc.
XX
- VÂNG, CHUYỆN LÀ NHƯ THẾ, không lâu trước khi xảy ra tai họa.
Chúng
tôi sống trong sự hòa hoãn tạm thời và chưa có nguyên do nào phá vỡ nó;
đột nhiên, câu chuyện về việc con chó nào đó ở triển lãm được thưởng
huy chương được khơi lên. Tôi nói và nàng phản đối: “Không phải được huy
chương mà là được tuyên dương”, thế là cuộc cãi cọ nổ ra. Rồi bắt đầu
nhảy từ chuyện này sang chuyện khác và các lời trách cứ : “Hừ, chuyện đó
từ lâu em đã biết rồi, luôn luôn là như thế. Anh nói rằng...”, “Không,
anh không hề nói vậy”, “Thế có nghĩa là em bịa ra chắc!”. Tôi cảm thấy
sắp sửa bùng lên cuộc cãi cọ khủng khiếp làm điên giận muốn giết chết
mình hay giết chết nàng. Tôi biết là nó sẽ xảy ra ngay bây giờ và sợ hãi
nó như sợ lửa, vì vậy muốn kiềm chế mình lại, song cơn giận dữ vẫn xâm
chiếm toàn thân. Nàng cũng trong trạng thái như thế, còn tệ hơn. Nàng cố
ý bóp méo từng câu từng chữ tôi nói ra; mỗi lời nói của nàng chứa đầy
nọc độc. Nàng biết chỗ nào làm tôi đau thì chọc vào chỗ đó. Càng nói
càng đau. Tôi thét lên: “Câm đi!” hay câu gì đó đại loại như thế. Nàng
vùng chạy về phòng trẻ con. Tôi cố giữ nàng lại để nói cho hết và chứng
minh đến cùng. Tôi tóm lấy tay nàng. Nàng làm bộ như tôi đã làm đau nàng
và thét lên: “Các con ơi, bố các con đánh mẹ đây này!”. Tôi thét: “Đừng
nói dối!”. - “Đây không phải là lần đầu tiên đâu!” - nàng kêu lên và lũ
trẻ lao đến bên nàng. Nàng dỗ dành chúng. “Đừng có làm bộ làm tịch!”.
Nàng đáp: “Với anh thì tất cả là làm bộ làm tịch hết: anh giết người rồi
bảo là người ta làm bộ chết. Tôi bây giờ biết rõ anh rồi, anh chỉ muốn
điều đó thôi mà!”. “Ôi, cầu cho cô chết đi cho rồi!”- tôi gào lên. Tôi
nhớ những từ ngữ dễ sợ đó đã làm tôi kinh hoảng. Tôi không hề nghĩ mình
có thể nói ra những từ khủng khiếp, thô bạo như thế, và ngạc nhiên thấy
chúng có thể buột ra từ miệng mình. Tôi gào lên những từ kinh khủng đó
rồi chạy về phòng, ngồi phịch xuống và đốt thuốc hút. Tôi nghe tiếng
nàng bước ra phòng ngoài và chuẩn bị bỏ đi. Tôi hỏi nàng đi đâu, nàng
không đáp. “Mặc xác cô ta” - tôi tự nhủ, quay về phòng lại nằm xuống và
hút thuốc. Trong đầu tôi diễn ra hàng nghìn kế hoạch trả thù nàng và
giải thoát mình khỏi nàng, rồi đủ các cách để làm sao mọi chuyện đều êm
thấm không ai biết được. Tôi suy nghĩ những chuyện đó và hút thuốc, hút
thuốc, hút thuốc. Tôi nghĩ về việc chạy trốn khỏi nàng, ẩn mình đi, chạy
sang châu Mỹ. Tôi mơ ước đến lúc được giải thoát khỏi nàng, sẽ tuyệt
diệu làm sao, tôi sẽ gặp một người phụ nữ khác, tuyệt vời và hoàn toàn
mới mẻ. Tôi sẽ được giải thoát nếu nàng chết đi, hoặc tôi ly dị với
nàng, và tôi suy nghĩ các cách để làm được chuyện đó. Tôi ý thức được
rằng mình đã lẫn lộn, rằng tôi không nghĩ cái cần phải nghĩ, nhưng để
xua cái ý thức đó đi, tôi liên tục hút thuốc.
Trong khi đó mọi
chuyện trong nhà rối cả lên. Cô gia sư đến hỏi: “Bà đi đâu rồi ạ? Khi
nào thì bà về?”. Anh hầu hỏi đã pha trà được chưa. Tôi sang phòng ăn, lũ
trẻ con, nhất là con Lisa là đứa đã hiểu biết mọi chuyện, tất cả chúng
đều hướng những ánh mắt chứa đầy thắc mắc và bất bình lên nhìn tôi.
Chúng tôi im lặng uống trà. Nàng vẫn chưa thấy trở về. Suốt buổi chiều
cũng vậy, và trong tôi lẫn lộn hai cảm xúc: căm tức nàng đã hành hạ tôi
và lũ trẻ bằng sự vắng mặt của mình, và sợ hãi rằng nàng sẽ không trở về
và làm gì đó để hại bản thân mình. Tôi định đi tìm nàng. Song tìm nàng ở
đâu? Ở chỗ chị nàng ư? Nhưng thật ngu ngốc mới đến đó hỏi. Thôi mặc kệ
nàng, nếu như nàng muốn hành hạ thì cứ để nàng tự hành hạ mình. Nàng
chẳng mong đợi điều đó là gì. Nhưng lỡ chuyện lại còn tệ hơn, lỡ nàng
không ở chỗ chị mình mà đã làm gì đó hủy hoại thân mình thì sao?... Mười
một giờ, mười hai giờ, một giờ. Tôi không chờ trong phòng ngủ, nằm một
mình trong đó mà chờ thì thật ngốc, vì vậy tôi không đi nằm. Tôi muốn
làm một cái gì đó, viết thư hay đọc sách, nhưng không làm được gì cả.
Tôi ngồi trong òng làm việc, đau khổ, tức giận và lắng nghe. Ba giờ, bốn
giờ mà nàng vẫn chưa về. Gần sáng tôi thiếp đi, lúc tỉnh dậy vẫn không
thấy bóng dáng nàng.
Mọi chuyện trong nhà vẫn diễn ra như hàng
ngày, song mọi người đều cảm thấy bất an và đều nhìn tôi dò hỏi, trách
móc, ai cũng nghĩ mọi chuyện đều do lỗi tại tôi. Còn trong tôi vẫn cuộc
đấu tranh giữa hai cảm xúc: nỗi tức giận vì nàng hành hạ tôi, và nỗi lo
sợ cho nàng.
Khoảng mười một giờ, chị gái nàng đến làm sứ giả cho
nàng. Và lại bắt đầu những giọng điệu cũ: “Nó đang trong tình trạng rất
tồi tệ. Nào có chuyện gì thế?” - “Không, chẳng có chuyện gì cả”. Tôi nói
về tính cách khó chịu của nàng và nói tôi chẳng làm gì nàng cả.
“Nhưng không thể để như thế được.” - Chị gái nàng nói.
“Đó
là chuyện của cô ấy, không phải là chuyện của tôi.” - Tôi đáp. - “Tôi
không làm lành trước đâu. Còn muốn chia tay thì chia tay.”
Chị
nàng bỏ đi mà không thu được kết quả gì. Tôi đã can đảm nói với chị nàng
rằng sẽ không làm lành trước, nhưng khi bà ta vừa đi khỏi, tôi bước ra
ngoài và nhìn thấy vẻ sợ hãi tội nghiệp của lũ con, thì đã muốn làm lành
với nàng ngay. Tôi sẵn lòng làm lành, nhưng không biết phải làm như thế
nào. Đi đi lại lại, hút thuốc, uống hết chỗ vodka và rượu vang của bữa
sáng, và tôi đạt được điều mà tôi đã mong muốn một cách vô ý thức: không
nhìn thấy tình trạng ngu ngốc, tồi tệ của mình.
Gần ba giờ chiều
thì nàng về. Nhìn thấy tôi, nàng không nói năng gì cả. Tôi tưởng rằng
nàng đã dịu lại, bèn bắt đầu thanh minh rằng tôi nóng giận là do những
lời trách móc của nàng. Vẫn với vẻ mặt nghiêm khắc và đầy khổ đau, nàng
nói nàng đi về không phải để nghe thanh minh, mà để mang lũ con đi, vì
chúng tôi không thể nào sống chung với nhau được nữa. Tôi nói là tôi
không có lỗi, rằng chính nàng đã làm tôi không giữ được bình tĩnh. Nàng
nhìn tôi nghiêm khắc và đắc thắng rồi nói:
“Đừng nói thêm nữa, rồi anh sẽ phải ân hận.
Tôi
nói tôi không thể chịu được các trò hề. Lúc đó nàng hét lên gì đó không
rõ rồi chạy về phòng mình. Tiếng chìa khóa vang lên, nàng đã khóa trái
cửa lại. Tôi đập cửa, nhưng không có tiếng trả lời và tôi tức giận bỏ
đi. Nửa giờ sau bé Lisa chạy đến, chan hòa nước mắt.
“Sao? có chuyện gì xảy ra rồi?”
“Con không nghe thấy tiếng mẹ.”
Chúng
tôi chạy đến. Tôi dùng hết sức giật cánh cửa. Then cửa cài không kỹ nên
hai cánh cửa bật mở ra. Tôi đến bên giường. Nàng mặc váy dài và chân đi
ủng, nằm sõng soài bất tỉnh trên giường. Trên chiếc bàn nhỏ là chiếc lọ
thuốc phiện đã trống rỗng. Chúng tôi vực nàng hồi tỉnh. Lại rất nhiều
nước mắt và cuối cùng là làm lành. Nhưng đó cũng không phải là sự hòa
giải: trong lòng mỗi người vẫn còn đó sự phẫn nộ đối với nhau, lại cộng
thêm sự bực bội vì nỗi đau do trận cãi cọ gây nên, mà người nào cũng đổ
là hoàn toàn tại người kia. Nhưng dù sao cũng cần phải kết thúc mọi
chuyện và cuộc sống lại trôi qua như cũ. Thế rồi sau đó lại cãi cọ, liên
tục và càng lúc càng dữ dội hơn, khi thì tuần một lần, khi thì tháng
một lần, có khi cãi nhau hàng ngày. Và đều kết thúc như nhau. Có lần tôi
đã lấy hộ chiếu để đi ra nước ngoài, cuộc cãi cọ lần ấy kéo dài hai
ngày, nhưng sau đó lại giải thích, lại làm lành, và tôi ở lại.

