Lữ Quán Giết Người - Chương 06-p1

Khung cảnh trong nhà êm ả, đặc biệt làm Mary tưởng đây là một
căn nhà trong truyện cổ: có hàng rào gai mà anh hùng trong truyện sẽ chặt để lấy
lối đi, bên trong là vườn hoa đủ loại. Dưới khung cửa sổ, hoa mọc từng khóm và
huệ trắng vươn cao, dây leo mọc phủ vách, che khuất luôn cổng ra vào và ngôi
nhà như... yên ngủ từ lâu lắm.

Mary chợt mỉm cười vì tưởng tượng của mình. Nàng lại đưa tay
hơ trên lò sưởi. Sự im lặng làm nàng thích thú, thấy khoẻ và hết sợ. Khác xa lữ
quán Giao Mai: không nặng nề, bừa bãi, đầy đe dọa. Tủ ghế, bàn, cả những tranh
treo trên vách đều tỏa ra sự ấm cúng tuy không thân mật.

Xưa kia, chắc đây đã có một cuộc sống bình thản và hạnh
phúc. Giờ, những kẻ ấy đã nằm yên trong nghĩa địa, tên họ trên bia đá bị rong
phủ kín và người còn lại tôn trọng họ, giữ nguyên mọi vật trong nhà?

Mary chăm chú nhìn Francis trong lúc ông ta dọn bàn ăn, rồi
lại quan sát khắp phòng. Nàng không thấy vách treo tượng ảnh các vì Thánh và tượng
Chúa như thông thường. Bàn làm việc bóng nhẵn, không giấy tờ chi.

Trong một góc, có một giá vẽ, trên có tấm tranh chưa hoàn
thành. Bức vẽ ao bùn Dozmary. Hình như cảnh vẽ trong một ngày u ám nên trời đầy
mây và nước mầu xám, không có gió. Mary không biết gì nhiều về hội họa, nhưng
cô công nhận bức vẽ này tràn sức mạnh. Như có mưa tạt vào mặt nàng.

Linh mục để ý đến hướng nhìn cô gái, ông lại gần, úp giá vẽ
xuống:

- Đừng nhìn bức này. Tôi vẽ vội vàng và cũng không rảnh để
hoàn thành nó. Nếu như cô muốn xem tranh, sẽ có bức khá hơn. Nhưng hãy ăn đã.

Có người dọn cho ăn là một chuyện lạ với cô gái quê. Nhưng vẻ
tự nhiên của linh mục làm cô yên lòng, ông nói:

- Hannah ở dưới làng. Cứ đến 4 giờ chiều là bà về. Tôi thích
một mình hơn. Cũng may, bữa nay bà ấy có làm một ổ bánh táo. Hy vọng cô nuốt
trôi, vì bánh bà ta làm tệ lắm kìa.

Ông pha trà và kèm cho Mary muỗng kem! Nàng vẫn còn lạ với mầu
tóc, đôi mắt ông. Chúng khác hẳn giọng nói. Cái áo dòng đen càng làm nổi bật
chúng lên. Mary mệt và lạ, nên linh mục để nàng ăn từ từ chậm rãi. Có lúc nàng
thấy như mắt ông là mắt người mù. Khi thì cái nhìn sắc lạnh nhu xoi bói. Ông
nói:

- Cũng may mà tôi gặp cô giữa đồng hoang. Vì công việc, đôi
khi tôi phải đi xa. Bữa nay tôi đến giúp một sản phụ. Người ở đồng quê chất
phác lắm. Tôi rất quí họ.

Mary không nói gì. Mary đang nhớ đến bọn người hung bạo đến
lữ quán trong đêm. Linh mục hỏi:

- Cô đi đâu mà lạc vậy?

Mary nhìn linh mục, thốt nhiên nàng thấy cần giao phó mọi sự
trong tay ông:

- Con có điều lo quá. Đôi khi con sợ sẽ giống dì con. Chắc
cha đã nghe người ta nói đến lữ quán Giao Mai? Con ở đó một tháng mà như 20
năm! Chỉ vì dì con mà con không thể ra khỏi đó...

Linh mục nhìn nàng vẻ âu yếm và khuyến khích. Mary tuần tự kể
hết mọi điều: bọn người lạ, những kiện hàng, sợi dây, cái chết của người đàn
ông, ông Bassat... và dự tính của nàng.

Nhưng chợt, Mary dừng lại. Nàng có cảm tưởng như mình kể
chuyện hoang đường, như linh mục cố gắng để khỏi chế giễu nàng. Ngay cả nàng,
nàng cũng cảm thấy như... mình bịa chuyện. Tại sao thế? Có lẽ vì đôi mắt kỳ dị
của linh mục chăng? Hay thái độ bình tĩnh kín đáo của ông khi nghe câu chuyện?
Lạ quá, ông có thể là một người 20 tuổi và cũng có thể là một cụ già 60... Ông
quả là một tác phẩm độc đáo của Tạo Hóa. Trước mặt ông, Mary cảm thấy những điều
nàng kể trở thành vô lý, nhưng quá muộn.

Khi cô gái kể xong, ông đứng lên, đi đi lại lại trong phòng.
Tay vân vê khuy áo rồi tựa lưng vào lò sưởi nhìn nàng chăm chú. Giọng ông đều đều:

- Đừng nghĩ rằng cha không tin con. Con không có vẻ loạn trí
hay bịa đặt. Song nếu ra giữa toà, câu chuyện có vẻ huyền hoặc quá. Hơn thế,
tuy luật lệ cấm buôn lậu nhưng nó lại xảy ra như cơm bữa trong vùng. Cha cũng
biết ông Bassat, ông lương thiện và có thiện chí, nhưng phải thành thật mà nói:
ông ta hơi ngốc. Lại huênh hoang nữa kia. Nếu mọi người biết ông vào lữ quán và
ra tay không, người ta sẽ cười vào mũi ông. Có một điều con nên yên tâm: chắc từ
nay Merlyn sẽ không dám làm bậy và lữ quán sẽ yên tĩnh vì sự thăm viếng của ông
Bassat, cha đoán thế.

Mary phục thái độ trầm tĩnh của linh mục quá đỗi. Nàng ngỡ
là ông sẽ không tin hay ngược lại, ông sẽ sợ hãi lắm. Nào ngờ ông tỉnh táo quá.
Ông tiếp:

- Nếu con muốn, cha có thể đưa con đến gặp ông Bassat, để
con kể lại đầu đuôi, nhưng ít ra phải bắt được Joss tại trận với tang chứng
kìa. Cha không giúp con được gì, vì hiện giờ tình thế rất... tế nhị về mọi mặt.
Hơn nữa, cha biết rằng con không muốn dì con ngồi tù vì tội ác của chồng, phải
không?

- Thưa cha, theo ý cha, con phải làm sao?

- Nếu cha là con, cha sẽ chờ đợi. Hãy để ý chú Joss thật kỹ.
Khi nào thấy xe đến, và nếu con có thể tin cha thì cho cha hay.

- Còn người bị treo cổ? Cha có nghĩ đến tìm cách đưa vụ này
ra phát luật không? Con cảm thấy có tội vì không cứu được người lương thiện...

- Đừng thắc mắc. Con không thể làm gì được. Con có chứng kiến
tận mắt ông ta bị treo cổ đâu? Con chỉ thấy khúc dây, phải không? (Mary gật đầu.)
Con đừng buồn, cha phải thành thật mà nói rằng con... tưởng tượng quá nhiều.
Con không đáng trách có lẽ vì không khí trong lữ quán hại tới thần kinh con. Nếu
mắt con thấy ông ta bị thương hay bị treo thì lại là chuyện khác.

- Con nghe rõ ràng Merlyn đe dọa ông ta mà, thưa cha?

- Con khờ lắm. Người ta đe dọa nhau hằng ngày ấy chứ, nhưng
dễ gì treo cổ được nhau? Hãy nghe cha, từ nay có gì đáng lo, báo cho cha biết.
Hay con muốn cha đưa về và nói hộ vài tiếng với Joss? Cha sẽ không ngại đâu.

- Chết! Lạy cha! Ông ta sẽ giết con và cả cha nữa, chưa chừng.
Ông ta hung bạo lắm, không phải như cha tưởng đâu. Cha đưa con về rồi mặc con
xoay xở lấy. Cha không nên ra mặt, nguy hiểm quá!

Nói xong, nghĩ đến lúc đối diện với Merlyn, Mary thấy mệt mỏi
chợt đến. Chị còn một điều an ủi: nàng có thể trở lại đây bất cứ giờ nào. Và chắc
gì Joss trở về trước mình? Có thể, lão về và ngỡ mình đã ngủ yên? Lão có đến
phòng mình làm chi đâu? Lão đã cảm ơn mình ban trưa mà! Mary vững tâm lại trong
khi linh mục đi thắng ngựa. Một con ngựa khác con ngựa vừa rồi, có vẻ mạnh mẽ
hơn.

Dáng bộ trầm ngâm của linh mục làm Mary tưởng như ông là một
người của thế giới khác. Mary nhớ lại vị linh mục làng mình: người hiền lành,
nhỏ nhắn, dễ dãi quen thuộc với nàng biết bao nhiêu!

Xe đã thắng xong. Mary lên ngồi cạnh linh mục. Nom ông như
con chim khổng lồ: áo choàng rộng bay phấp phới và hai cánh tay như đôi cánh.
Giọng ông mơ hồ trong gió lộng:

- Tôi yêu đồng hoang. Lần đầu tiên cô sống nơi này và không
được yên ổn nên không hiểu tôi. Nếu cô thấy nó về đông cũng như qua hạ, cô sẽ
giống tôi. Không đâu quyến rũ bằng đồng hoang. Cảnh sắc như thuộc về quá khứ. Đồng
hoang được tạo dựng trước rồi mới đến rừng núi, thung lũng và biển cả. Lúc mặt
trời lên, ta trèo lên đỉnh núi Roughtor lắng nghe gió thổi qua khe đá... cô sẽ
hiểu...

Mary không hiểu gì cả. Nàng tự nhủ: không biết ông có giảng
như thế giữa nhà thờ?

*

Joss Merlyn say tiếp năm hôm. Suốt ngày ấy qua ngày khác ông
ta nằm dài mê man, trên cái giường nhỏ trong bếp. Miệng há hoác và ngáy pho
pho. Tiếng ngáy vang dội khắp phòng. Năm giờ chiều hôm thứ năm ông ta tỉnh dậy,
kêu khát và đòi uống... rượu chát, vừa kêu vừa khóc, như đứa trẻ. Bà vợ tức thì
chạy lại, vỗ về bằng những lời dịu dàng, tay bưng ly nước dỗ chồng uống; lại sửa
gối, đắp chăn. Trông bà khác hẳn, nhanh nhẹn và chu đáo quá. Merlyn nhìn quanh
dáo dác, run rẩy, lầu bầu không ra tiếng. Lão để yên cho vợ lau mặt, thay ra
giường, chải tóc... Chỉ mươi phút sau, ông ngủ lại, mặt bầm tím, lưỡi thè ra và
lại ngáy làm Mary càng tởm.

Hai dì cháu qua ở tạm gian phòng khách đầy bụi. Lần thứ nhất,
Mary thấy dì vui vẻ, tỉnh táo, nhanh nhẹn. Bà nói chuyện, có khi hát nho nhỏ nữa..
Mary được biết cứ hai tháng Merlyn say bí tỉ như vậy một lần. Có khi thường hơn
và lần này, cơn say là kết quả sự có mặt ông Bassat. Theo lời dì nàng, Merlyn
trở về lúc 6 giờ chiều và đi thẳng vô quầy rượu, ở lỳ trong đó luôn. (May quá:
lúc đó Mary đang lang thang trên đường về và lạc hướng.) Bà không biết Mary về
lúc nào, và nghe Mary bảo nàng đi chơi, lạc, bà tin ngay. Bà khuyên nàng nên cẩn
thận hơn, từ nay. Mary dấu tất cả mọi việc xảy ra. Và họ sống năm ngày yên
tĩnh.

Thời tiết u ám nên Mary không ra khỏi cửa, nhưng đến ngày thứ
sáu, khi mặt trời lên, cô gái lại tính vượt đồng hoang - dù nàng chưa quên cuộc
mạo hiểm đã qua. Nhất là khi Joss tỉnh dậy la lối om sòm, khói từ bếp tràn khắp
nhà và dì Patience nhanh nhẩu mang ra lại thì nàng đâm cáu kỉnh. Mary lấy một
khúc bánh mì gói vào khăn, đi ra. Lần này, Mary hướng về phía tây, ngọn Kilmar.
Vừa đi cô gái vừa nghĩ đến Francis, suốt buổi ông toàn nghe nàng nói, nàng nhớ
đến khuôn mặt ông, đôi mắt ông, bộ tóc ông... Chà! ông có vẻ giống tiên tử Elie
quá! Một người như ông, vì sao lại làm linh mục phó nhỉ? Ông có vẻ siêu phàm
quá!

Vài con hải âu bay là đà trên mặt hồ. Noel sắp đến rồi. Chắc
ở Helford dân chúng đang rộn rịp trang hoàng nhà cửa, cây thông, và gà ngỗng được
ăn nhiều cho béo? Mấy hàng bánh trái và các cô gái hẳn đều ưa nhìn... Vị mục sư
thì tươi tỉnh cưỡi ngựa đến Trekiwarreb cụng ly với giáo dân? Linh mục Francis
cũng cầu Chúa ban phúc cho họ đạo?

Một điều chắc chắc: lữ quán Giao Mai chả có gì thay đổi? Hơn
một giờ sau, Mary dừng lại trước con suối chảy ngang, khung cảnh không lạ lắm,
trước mặt cô gái là núi đá phẳng lì và xanh rêu. Sau lưng, ngọn Kilmar hiện ra
như bàn tay khổng lồ chĩa ngón lên trời. Mary ngắm kỹ đầm lầy Trewartha lần nữa.
Về hướng đông nam, bộ mặt đồi núi rực rỡ dưới mặt trời. Suối kêu róc rách đâu
đó. Đầm lầy trải dài bên trái. Gió hây hẩy thổi làm ngọn cỏ lung lay xào xạc,
có đám xanh tươi, có đám vàng, nâu. Nom hiền lành nhưng vô cùng nguy hiểm, vì
bên dưới lún sâu. Mary quay lưng lại đầm và băng suối, bước lên những mô đất
cao. Trời ít mây, đồng hoang trải dài như bãi cát. Mấy con ngựa chạy từ đồi cao
xuống làm cho con quạ đang rỉa lông vội vút bay lên, buông mấy tiếng “quà quạ”
nghe buồn bã lạ lùng. Đàn ngựa nhảy trên đá chơm chởm, đuôi phất phơ, chen lấn
nhau. Hình như chúng vừa được thả ra? Mary chợt thấy cửa rào bên trái được mở rộng.
Một người đàn ông đi tới, tay xách cái xô. Thấy nàng, gã đàn ông vây vẩy, gọi
tên nàng. Mary không tránh kịp: đúng là em trai chủ quán. Quần áo lem luốc bùn
và lông ngựa, hắn cười thật tươi:

- Cô đến tìm tôi sớm hơn tôi nghĩ. Phải biết trước, tôi đã
làm bánh thết cô. Ba ngày nay tôi ăn toàn khoai tây, khỏi mất công rửa bát.

Mary chưa kịp phản ứng, anh ta đã đưa cái xô cho nàng và lội
nước lùa ngựa.

- Ra khỏi đây! Tụi bay làm đục nước uống của tao. Liệu hồn!

Rồi anh ta nhặt cái xô cạnh đó vào bảo Mary trả xô nàng đang
cầm, xách cả hai cái xuống suối, múc đầy nước rồi nhăn răng trắng bóng ra, cười
nữa:

- Nếu không gặp tôi, cô làm gì nào?

- Tôi không có ý định tìm anh. Nếu biết, tôi đã quẹo sang hướng
khác.

- Tôi không tin cô. Nhưng dù sao, cô đã đến đây là tốt rồi. Ở
lại ăn trưa với tôi, nghe? Có thịt trừu.

Cả hai trở về căn nhà tranh nằm lưng chừng đồi. Từ ống khói,
một làn khói mỏng thoát ra. Sau nhà, còn những mảnh ván ghép sơ để làm rào nuôi
súc vật và một khoảnh đất trồng khoai tây.

- Tôi nhóm lửa rồi, giờ chỉ cần nướng thịt. Cô biết cách làm
chứ?

Mary nhìn Jean từ đầu tới chân:

- Anh mời khách kiểu gì vậy?

- Tôi ít có dịp mời khách lắm. Từ lúc mẹ tôi chết, tôi sống
một mình. Mời cô vô nhà!

Mary cúi xuống để chui qua cánh cửa thấp. Gian phòng nhỏ
vuông bằng nửa gian bếp của dì nàng. Ống khói trong góc thật rộng. Sân nhà dơ bẩn,
đầy rác: vỏ khoai ruột bánh, vài cọng rau giá và tro bếp phủ cùng khắp. Mary
kinh hoảng hỏi:

- Anh không bao giờ lau nhà hở? Bếp như chuồng heo! Anh
không biết xấu hổ gì hết chắc? Đưa tôi cái chổi coi. Tôi không thể ăn tại một
chỗ thế này!

Trong nửa giờ gian bếp sạch sẽ, sân nhà ướt và bóng nhoáng,
rác rến biến mất. Mary dọn quét, lau một cách hăng hái. Rồi nàng soạn trong tủ
ra, lấy bát dĩa dọn bàn. Thịt trừu và khoai tây hầm trong bếp bốc mùi thơm
ngát. Jean từ ngoài cửa hít hà, nói chõ vô:

- Tôi cần một người đàn bà. Cô có muốn rời Lữ quán khốn nạn
đến ở với tôi không?

- Anh không đủ tiền trả công cho tôi đâu.

- Chà! Đàn bà chúa hà tiện. Họ để tiền làm chi chớ? Mẹ tôi
cũng vậy. Bà dấu tiền trong vớ, tôi chưa được thấy nó mầu gì. Thôi đói quá rồi...
Dọn lẹ lẹ...

- Anh bất lịch sự quá! Không cám ơn đầu bếp, lấy tay đi, dĩa
nóng lắm đó!

- Chắc ở Helford cô học được nhiều điều hay? Tôi cho là đàn
bà mới nứt mắt chả cần học ai cũng biết làm bếp... Cho tôi ly nước đi! Cô khéo
tay quá! Nào, chúng ta cùng ăn, nhé? Mời cô, cứ tự nhiên, tôi dốt phép xã
giao...

Hai người bắt đầu ăn. Mary nhỏ nhẹ, còn Jean nhai ngấu nghiến
và không ngớt khen ngon:

- Từ khi mẹ tôi chết, giờ mới được ăn ngon một lần; (giọng
tâm sự) chúng tôi đều sinh ra ở đây, trên gác kia. Nhưng hai anh lớn lắm tôi mới
ra đời. Cha tôi đi vắng luôn. Mà hễ về là kiếm chuyện đánh mẹ tôi. Một lần tôi
suýt ngất vì thấy ông cầm dao ném vào mặt mẹ tôi, máu chảy ròng ròng. Tôi thấy
mẹ tôi vẫn điềm nhiên dọn bữa cho ông. Bà cưng tôi nhất nhà, vì vậy hai anh hay
đánh tôi, hễ mẹ tôi quay lưng là tôi bị đòn rồi...

- Mẹ anh mất bao lâu?

- Bảy năm, trong dịp Noel. Sau khi cha tôi bị treo cổ, Matt
chết đuối, Joss qua Mỹ châu. Mẹ tôi trở lại đạo, đọc kinh tối ngày, làm tôi bực
quá, bỏ đi. Tôi tính làm thủy thủ nhưng bể không hợp với tôi nên tôi trở về. Mẹ
tôi như bộ xương. Tôi bảo: “Mẹ ăn nhiều nhiều vào” mà bà không nghe, tôi lại bỏ
đi. Chiều Noel tôi trở về, đói meo, cửa thì đóng, nhà trống trơn: mẹ tôi đã chết,
chôn cách đó ba tuần... Kìa, có một miếng phô-mai trong tủ đó. Cô ăn chứ? Có
sâu trong đó nhưng không hại gì đâu.

Mary ngồi im. Jean nhìn chăm chú cô gái, hỏi:

- Cô làm sao vậy? Bịnh hả? Mới thấy vui vẻ đó mà.

- Tôi chả làm sao cả. Tôi nghĩ rằng khi nào không còn một
người trong dòng họ Merlyn nữa là điềm tốt cho mọi người. Thà trong xứ bị bệnh
dịch còn hơn có người như dòng họ nhà anh. Mấy người không nghĩ đến mẹ các người
đau khổ sao?

- Mẹ tôi không kêu ca gì cả. Bà bận luôn tay có thì giờ đâu
mà buồn?...

Mary đã xong bữa, nàng đứng lên, dọn bàn.

- Quên, Joss ra sao?

- Đang say, cũng như cha anh vậy mà?

- Một ngày kia rượu sẽ giết ảnh, ảnh nằm mấy ngày rồi, Mary?

- Năm.

- Thấm gì. Có khi hơn tuần lễ kia. Chừng nào ảnh tỉnh dậy, lảo
đảo như đứa trẻ, rượu thặng dư đã đưọc thải một ít, còn một ít thấm vào ảnh,
lúc đó mới đáng sợ. Lúc đó ảnh nguy hiểm lắm, cô nên đề phòng...

- Ông ta còn nhiều việc phải lo. Vả, tôi cũng khá cẩn thận...

- Đừng làm vẻ bí mật. Có chuyện gì xảy ra ở Giao Mai vậy?

Mary kể lại vụ ông Bassat đến khám nhà và tất cả những lời
ông hôm ấy. Jean nheo mắt:

- Sao cô lại nói dối về tôi?

- Tôi sợ dì tôi bị rắc rối. Nếu có thì giờ suy nghĩ, tôi đã
nói toạc hết sự thật. Anh không có gì phải lo chứ?

- Chả có gì, trừ con ngựa đen... Tuần trước nó còn màu xám
tro. Nó là ngựa quí. Cô ra xem, nhé?

 

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.