Gió trắng - Chương 07

Chương 07: Cái chuông

Điền
trang của Lev Tolstoy ngập trong thảm hoa vàng. Phía trên là màu trắng
thanh nhẹ của hoa táo. Năm nào tôi cũng chọn mùa Xuân mà về đây, mặc dù
hoa vàng, hoa trắng không chỉ ở đây mới có. Nhưng nơi này cho ta cảm
giác lạc bước giữa đời, như dứt ra khỏi cuộc sống thường ngày buồn tẻ.

Vâng,
ít ra thì, cuộc sống của riêng tôi là như thế, rất buồn tẻ. Chỉ có học
và thi. Tôi đã hứa với bố mẹ ở nhà là phải học giỏi, cấm có được làm
thêm làm nếm như những đứa bạn khác cùng trường. Học và thi. Rồi cãi
nhau với mấy đứa người Thổ lười chảy thây ở cùng phòng. Đôi khi tôi cảm
giác chán, không rõ là chán cái gì nữa. Chán đến nỗi chẳng màng đến việc
làm một điều gì cho đỡ chán hơn.

Một
đoạn cầu gỗ ngắn bắc ngang qua suối. Bước vài bước, nhịp cầu đã đưa tôi
vào thế giới cổ xưa, cũ kỹ đến từng viên đá lát. Nhưng gió thổi hơi mát
lành.

Đoàn
người về thăm viếng mộ đại văn hào Nga cứ nườm nượp nối đuôi nhau trên
con đường rộng. Tôi thì tách ra, lạc vào một lối mòn. Đi ngang qua một
căn nhà gỗ, vài ba con ngỗng sư tử trắng muốt từ đâu bỗng lao ra đuổi
tôi. Và tôi chạy lòng vòng quanh một vũng nước to, chắc là người ta đào
cái vũng ấy cho bọn ngỗng vầy nước. Bọn ngỗng lạch bạch đuổi theo tôi
sát gót. Cả lũ quàng quạc nhức cả đầu. Tôi cười to lên. Tự dưng thấy vui
vẻ kỳ lạ. Niềm vui nhiều khi đến với ta đơn giản thế đấy! Tôi thấy mắt
mình ấm lại. Vậy mà đã có những lúc, mắt tôi mờ đi vì chẳng có chút hơi
ấm nào của niềm vui!

“Xùy
xùy!” Có tiếng gọi ngỗng nghèn nghẹn, là lạ vang lên đằng sau tôi. Quay
đầu lại, tôi thấy một cô bé độ mươi tuổi, mặc bộ váy cổ của người Nga,
màu trắng đỏ, tay bồng, như bước từ những trang sách của Lev ra vậy. Cô
bé có đôi mắt rất sáng. Em bé nhìn tôi, cười không thành tiếng, lắc lắc
đầu dứ nắm đấm về phía bọn ngỗng. Tôi làm quen:

- Chào em! Em nuôi ngỗng đấy à?

Không
trả lời, em chỉ mỉm cười. Và, tôi bất ngờ nghe thấy một tiếng chuông
lanh lảnh vang lên. Bây giờ tôi mới để ý thấy, em bé cầm trong tay một
cái chuông. Em lắc cái chuông, miệng vẫn cười mỉm, mắt sáng lấp lánh
nhìn tôi. Tò mò quá, tôi đến gần hỏi:

- Nghĩa là gì vậy em? Sao em lại rung chuông?

-
Đừng hỏi nó!, - từ sau cánh cửa gỗ sơn xanh, một giọng khàn khàn khó
nghe vọng ra. Tôi giật bắn mình, tí nữa thì bỏ chạy. Trong một thoáng,
tôi ngỡ mình sắp nhìn thấy gương mặt già nua nhăn nheo có cái mũi dài
ngoằng của mụ phù thủy Baba - Iaga!

Một
ông già mặt đỏ bừng bước ra, chân đi ủng cao su, tay cầm cái cào cỏ.
Ông rất cao lớn, tóc và râu quai nón đã bạc nhưng lại có thân hình trẻ
đến nỗi tôi nghi ngờ không biết có phải ông sở hữu cái giọng khàn khàn
đáng sợ vọng ra từ sau cửa không. Bất giác, tôi nhìn vào căn nhà tối qua
cánh cửa mở rộng. Ông già cười, giọng cười cũng đùng đục:

- Tôi nói cô đừng hỏi nó, vì, cháu gái tôi đấy… Nó bị câm.

Choáng
váng, tôi không nói được câu nào. Bị câm? Mà đôi mắt lại đầy niềm vui
đến thế? Mãi vài phút sau tôi mới cất giọng hỏi lại:

- Thế, ông ơi, sao em ấy lại rung chuông để làm gì ạ?

-
Để chào cô chứ để làm gì. Chuông nó tự làm đấy. Ngày nào cũng hì hụi
làm chuông. Nhà tôi có cái sạp bán đồ lưu niệm ngoài kia. Bán đủ thứ đất
nặn. Nó thì chỉ nặn chuông thôi.

Lúc
này, tôi mới chợt nhớ đến anh trai tôi ở Việt Nam. Anh ấy là doanh
nhân, buôn phụ tùng ô tô. Nhưng anh lại mê chuông. Đi nước ngoài về, lần
nào cũng khệ nệ bê vác những hộp to nhỏ đựng các loại chuông, các kiểu
chuông khác nhau với những dòng chữ đủ các thứ tiếng. Nhà anh có cả một
căn phòng riêng để bày chuông với những kệ, những giá, tủ kính ngày nào
cũng được chị dâu lau chùi bóng loáng… Mỗi lần đến chơi với anh chị, tôi
vừa thích, vừa sợ khi bước vào cái phòng đó. Những quả chuông mang hơi
hướng của những miền đất xa xôi, mang triết lý riêng của những nền văn
hóa lạ. Nhưng sợ, vì tôi thấy căn phòng có những cái chuông… mà sao nó
cứ im ắng thế. Tôi luôn có cảm giác căng thẳng, luôn nghĩ, chỉ một vài
phút nữa thôi, tất cả những cái chuông này sẽ cùng kêu lên, thì căn
phòng sẽ nổ tung hoặc đầu tôi sẽ nổ tung! Tôi chẳng dám nói ra cái suy
nghĩ ngớ ngẩn ấy với anh tôi, anh lại chẳng bợp cho một cái vào đầu ấy!

Tôi
bước đến gần em bé, lúng túng không biết nói với em thế nào hay phải
làm những cử chỉ gì để em hiểu tôi... thì em bé đã vui vẻ dúi cho tôi
cái chuông vừa lắc. Cái chuông đất giản dị, to bằng nửa nắm tay tôi, có
một cái nơ xinh xinh màu đỏ buộc ở cuống. Còn em thì rút từ trong cái
túi to viền thêu đỏ trước ngực một cái chuông khác có dây đeo. Em nhìn
tôi, gật đầu. Hiểu ý, tôi lắc cái chuông. Cả hai chúng tôi cùng lắc.
Chưa bao giờ tôi nghe thấy âm thanh nào trong trẻo như thế, những tưởng
nó chỉ có thể vang lên từ những cái chuông bằng pha lê. Tôi đã từng nghe
chuông đồng ngân rồi, tiếng nó khác cơ, vang nhưng không trong, ngân
nga nhưng không nhẹ, dường như là tiếng chuông ấy bay lên cao, lan tỏa
ấm áp trong không gian… rồi rơi xuống đất, tan vào đất. Còn tiếng chuông
này từ những cái chuông làm bằng đất của cô bé câm, nó trong vắt và bay
vút lên bầu trời. Khi dừng lắc, tiếng chuông vẫn lơ lửng trên đó rồi
tan vào thinh không. Hôm ấy ngày nắng ấm, trời rất cao. Cạnh chỗ tôi
đứng là một rừng bạch dương nhỏ, thân trắng, lá như lưới mỏng lọc nắng
thành tia. Tôi thấy tiếng chuông của chúng tôi vui sướng nhảy múa giữa
những tia nắng bạch dương. Rồi thoát ra mất hút lên bầu trời vô tận ấy.

Niềm vui ngập tràn trong tim tôi.

Mấy
hôm sau, từ nước Nga, tôi bay về Việt Nam. Đây là chuyến về phép thứ
hai của tôi sau 4 năm xa nhà đi học ở Matxcơva. Lần nào về phép cũng
ngắn ngủi. Một tháng.. Chẳng kịp làm gì cho ra hồn, thậm chí chơi cũng
chẳng chơi đủ nữa! Tôi “chạy sô” khắp nơi: đi ăn, đi uống, đi thăm thú
mọi người… Đến ngày gần đi mới ngồi sắp lại va-li, giũ cái áo cũ ra thì…
nhìn thấy cái chuông! Cái chuông cô bé câm đã tặng cho tôi dạo nọ. Cái
chuông có chiếc nơ đỏ bé tí xinh xinh, có màu nâu đỏ của đất nung mà
không có tí tẹo hoa văn nào trên đó cả. Nhưng nó đã bị vỡ thành mấy
mảnh, chắc là do đồ đạc của tôi đè nặng vào. Mấy con giống bằng thủy
tinh tôi mua ở Len thì còn nguyên! Tôi ngồi thần ra, giữ mấy mảnh chuông
nhỏ trong tay, nhớ đến niềm vui tràn ngập trong tim hôm nào. Niềm vui
của tôi, mong manh hơn cả thủy tinh vậy sao?

Gom
mấy mảnh vỡ của cái chuông, tôi hì hục ngồi dán lại… rồi xách xe phóng
đến nhà anh tôi. Anh ngạc nhiên lắm khi tôi vừa đến lại xộc ngay vào
phòng bày chuông. Mân mê cái chuông sứt sẹo có nơ đỏ mà tôi đưa ra, mặt
anh ngơ ngác:

-
Cô đưa anh cái này làm gì? Cái này vỡ rồi, mà chẳng có gì đặc biệt cả.
Anh đã dặn vác cho anh ít chuông lạ, phải vào cửa hàng mỹ thuật bên đó
mới tầm được. Nhưng anh chẳng nhắc vì nghĩ là cô mải chơi quên rồi.

Tự
nhiên tôi thấy nghẹn ngào, chẳng nói gì được. Lấy lại cái chuông từ tay
anh tôi, tôi lắc nó. Cứ ngỡ nó không kêu nữa. Ai ngờ, cái tiếng lanh
lảnh hôm nọ vẫn cất lên. Nó có khác đi đôi chút, nhưng nó vẫn kêu và vẫn
bay vút lên, đưa tâm hồn đang nặng trĩu của tôi thoát ra đâu đó, một
nơi có nắng, có hoa vàng hoa trắng và những niềm vui hồn nhiên kỳ lạ.

Trên giá, trên kệ và tủ kính chung quanh tôi, những cái chuông to đẹp vẫn nằm im, trầm ngâm tự tại. Đó là những cái chuông câm.

Báo cáo nội dung xấu