Gió trắng - Chương 12 phần 2
Hôm
sau đi xe ôm lên thị xã, bắt tàu về Huế, cả nhà đi ngót nghét gần một
tiếng đồng hồ dưới cái nắng như nung của Quảng Ngãi. Lên tàu, Hoa thảng
thốt nhận ra một cánh tay mình đen nhẻm từ lúc nào. Hì hụi rửa tay, kỳ
cọ mãi ở phòng vệ sinh của ga vẫn không thấy trắng ra, cô thốt hiểu
rằng, đó là nắng chứ không phải bụi bẩn. Nắng thiêu một bên tay trần của
cô. Không hiểu sao chuyện này làm cô vui, thấy miền đất xa lạ này trở
nên đã gần gũi hơn nhiều.
Cầm
địa chỉ anh Doanh cho, nhà Hoa tìm đến thị trấn Phú Bài, huyện Hương
Thủy. Tìm được nhà bà Mô. Đó là một căn nhà một tầng xinh xắn, nằm giữa
một mảnh vườn nhỏ, hai hàng chè tàu khoanh lại lối đi. Vườn trồng hoa
bông trang, hoa giấy và những hoa gì gì nữa không rõ. Chỉ thấy không
gian rất thơm. Trời bấy giờ mưa nhỏ, đường vào nhà qua mảnh vườn trơn
trượt dưới chân vì rêu phủ, có vẻ như lâu rồi chưa ai nạo rửa. Hoa và
chú Hùng đỡ hai bên bà. Ở tuổi của bà, đi một quãng đường dài như thế là
quá sức. Nhưng bà lại tỏ ra rắn rỏi, bước từng bước chậm, nhưng bình
thản. Nhìn bà như thế, Hoa lại thấy muốn khóc.
Mệ
Mô có nhà không Mệ Mô ơi! Có khách tới hỏi thăm Mệ nì! - chú bé dẫn
đường ngân nga gọi. Chú ta quay lại, giảng giải: “Mệ Mô ở với cháu nội,
mạ con Hinh lấy chồng ở xa…”. Hoa thấy bà ngoại khẽ run những ngón tay.
Lát
sau, một người đàn bà tóc cũng đã bạc trắng, dáng còn nhanh nhẹn, có lẽ
trẻ hơn bà ngoại Hoa một chút, bước ra. Bà Mô có vẻ ngạc nhiên, nhưng
vẫn khẽ khàng mời cả đoàn khách vào nhà. Hoa chưa gặp người nào có giọng
nói khẽ đến thế. Như hơi gió thoảng.
Bà
Hoa sau một hồi giới thiệu, nói vòng nói vo, quyết định đi vào trọng
tâm câu chuyện, giọng cứng rắn: “Thưa chị, thằng con út của tôi tên là
Nguyễn Văn Bình, cháu ở Trung đoàn 21, sư đoàn 2 P1, hy sinh năm…”
Hoa
ngạc nhiên. Cô cũng chưa bao giờ thấy bà mình nói to và đanh thép như
thế. Dường như bà biến thành một người khác. Bà bày đủ thứ giấy tờ, bảng
biểu, bản đồ, dẫn hết lời chú Minh lẫn chú Nam, là những đồng đội của
cậu Bình mới liên lạc với gia đình, gắng chứng minh với bà Mô rằng bà
mới có quyền được bốc bộ hài cốt mà bà Mô đã đem về mấy hôm trước. Bà
già kiên nhẫn nghe bà Hoa nói, chốc chốc lại thở dài. Còn bà Hoa nói
xong thì bỗng gục xuống, như không còn hơi sức nữa. Bà Mô nhanh nhẹn
không ngờ, lao đến ôm ngang người bà ngoại Hoa. Vẫn không một lời, bà
dìu bà ngoại Hoa vào giường nhà trong.
Bên
ngoài, mọi người xôn xao. Chòm xóm đã kéo đến đông tự lúc nào. Ông Toàn
và chú Hùng ngồi ngay đơ trên ghế, như biến thành những bức tượng. Dì
Hòa và mẹ chạy vào chăm bà. Tất cả đều có gì ngại ngùng, gượng gạo.
Bỗng,
từ ngoài cửa, một chiếc xe Vespa phóng vèo vào. Một người đàn bà to
lớn, trạc ngoài 50 tuổi, mắt hơi xếch, nhìn vừa uy vừa dữ, gạt đám đông
ra, dóng dả:
“Chuyện chi hè, chuyện chi kỳ rứa hè?”
Bọn
trẻ con nãy giờ đứng hóng chuyện, tranh nhau thuật lại cho chị ta nghe.
Chú Hùng vội chạy ra trình bày, cũng từa tựa như lời bà Hoa nói lúc
nãy. Người phụ nữ bất ngờ nhảy dựng lên:
“Mấy
người từ mô tới, bày chuyện chi dở doái ra đây rứa hè? Mộ chồng tui thì
tui dời về, răng lại có chuyện bảo là của người ni, người khác? Mấy
người ưa gây sự phải không? Có giấy tờ, chứng tích hẳn hòi chứ có phải
là ưa chi làm nấy mà được? Có chuyện chi mời mấy người lên UB thị trấn
mà phân xử, chứ kéo đây làm rộn mạ tui là răng?!”
Chú
Hùng tái mặt, nhưng vẫn cố gắng phân bua, rằng chúng tôi có lý này, lý
kia, có người làm chứng... Người đàn bà vứt toẹt cái nón xuống đất, nóng
nảy:
" Cái mụ cô tam đợi, tứ đợi nhà thằng tê! Tau có làm chi động mã mi không mà mi chọc tau rứa hè? …”
Chú
Hùng hoảng quá, há hốc miệng, lùi tận vào trong góc nhà. Đám đông đội
mưa đứng trên sân im phăng phắc. Người đàn bà còn nói nhiều lắm mà Hoa
không nghe được gì nữa. Cô mơ hồ thấy cả nhà đang rơi vào một tình thế
tiến thoái lưỡng nan, như một mớ bòng bong, biết gỡ sao đây!
* * *
May thay, bà Mô đã bước ra, quắc mắt:
- Chị Mô!
- Dạ?
- Chị về hôm ni có chuyện chi?
- Dạ, con mang ít tiền về để mạ chuẩn bị cúng cho nhà con. Con định xin mạ cho thỉnh thầy về tụng kinh cầu siêu nữa đó mạ!
- Chị cứ để tui lo. Tui đang tiếp khách, chị mới về chưa biết mô tê chi đã lớn tiếng làm đày, vô phép vô tắc, không ra răng hết.
Bà
Mô mắt sáng tóc bạc, lưng ưỡn thẳng, giọng nói vẫn khẽ khàng, nhưng có
độ vang như tiếng vang êm của một cơn mưa rào đầu hạ, cứ lan tỏa trong
không gian và thấm cả xuống đất. Vậy mà một lúc đã dẹp được cả đám đông
lẫn người đàn bà kỳ lạ kia. Quay lại với nhà Hoa, bà giải thích, đó là
vợ cũ của liệt sĩ Trần Đăng Mô, con trai bà. Chị ta đã đi bước nữa cách
đây hơn chục năm, để con bé con cho bà nuôi. Giờ con bé đã trưởng thành
rồi, tốt nghiệp trường trung cấp mẫu giáo, vừa đi dạy trẻ lại vừa theo
học “cái chi” nữa bà không rõ. “Hắn” đi học đến tối mới về. Trưa chỉ có
một mình bà Mô… “Mạ hắn” bây giờ làm ăn lớn, nghe thày bói ở đâu nói,
phải chăm nhang khói cho chồng cũ mới gặp may, nên dạo này mới năng về
thăm bà Mô và đứa con gái…
Bà ngoại Hoa đã tỉnh. Bà có vẻ ân hận, cứ ngồi cầm tay bà Mô mãi. Hai bà thủ thỉ trò chuyện với nhau.
-
Thằng con tui đi bộ đội năm nớ, mới chỉ kịp cưới vợ, con vợ hắn có mang
được ba tháng là hắn đi. Hắn thương vợ lắm. Vợ hắn ăn cái chi vô cũng
nhào ra, thấy cá thì mửa nhào lăn nhào đựng. Hắn đi cứ dặn tui, mạ kho
thịt chớ đừng kho cá mạ hỉ…
Bà
Mô cười hiền lành. Gương mặt bà sáng lên. Hoa thấy thắt lòng. Cô vẫn
thường nhìn thấy thứ ánh sáng ấy trên gương mặt bà ngoại mỗi lần kể
chuyện cậu Bình. Giờ thì đến lượt bà Mô độc thoại. Bà kể vì sao bà quyết
đó là mộ chú Mô, có chú Đát là người tự tay chôn cất chú Mô đi cùng dẫn
đường, rồi chuyện tìm mộ vất vả ra sao, xin phép xin tắc khó khăn thế
nào mới đưa được hài cốt về, táng vào lốt mộ ở nghĩa trang Hương Thủy.
Bà cứ rủ rỉ nói, giọng vẫn nhẹ như hơi gió thoảng. Cả nhà Hoa như mê mụ
đi. Ngoài trời nắng đã lên, càng lúc càng oi nóng. Không khí thơm ngát
hương hoa từ ngoài vườn bắt đầu bay vào nhà.
Chợt, bà Mô dừng lời, thảng thốt:
-
Chết thôi, tui sơ ý quá. Chị và mấy anh mấy cô đi từ xa về chắc chừ
cũng đói bụng rồi. Để tui dọn bữa cơm rau cơm dưa mời cả nhà hỉ?
Rất
nhanh chóng, mấy người khách không mời đã cảm thấy quen thuộc gần gũi
với người đàn bà có giọng nói nhẹ như gió này. Hoa cùng mẹ và dì Hòa nấu
cơm, bà Mô tạt ra chợ mua thức ăn, một loáng họ đã cùng ngồi bên mâm
cơm, thân tình, như những người bà con cùng nhau đi tìm mộ liệt sĩ suốt
từng ấy thời gian… Bữa cơm ngon miệng không thể tả, có canh rau ngót nấu
rạm, và đặc biệt là rau muống luộc chấm nước mắm nêm. Bà Mô bảo, nếu ai
không quen ăn mắm này sẽ thấy mùi khó ngửi lắm, nhưng cả nhà nhất quyết
thử bằng được. Nước mắm nêm được bà Mô thận trọng chắt ra từ chiếc hũ
sành cũ. Một thứ nước sền sệt, màu đen nhờ nhờ, có mùi hơi nồng, thum
thủm. Bà Mô băm nhỏ ít dứa, bà gọi là thơm, rồi giã mấy tép tỏi, trộn
vào. Hoa thấy mùi mắm cũng thơm hơn thật. Hoa háo hức hỏi bà cách làm
mắm. Bà cười:
- Bà kể con nghe thôi chớ bà tin là con không có mê được loại mắm này mô.
Hoa cười ỏn ẻn.
-
Con mua cá nục con hỉ, phải thật tươi, còn giãy đành đạch, rửa bằng
rượu cho se, cả ruột gan phèo phổi cũng dùng được hết con nờ. Để ráo
nước, muối cá, cứ lớp muối hột, lớp cá. phủ kín miệng hủ bằng muối, rồi
lấy mo cau cắt tròn đậy lại, vót mỏng mấy lẻ tre cật cài lại, ém cá cho
cá không nổi lên hỉ?
Cơm
xong, nghỉ trưa. Đến quá trưa xế chiều, bà Mô dẫn cả nhà Hoa ra nghĩa
trang Hương Thủy. Huế lại vừa mưa nữa nên không gian mềm mại, dịu dàng.
Có mùi hương trầm đâu đây. Nghĩa trang Hương Thủy nằm ngay gần quốc lộ
1A, to rộng như một công viên lớn. Những hàng dừa nước, hòn non bộ, các
hình khối sinh động đặt từ cổng vào tận trong. Có hai nhà bát giác gọi
là nhà Bia, bên trong có bức tường lục giác, ghi tên các liệt sĩ nằm
trong nghĩa trang và các liệt sĩ của toàn huyện Hương Thủy. Hoa tần ngần
đứng đọc những dòng tên, thấy thảng thốt khi nhìn những cái tên từ
nhiều miền Tổ Quốc. Có cả những liệt sĩ từ Hà Nội cũng nằm lại đây. Cậu
Bình ơi, cậu ở đâu? Nếu đây không phải là cậu mà là chú Mô, thì bà biết
làm thế nào? Liệu sau chuyến đi này, bà còn gắng gượng được không? Trời
ơi, sao cậu không phù hộ cho cả nhà, không dẫn đường chỉ lối cho bà, cho
chúng cháu, hả cậu?
Cả
nhà Hoa đứng trước mộ ghi tên liệt sĩ Trần Đăng Mô, lặng lẽ thắp hương,
không ai nói với ai một lời. Ngay cả ông Toàn cũng không còn chăm chăm
nhìn xuyên qua lòng đất nữa. Ông lặng lẽ cúi đầu. Khi ông ngẩng lên, Hoa
thấy đôi mắt đục của ông như trong ra, không hiểu Hoa có nhận nhầm
không!
Hoa
lo lắng liếc nhìn bà ngoại. Bây giờ, cô mới thấy nước mắt bà chậm rãi
lăn. Những giọt nước trong và mặn, đã lâu lắm rồi mới long lanh ở khóe
mắt bà. Hoa chợt nhớ đến truyện ngắn của Turghenev mà cô từng đọc hồi hè
lớp 10, kể về món xúp củ cải mặn người mẹ ăn trong ngày đưa đám con
trai. Xúp mặn không vì muối mà vì nước mắt, còn người mẹ cứ ăn, ăn mãi,
ăn cả những đau đớn từ trong lòng đã tuôn ra… Lúc ấy cô thấy cảm động,
nhưng không tưởng tượng hết được độ mặn của món xúp. Như bây giờ.
Hoa
xót xa ôm lấy bà ngoại. Rồi không hiểu sao, cô lại dịch sang một bên,
vòng đôi tay thanh tân của mình qua ngực bà Mô. Nức nở… Cơn nức nở dội
lên không kìm được, cứ hết đợt này đến đợt khác, khiến mắt cô mờ đi và
tay chân bủn rủn.
Bà
Mô ra hiệu cho tất cả cùng ngồi xuống nền đá lát gần mộ chú Mô. Bà chậm
rãi nói, rất dài, và bằng vẫn cái giọng nhẹ như hơi thở. Không một ai
ngắt lời bà:
-
Tui nói chị nghe. Con chị thì cũng như con tui, hai đứa hắn đều theo
Bác theo Đảng, đều đi đánh giặc mà hi sinh. Chừ chị nói là con chị, tui
nói là con tui. Giấy tờ chị có tui cũng có, là có vậy chớ ai mà biết
chắc cái đứa con nằm dưới mộ ni là con chị hay con tui rứt ruột đẻ ra.
Chị thương, tui cũng thương đứt ruột… Mình là phận đàn bà mang nặng đẻ
đau thì cũng như nhau cả… Chín tháng mười ngày mang nó trong bụng. Đẻ ra
nặn bọt bao nhiêu năm, cực khổ trăm bề. Bên ướt mạ nằm bên ráo con lăn…
Việc bốc lên chôn xuống, động mả động mồ chắc là khó rồi hỉ… Con dâu
tui hắn phá ngay, mà tui cũng không muốn làm rộn thằng bé…
Bà Mô ngồi lặng, như đang nghĩ về đâu đâu.
Cả
nhà Hoa cũng đờ đẫn trong một cơn mê mụ, không ai còn biết mình đang
muốn gì nữa. Ông Toàn nhắm nghiền mắt, như thể ông sợ mở mắt ra thì sẽ
nhìn được vong,ông cũng đã không còn dám tin vào khả năng tiếp cận với
thế giới người âm của mình. Hoa thoáng nghĩ đến việc đi thử mẫu ADN.
Chắc cũng chỉ có cách ấy mới đảm bảo để nhà Hoa hay nhà bà Mô nhận
người. Chỉ có điều, sự thật sẽ rất tàn nhẫn. Một trong hai người mẹ, bà
Mô và bà ngoại Hoa, có còn đủ sức để chịu đựng sự thật hay không?
Bà Mô đã lại tiếp:
-
Chừ tui nói ri chị nghe thử được không? Chị với tui thương hắn thì cứ
coi hắn là con chung. Phần mộ ni nhà nước quy tập về đây, nghĩa trang
tươm tất, cứ để hắn nằm đây cho có anh có em. Ta ghi lại bia “Liệt sĩ
chưa có tên”, hay làm cái bia nữa cho thằng Bình, chị hỉ? Quanh quất là
đồng chí đồng đội cả, ấm cúng lắm chị nờ! Lại có tui lẩn quẩn đây rồi…
Chị em mình xa xôi, chị Bắc tui Nam, nhưng mình giống nhau vì có con đi
bộ đội rồi hy sinh. Chừ gặp nhau đây mình coi như như chị em chị hỉ? Khi
mô vô Huế, chị cứ ghé lại, có muối ăn muối, có rau ăn rau. Chị em mình
hủ hỉ cho con nó vui! Tui quê mùa.. không biết nói ngon nói ngọt, chỉ
thật bụng răng nói rứa thôi chị nờ! Chị mà cũng ưng như rứa tui đội ơn
chị trăm bề!
-
Chị ơi! - Bà ngoại Hoa kêu lên, gần như cùng lúc với tiếng Hoa: “Bà
ơi!”. Cô ôm chặt lấy cả hai người bà. Trước mắt cô, gương mặt bao người
lính đang nhập nhòa trong nắng chiều, trôi chầm chậm qua. Những người
còn lại trong đoàn nhà Hoa đều òa nức nở, kể cả hai người đàn ông.
Mùi hương trầm bay trong không gian thơm, thơm ngát…

