Hình hài yêu dấu - Chương 11 phần 1
KHI BỐ TÔI THỨC GIẤC VÀO BỐN GIỜ SÁNG, trong nhà hoàn toàn yên
ắng. Mẹ tôi nằm bên ông, gáy khe khẽ. Em trai tôi, đứa con duy nhất còn ở
nhà vì em gái tôi đang ở trại, nằm ngủ say mê mệt, kéo chăn trùm đầu
kín mít. Bố tôi, cũng như tôi, lấy làm lạ sao nó có thể ngủ say đến thế
được. Hồi tôi còn sống, Lindsey và tôi thường hay nghịch bằng cách vỗ
tay, thả sách rơi xuống sàn, thậm chí gõ nắp xoong chan chat xem Buckley
có vì thế mà thức dậy không.
Trước khi ra khỏi nhà, bố tôi còn
vào phòng Buckley kiểm lại, khi cảm thấy hơi thở ấm của em phả vào lòng
bàn tay ông mới yên lòng. Rồi ông xỏ đôi giày đế mỏng, mặc bộ quần áo
thể thao nhẹ. Việc cuối cùng là tròng dây vào cổ con Hoiliday.
Trời
còn sớm, đến mức ông nhìn thấy hơi nước phả ra khi thở. Sớm như thế này
ông vẫn có thể coi như vẫn còn là mùa đông. Như thể trời chưa chuyển
mùa.
Việc dẫn chó ra ngoài buổi sáng cho ông cái cớ để đi ngang
ngôi nhà của tên Harvey. Ông chỉ đi chậm lại chút xíu - không ai nhận
thấy, trừ tôi hay tên Harvey, nếu hắn đã thức. Bố tôi chắc chắn rằng chỉ
cần tập trung nhìn thật kỹ, thật lâu là sẽ có lúc tìm ra bằng chứng ông
cần, hoặc trên các khung cửa sổ, trong lớp sơn xanh phủ lên ván gỗ,
hoặc ở lối xe ra vào, đánh dấu bằng hai tảng đá to sơn trắng.
Đến
cuối hè 1974 vẫn không có gì mới trong vụ án mạng mà tôi là nạn nhân.
Không tìm thấy xác. Thủ phạm cũng không. Hoàn toàn không có gì.
Bố
tôi nghĩ đến câu bàn Ruana Singh: “Nếu biết chắc rồi, tôi sẽ chuẩn bị
kỹ lưỡng để giết hắn thật êm thấm.” Ông không kể lại với mẹ tôi vì lời
khuyên này nghe dứt khoát, quyết liệt, hẳn sẽ làm bà bất an, thấy phải
thổ lộ cùng ai khác. Và ông ngờ rằng người đó là Len.
Từ hôm ông
đi gặp bà Ruana Singh rồi về nhà thấy Len đang chờ mình, ông cảm thấy mẹ
tôi ngày càng thiên về lập luận của cảnh sát. Nếu bố tôi nói gì đó
ngược với giả thiết của họ - và như ông nghiệm ra, là họ chẳng đưa ra
giả thiết nào cả - thì bà lập tức tìm cách bào chữa cho điều sơ sót mà
bố tôi vừa tìm ra được. “Len bảo răng điều đó chẳng nói lên điều gì cả,”
hay “Em tin chắc trước sau cảnh sát cũng sẽ tìm ra thôi.”
Bố tôi
tự hỏi sao người ta lại cả tin cảnh sát đến thế được? Sao không tin vào
trực giác? Tên Harvey là hung thủ, bố biết chắc điều đó. Nhưng bà Ruana
nói: Nếu biết chắc. Biết, cách biết bằng cảm nhận từ sâu thẳm nội tâm
của bố tôi, không phải là bằng chứng hiển nhiên, theo tinh thần mà người
ta vẫn diễn giải luật pháp.
Ngôi nhà nơi tôi lớn lên cũng là nơi
tôi mở mắt chào đời. Không khác ngôi nhà của tên Harvey, nó như một cái
hộp, nên tôi mới nảy thói ganh tị vớ vẩn khi đến thăm người khác. Tôi mơ
về những ô cửa sổ xây nhô ra trên có mái vòm, về những ban công và bức
vách nghiêng áp mái trong phòng ngủ. Tôi thích tưởng tượng có cây cối
trong vườn to cao hơn người, những khoang dốc vát dưới gầm cầu thang.
Những hàng rào dày rậm đến mức bên trong có những hốc do cành khô đan
vào nhau thành vòm, ta có thể chui vào ngồi lọt được. Trong thiên đường
của tôi có hiên, có cầu thang cuốn, cửa sổ có song sắt và một tòa lầu có
chuông từng giờ lại điểm.
Tôi biết tường tận bên trong ngôi nhà
của tên Harvey. Tôi đã để lại trên nền gara một vệt ẩm cho tới khi thi
thể tôi lạnh cứng. Hắn đã mang máu của tên trên áo quần và trên lớp da
hắn vào trong nhà. Tôi biết căn phòng tắm. Tôi biết rằng ở nhà mẹ tôi
trang trí để đón chào Buckley ra đời sau chúng tôi nhiều năm, bằng cách
dán những chiếc tào chiến nhiều màu dọc thành bốn bức tường màu hồng
nhạt. Trong nhà tên Harvey phòng tắm và bếp sạch bong không tì vết. Gạch
sứ ốp vách màu vàng, còn gạch lót sàn màu xanh lục. Tầng trên, nơi bên
nhà tôi là phòng của Buckley, Lindsey và tôi, thì bên đó hắn để trống,
chẳng trưng bày gì. Hắn có một cái ghế tựa để thỉnh thoảng ngồi nhìn qua
cửa sổ hướng trường trung học, tiếng ban nhạc tập luyện từ sân cỏ vẳng
lại, nhưng phần lớn thời giờ hắn ở tầng trệt, phía sau nhà, ở trong bếp
để ráp nhà cho búp-bê, nghe đài phát thanh trong phòng khách, hoặc khi
nào hứng thì phác họa đồ cho những dự tính bệnh hoạn như căn hầm hoặc
túp lều.
Suốt nhiều tháng chẳng có ai quấy rầy gì hắn về vụ của
tôi. Mùa hè năm ấy họa hoằn lắm hắn mới lại thấy một chiếc xe tuần tra
chạy chầm chậm qua nhà tôi. Hắn khôn ngoan không thay đổi cung cách sinh
hoạt thường nhật. Nếu bất chợt lúc ấy hắn định ra nhà để xe hay thùng
thư, hắn vẫn điềm nhiên bước tới.
Hắn đặt nhiều đồng hồ reo báo
giờ. Cái thì báo giờ để hắn kéo mành mành, cái khác báo giờ để đóng. Sau
đó hắn bật hay tắt đèn đóm trong nhà. Thỉnh thoảng khi một cậu bé đi
qua mời mua một phong sôcôla hoặ đặt mua dài hạn tờ báo ra buổi chiều
Evening Bulletin, nhằm giúp gây quỹ cho một cuộc thi đua trong trường,
thì hắn tỏ ra thân thiện, nhưng ở mức quan hệ mua bán, không gây sự chú ý
nào.
Hắn cất giữ một số kỷ vật và hay đem chúng ra đếm. Việc đếm
đi đếm lại tạo cho hắn cảm giác an toàn. Đó là những thứ rất bình
thường. Chiếc nhẫn cưới, bức thư trong phong bì dán kín, một mẩu góp
giày, cặp mắt kính, viên tẩy có hình nhân vật trong truyện tranh, lọ
nước hoa con con, vòng đeo tay bằng nhựa, viên đá hộ mệnh - hình bang
Pennsylvania - của tôi, mặt dây chuyền bằng mã não của mẹ hắn. Đêm đêm,
đợi đến khuya khi chắc chắn sẽ không có trẻ bán báo hay người hàng xóm
nào đến gõ cửa, hắn đem chúng ra xem. Hắn đếm từng món như người ta lần
tràng hạt. Có vài món hắn đã quên tên chủ nhân. Nhưng tôi biết tên những
người ấy. Gót giày là của một bé gái tên Claire ở Nutley, bang New
Jersey, hắn đã dụ dỗ leo cửa sau lên chiếc xe thùng của hắn. Cô bé này
hơn tôi. (Tôi cứ muốn nghĩ rằng như mình thì chẳng đời nào dại mà nghe
lời leo lên một chiếc xe thùng, chẳng qua chỉ tại tôi hiếu kỳ muốn biết
hắn làm sao xây hầm mà không sập). Hắn lột gót giày của Claire rồi thả
cô bé đi. Ngoài ra không làm gì khác. Hắn dụ cô bé leo vô xe rồi tuột
đôi giày cô ra. Cô bé òa khóc, tiếng khóc xoáy vào óc hắn như đinh vít.
Hắn nài nỉ bảo cô bé nín và xéo đi cho rồi. Bé hãy đi chân trần mà leo
xuống xe, đừng than khóc nữa, còn giày thì hắn giữ lại đây. Nhưng cô bé
không chịu, cứ la khóc. Hắn lấy dao nhíp tìm cách tách phần gót khỏi
chiếc giày, tới lúc có người dộng rầm rầm vào thành xe. Hắn nghe tiếng
nhiều người đàn ông, rồi tiếng một người đàn bà la lối đòi gọi cảnh sát.
Hắn mở cửa xe.
“Ông làm trò gì với đứa bé vậy hả?” một người đàn
ông sừng sộ. Người bạn của ông này đỡ lấy cô bé đang vừa khóc lóc vừa
nhảy xuống xe.
“Tôi đang sửa giày cho nó đây mà”
Cô bé hoảng
loạn kể lể bù lu bù loa, còn tên Harvey thì tỏ ra là người bình tĩnh,
ôn tồn. Nhưng Claire cũng đã nhìn thấy như tôi - trĩu nặng trong ánh mắt
hắn - điều gì đó hắn muốn mà không nói ra được, và nếu được thỏa mãn
hắn sẽ kết liễu số phận của chúng tôi.
Nhân cơ hội mọi người còn
đang hoang mang chưa biết xử trí ra sao, vì không thể nhận thấy điều mà
Claire và tôi linh cảm được, Harvey ra vẻ vội vã, đưa chiếc giày cho một
người đàn ông rồi từ biệt đi luôn Hắn giữ lại cho mình chiếc gót. Hắn
thích cầm chiếc gót bọc da bé xíu này, và mân mê băng ngón tay cái và
ngón trỏ - một thức bùa hộ mệnh hoàn hảo cho hắn.
***
Tôi
biết cái góc tối nhất trong nhà mình nằm ở đâu. Tôi từng leo vào trốn
trong đó, tôi khoe với Clarissa là nấp suốt một ngày trời, nhưng thật ra
chỉ ở đó khoảng bốn mươi lăm phút thôi. Đó là một khoảng trống chỉ vừa
đủ để bò lom khom ở tầng hầm dưới nền nhà. Đó là chỗ mọi đường ống dẫn
điện và nước từ khắp nhà quy về, soi đèn pin thấy được, tưởng như có cả
tấn bụi trong đó. Chỉ có thế. Không có sâu bọ. Chỉ cần thấy vào con kiến
bò là mẹ tôi, giống hệt bà ngoại, lấy ống thuốc diệt côn trùng loại cực
mạnh xịt ngay.
Sau tiếng chuông đồng hồ báo giờ để hắn nhớ đóng
mành mành, tiếp đến chuông đồng hồ nhắc hắn tắt hầu hết đèn đóm - sau đó
khu ngoại ô này chìm trong giấc ngủ - tên Harvey sẽ xuống căn hầm xây
kín mít không để lọt ánh đèn, kẻo có ai thấy thì họ sẽ đồn là hắn quái
dị. Vào thời điểm trước và sau khi giết tôi, hắn không thích chui vào
chỗ trống dưới những ống dẫn điện nước, nhưng vẫn thích ở lâu dưới hầm,
ngồi trên một cái ghế đối diện với cái hốc tối từ khoảng lưng chừng
tường kéo tới tận lớp ván lót sàn bếp. Nhiều khi hắn ngồi lơ mơ rồi ngủ
quên dưới đó, và khi bố tôi đi ngang ngôi nhà sơn xanh này vào sáng sớm
quãng năm giờ kém hai mươi thì hắn cũng đang ngủ ở đấy.
Joe Ellis
là một thằng oắt con dữ tính và có thói chơi xấu. Ở hồ tắm nó lặn dưới
nước lén cấu véo tôi với Lindsey, làm chúng tôi đành bỏ không đi bơi nữa
vì ghét nó thậm tệ. Nó có một con chó mà nó cứ lôi bừa theo bất kể con
vật muôn hay không. Con chó còn nhỏ không chạy nhanh được, nhưng Ellis
mặc kệ. Cứ thế nó đánh và túm đuôi con chó xách ngược lên. Một ngày nọ
con chó biến mất, biến luôn cả con mèo mà có người thấy bị thằng Ellis
hành hạ. Sau đó chó mèo của toàn vùng lân cận dần dần biến đâu mất cả.
Khi
dõi theo hướng nhìn của Harvey trong cái hốc chật hẹp chỉ bò mới vào
được này, tôi phát hiện những con vật đã mất tích từ hơn một năm nay.
Người ta cứ tưởng chuyện này chấm dứt vì thằng con nhà Ellis bị gửi vào
trường thiếu sinh quân. Sáng sáng họ thả chó mèo ra, chiều tối chúng lần
về. Họ xem đó là bằng chứng rõ ràng. Không ai tưởng tượng nổi rằng
trong ngôi nhà màu xanh lục này có một kẻ mắc chứng thèm thuồng những
con vật đó. Người đó rải vôi sống lên xác chó mèo để rút ngắn thời gian
tiêu rã thịt da, sưu tập mớ xương. Bằng cách đếm xương và tránh không
động đến bức thư niêm kín, chiếc nhẫn cưới, lọ nước hoa, hắn cố gạt ra
khỏi tâm trí những việc hắn muốn làm nhất, đó lần mò leo cầu thang trong
bóng tối, ngồi vào chiếc ghế tựa, ngó về phía trường trung học, đó là
việc mường tượng ra những thân thể đang chuyển động dập dồn như sóng
theo nhịp reo hò của các hoạt náo viên đang hăng say cổ vũ trận bóng đá
tổ chức vào mùa thum hoặc đứng nhìn đám học trò trường tiểu học xuống xe
buýt tại trạm đỗ cách nhà hắn hai căn. Có lần hắn dõi mắt theo Lindsey
một lúc lâu, đứa con gái duy nhất trong đội bóng nam, vẫn chạy bộ quanh
khu này lúc trời đã sập tối.
Tôi đã rất khó khăn, đã mất nhiều
công sức để hiểu và tin rằng quả thật lần nào hắn cũng cố hết sức tự
kiềm chế bản năng mình. Hắn giết súc vật, hủy diệt những sinh vật cấp
thấp để kiềm giữ ham muốn ra tay hãm hại một đứa trẻ.
Vào tháng
tám, Len muốn xác định lại giới hạn trong quan hệ để được yên thân mình
những đồng thời cũng để giúp bố tôi. Bố tôi gọi điện tới đồn cảnh sát
liên tục khiến họ đâm ngán ngẩm và bực bội, việc này chẳng giúp tìm ra
thủ phạm mà chỉ làm họ ngày càng không ưa ông.
Cú điện thoại vào
tuần đầu tháng Bảy là giọt cuối cùng làm tràn ly nước. Bố tôi kể lể dông
dài với nhân viên trực máy điện chuyện con chó của ông trong một lần
dắt ra ngoài lúc sáng sớm cứ trì lại trước cửa nhà Harvey không chịu đi
tiếp, sủa ỏm tỏi. Họ kháo nhau ông Salmon kể rằng đã thử đủ mọi cách mà
con chó không chịu nhúc nhích cứ sủa liên hồi. Chuyện này trở thành
chuyện tiếu lâm ở đồn cảnh sát: ông họ nhà Cá và con chó Huckleberry.
Len
đứng trước hiên nhà tôi hút nốt điếu thuốc. Trời còn sớm nhưng độ ẩm
trong không khí cao hơn cả ngày hôm trước. Dự báo sẽ mưa suốt tuần, loại
mưa dông có sấm chớp đặc biệt của vùng này, nhưng lúc này cảm giác ẩm
ướt duy nhất Len có được là từ lớp mồ hôi nhớp nháp trên người ông. Lần
trước đến nhà tôi là lần cuối cùng ông thấy thoải mái.
Len nghe có
tiếng lao xao - giọng đàn bà - từ trong nhà vẳng ra. Ông ta dụi điếu
thuốc trên nền xi măng dưới bờ dậu rồi nhấc quả đấm bằng đồng thau nặng
chịch để gõ cửa.
Ông ta chưa kịp gõ thì cửa đã mở ra.
“Tại cháu ngửi thấy mùi thuốc lá,” Lindsey nói.
“Phải cháu vừa nói gì đó không?”
“Mấy chất độc hại đó sẽ giết chú cho mà xem.”
“Bố có nhà không cháu?”
Lindsey tránh sang bên, nhường lối.
“Bố ơi!” em gái tôi gọi với vào trong nhà. “Có chú Len!”
“Cháu mới đi đâu về à?” Len hỏi.
“Cháu vừa vào nhà.”
Em
gái tôi mặc áo thun loại để chơi bóng chày của Samuel và chiếc quần thể
thao lạ hoắc. Mẹ tôi vừa quở mắng nó vì về nhà với bộ quần áo không
phải của mình.
“Chú biết bố mẹ cháu hay lo, hễ cháu đi đâu là cứ ngóng.”
“Không chắc đâu,” Lindsey nói, “Cháu thì nghĩ hễ đi đâu khuất mắt thì ông bà còn mừng nữa là khác.”
Len biết nó nói đúng. Ông ta nhớ rõ những lần trước mẹ tôi không cáu gắt như thế.
Lindsey kể: “Em Buckley phong chú làm cảnh sát trưởng của thành phố nó xây dưới gầm giường của nó đấy.”
“Thế là chú thăng chức rồi.”
Hai
người nghe trên lầu tiếng chân của bố tôi và tiếng Buckley đang nài nỉ
gì đó. Lindsey biết rằng nó đòi gì thì rốt cuộc bố tôi cũng sẽ chiều.
Bố và em trai tôi bước xuống cầu thang, mặt mày tươi tắn.
“Chào anh Len,” ông nói và bắt tay Len.
“Chào anh Jack,” Len đáp. “Còn Buckley, sáng nay cháu khỏe không?”
Bố tôi nắm tay Buckley dẫn tới trước mặt Len. Ông ta trịnh trọng cúi hỏi nó.
“Chú nghe nói cháu phong chú làm cảnh sát trưởng.”
“Đúng thế ạ.”
“Chắc chú không xứng đáng ới chức này đâu.”
“Anh
xứng hơn người khác chứ,” bố tôi nói, vẻ hớn hở. Ông rất vui mỗi dịp
Len Fenerman ghé thăm. Mỗi lần ông ta đến bố tôi càng thêm tin tưởng
rằng có nhiều người đồng tâm nhất trí - có cả một nhóm người làm hậu
thuẫn cho ông - chứ ông không đơn độc trong chuyện này.
“Các cháu à, chú cần nói chuyện riêng với bố một lúc.”

