Bay trên tổ chim cúc cu - Chương 05 phần 2

Hai tên kia – tên lùn tì và tên cao lớn – đứng ngây người. Mụ Y
tá Trưởng phải búng ngón tay tanh tách chúng mới động đậy được. Chúng
tức thì lao tới lão Pete, tên bé cạnh tên lớn, nom như cái bóng tương
phản trong tấm gương thu nhỏ. Chúng đã sắp tới nơi thì đột nhiên hiểu ra
cái điều mà tên thứ nhất phải hiểu ra rồi – đó là lão Pete không hề
được lắp máy điều chỉnh như những người khác, rằng lão sẽ không nghe lời
chỉ vì nghe các mệnh lệnh cũng như các kiểu giật tay. Chỉ có thể bắt
lão như bắt gấu hoặc bò tót, mà một tên trong bọn chúng đã bị bẹp gí nơi
góc tường, thành ra công việc càng chẳng hay ho gì với chúng lắm.

Phát
hiện ra điều đó cùng lúc, bọn chúng đờ người ra trong cùng một tư thế -
cả đứa lớn, cả đứa bé – chân trái đặt lên trước, tay phải đưa lên, ở
ngay nửa đoạn đường giữa lão Pete và mụ Y tá Trưởng. Trước mặt chúng là
quả cầu gang đung đưa, sau lưng chúng là cơn thịnh nộ trắng bệch của mụ,
chúng run người lên, bốc khói và tôi nghe thấy cả tiếng các bánh răng
nghiến lên kin kít bên trong. Tôi thấy chúng co giật liên hồi, hệt như
chiếc ô tô khi tăng hết ga mà không nhả phanh.

Lão Pete đứng giữa
phòng, đung đưa bên sườn quả cầu gang, người gập cong vì sức nặng của
nó. Bây giờ thì tất cả đều nhìn lão ta. Lão đưa mắt liếc hết đứa lớn lại
đứa bé; nhận ra rằng chúng không định tới gần, lão liền quay về phía
bệnh nhân: “Các anh hiểu đấy, tất cả ở đây đều nhảm nhí cùng cực vô lý
cùng cực.”

Mụ Y tá Trưởng lặng lẽ tụt khỏi ghế và tiến tới cái giỏ
liễu ở cạnh cửa. “Vâng, vâng, ông Bancini,” mụ ta phụ họa. “Chỉ có điều
phải bình tĩnh…”

“Vô lý cùng cực và ngoài ra không gì hơn.” Giọng
của lão mất hết cái âm oang oang như đồng và trở nên căng thẳng, quyết
liệt, dường như lão còn rất ít thời giờ để nói. “Các anh hiểu cho, tôi
không đừng được… không thể. Tôi sinh ra đã là một cái xác chết. Còn các
anh thì không. Các anh không sinh ra là xác chết. Ôi, những năm thật là
đau khổ…”

Rồi lão khóc. Lão không thể nói ra được những lời muốn
nói. Lão mấp máy môi nhưng không thể thốt nên lời nào. Lão lắc lư đầu để
đẩy lời nói ra và chớp chớp đôi mắt nhìn đám Cấp tính.

“Ôi tôi nói… cho các anh… nói cho các anh.”

Lão
rũ người xuống và quả cầu gang cũng xẹp xuống bằng nắm tay bình thường.
Lão chụm các ngón tay lại, đưa ra phía trước, dường như muốn trao cái
gì cho các con bệnh.

“Tôi không thể làm gì hơn. Tôi sinh ra đã là
thai sẩy. Chịu bao nhiêu điều tủi nhục để rồi chết. Tôi sinh ra đã là
xác chết. Tôi không thể làm gì hơn. Tôi mệt mỏi. Đầu hàng. Các anh còn
có hy vọng. Tôi chịu biết bao nhiêu tủi nhục đến nỗi phải chết. Các anh
thật dễ dàng. Tôi sinh ra là xác chết nên phải sống thật là cơ cực. Tôi
mệt. Tôi mệt vì nói và đứng. Tôi là người chết đã năm mươi lăm năm nay.”

Mụ
Y tá Trưởng xuyên qua suốt gian phòng, tiêm cho ông lão, mũi kim đâm
qua cả chiếc quần xanh. Mụ lùi phắt lại, không thèm rút cả kim tiêm ra
nên cái ống tiêm vẫn dính trên quần nom như cái đuôi nhỏ bằng thủy tinh
và thép; còn lão Pete càng ủ rũ hơn, càng gục đầu về phía trước, không
phải vì bị tiêm mà vì mệt mỏi, những phút cuối cùng đã vĩnh viễn vắt
kiệt sức lực của lão – chỉ cần nhìn cũng thấy rõ rằng lão đã tận số.


thế mũi tiêm là thừa, cái đầu lão cứ thế lắc lư, còn đôi mắt mờ đục mãi
đi. Lúc mụ Y tá Trưởng đến để rút kim tiêm ra thì lão đã quỵ xuống đến
mức nước mắt rơi ngay trên sàn nhà, không chảy trên mặt; đầu lão lắc lắc
làm cho nước mắt vung ra tứ phía, nom như lão đang gieo những giọt nước
mắt. “Ôi!” Lão kêu lên. Và thậm chí không hề rùng mình khi kim tiêm rút
ra.

Lão đã quay trở về cuộc sống có lẽ chừng một phút để nói với
chúng tôi điều gì đó, nhưng chúng tôi một phần không muốn nghe, một phần
chẳng buồn suy nghĩ, và cố gắng đó đã làm lão quỵ. Mũi tiêm ở mông lão
hoàn toàn vô ích, như thể tiêm cho một người chết – tim không còn bơm nó
đi, mạch không còn truyền lên đầu, và bộ não không còn để mà chịu tác
động gì từ chất thuốc trong đó. Chẳng khác gì mụ tiêm vào cái xác mục
rỗng.

“Tôi… mệt…”

“Nào. Nếu hai anh có can đảm thì hãy đưa ông Bancini đi. Ông ta sẽ ngủ yên đấy.”

“… mệt kinh khủng.”

“Bác sĩ Spivey! Hộ lý Williams đã tỉnh. Cứu chữa cho anh ta đi nhé. Anh ta bị gãy tay và vỡ đồng hồ.”

Sau
đó và sau này nữa, lão Pete sẽ không bao giờ còn làm nên một chuyện như
vậy. Giờ đây mỗi khi ông lão bắt đầu làm ồn trong cuộc họp, người ta vỗ
về lão và lão yên ngay. Đôi lúc vẫn như xưa, lão đứng dậy, lắc đầu và
kêu rằng lão mệt nhưng đó không còn là lời trách móc, lời thú nhận hay
lời cảnh cáo – tất cả đã kết thúc; việc đó giống như một cái đồng hồ cũ
không còn chỉ được thời gian nữa nhưng vẫn chạy, với những chiếc kim
cong queo, các chữ số nhàn nhạt còn tiếng chuông thì tắt ngấm vì han gỉ,
cái đồng hồ cũ vô tích sự, tuy vẫn kêu tích tắc và khe khẽ, nhưng đã
chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Cả nhóm thi nhau đấu tố Harding bất hạnh đến tận hai giờ.

Đến
hai giờ, gã bác sĩ bắt đầu cựa quậy trên ghế. Trong cuộc họp, nếu không
được thuyết trình gã không chịu nổi; thà gã ngồi nhà mà vẽ đồ thị còn
hơn Gã cựa quậy không yên, cuối cùng ho khục khặc khi đó mụ Y tá Trưởng
nhìn đồng hồ và bảo rằng ngày mai chúng tôi sẽ tiếp tục tranh luận vào
lúc một giờ, còn bây giờ hãy mang bàn từ phòng tắm trở lại. Tụi Cấp tính
nhất loạt thoát ra khỏi trạng thái đờ đẫn, đưa mắt nhìn trộm Harding.
Mặt mũi chúng đỏ rực lên vì ngượng, dường như giờ đây mới hiểu rằng thêm
một lần nữa chúng bị người ta dắt mũi. Một số đi qua hành lang vào
phòng tắm lấy ghế, một số lê bước tới giá sách chăm chú xem mấy số tạp
chí McCall’s cũ, nhưng thực ra chỉ muốn tách ra xa Harding. Một
lần nữa người ta lại xúi giục chúng chống lại bè bạn, hỏi như hỏi cung,
như thể Harding là tội phạm, còn chúng là các công tố viên, quan tòa và
thẩm phán. Bốn mươi lăm phút, chúng như muốn xé nát hắn ra, thậm chí
còn vui sướng, hỏi hắn nào là, Hắn nghĩ có vấn đề gì nếu hắn không làm
thỏa mãn người vợ yêu của hắn? Tại sao hắn lại cố sống cố chết cãi rằng
vợ hắn không bao giờ quan hệ với đàn ông? Hắn hy vọng khỏi bệnh bằng cách nào, nếu không trả lời thành thực?
Bây giờ chính bọn chúng cũng phát tởm lợm vì những câu hỏi và những lời
ám chỉ của mình, do đó chúng không muốn đến gần hắn để phải xấu hổ hơn.

Cặp
mắt của McMurphy không ngừng dõi theo tất cả những chuyện đó. Hắn không
đứng dậy. Bộ dạng của hắn như đang nghiền ngẫm điều gì. Hắn vẫn tiếp
tục ngồi trong ghế bành, theo dõi lũ bệnh nhân Cấp tính, gại gại cỗ bài
vào bộ râu rễ tre hung hung dưới cằm, cuối cùng đứng lên, vươn vai ngáp
dài, cào cào cạnh các quân bài gãi rốn, sau đó bỏ bài vào túi và bước
tới bên Harding đầm đìa mồ hôi đang ngồi lẻ loi cô độc.

Hắn nhìn
harding một phút, sau đó tóm lấy cái ghế bên cạnh, quay lưng ghế lại
phía Harding, ngồi lên đó như là cưỡi ngựa. Harding vẫn không hề hay
biết. McMurphy vỗ vỗ vào túi tìm thuốc lá, rút ra một điếu và châm lửa;
hắn giơ điếu thuốc lên trước mặt đăm đăm nhìn, rồi liếm ngón tay và
chỉnh lại điếu thuốc theo ý thích.

Hai người có vẻ không để ý
nhau. Tôi thậm chí không thể hiểu Harding có nhận ra McMurphy không.
Harding hầu như đã hoàn toàn thu mình vào giữa đôi vai, như đôi cánh màu
xanh, và ngồi ngay đơ trên mép ghế, tay nhốt giữa hai đầu gối. Hắn nhìn
bâng quơ ra phía trước, lẩm nhẩm hát, cố tỏ ra bình tĩnh, song hắn đang
cắn phía bên trong hai má làm chúng hóp lại, tạo ra một nụ cười đầu lâu
nhăn nhở, nom càng thảm hại hơn.

McMurphy lại cắm điếu thuốc vào
răng, khoanh tay trên lưng ghế rồi kê cằm lên đó, nheo nheo một mắt vì
khói thuốc. Một mắt hắn nhìn Harding rồi bắt đầu nói, điếu thuốc vẫn
nhảy tưng tưng trên môi:

“Này, chú em, ở đây vẫn thường xuyên diễn ra các buổi họp như vậy sao?”

“Thường xuyên?” Harding ngừng hát, và cũng không cắn má nữa nhưng vẫn nhìn bâng quơ ra phía trước qua vai McMurphy.

“Ở đây những cuộc đấu tố vẫn thường xuyên diễn ra theo hình thức này phải không? Cái thứ gà vịt mổ nhau trong sân gia cầm?”

Harding
vụt quay đầu và cặp mắt hắn chạm phải McMurphy, dường như bây giờ mới
nhận ra có người ngồi trước mặt mình. Hắn lại hóp má vào, mặt như bị đứt
ngang ở giữa, có thể tưởng tượng rằng hắn đang cười. Hắn xuôi vai ngồi
ngả người ra thành ghế và làm bộ bình tĩnh.

“Gà vịt mổ nhau trong
sân gia cầm à? Tôi sợ rằng cái ẩn dụ kỳ cục của ngài đã dùng không đúng
chỗ. Tôi hoàn toàn không hiểu ngài đang nói gì?”

“À, thế thì qua
sẽ giải thích cho chú em.” McMurphy cao giọng; hắn không nhìn những bệnh
nhân Cấp tính khác nhưng rõ là cốt nói cho cả họ nghe. “Nếu đàn gà nhận
thấy có vệt máu ở một con, chúng liền xúm vào mổ và mổ cho đến tóe máu, tan xương con đó ra. Thường thường trong đám hỗn loạn đó, một vệt máu lại xuất hiện trên con khác
thế là lại đến lượt con vật đó. Sau đó các con khác lại có máu và chúng
cũng bị mổ cho đến chết. Cứ vậy trong vòng vài giờ cả bầy gà vịt đi
tong, qua đã chính mắt nhìn thấy, chú em ạ. Một cảnh cực kỳ đáng nhìn.
Còn nếu như muốn cản lại thì chỉ có mỗi việc là bịt mắt chúng để chúng
không nhìn thấy gì nữa.”

Harding đan các ngón tay dài trên đầu
gối, thu gối lại ngả người ra sau ghế. “Sân gia cầm. Một ví von thú vị,
thực tế, anh bạn ạ!”

“Đó chính là điều qua nhớ lại khi dự cuộc hộp
của tụi bay, nếu chú muốn biết cái sự thật khó chịu ấy. Thật giống hệt
một đàn gà bẩn thỉu.”

“Có nghĩa tôi là con gà có vệt máu, hả?”

“Thì còn ai nữa?”

Chúng
vẫn cười với nhau như trước nhưng cái giọng của chúng trở nên nhỏ, căng
đến nỗi tôi phải lại gần quét dọn để nghe được rõ. Các bệnh nhân Cấp
tính khác cũng tiến tới gần hơn.

“Thế chú em có muốn biết một điều khác nữa không? Có muốn biết cú mổ đầu tiên là của ai không?”

Harding chờ hắn tiếp tục.

“Của mụ y tá! Thế đấy.”

Tiếng
rú sợ hãi rít lên trong im lặng. Tôi nghe thấy máy móc trong tường bắt
được tín hiệu và bắt đầu làm việc. Harding khó khăn lắm mới giữ nổi hai
tay như cũ, nhưng hắn cố gắng giữ bình tĩnh.

“Té ra là đơn giản
vậy đấy,” Hắn nói. “Đơn giản đến mức ngu xuẩn. Ngài mới ở trong phân
khoa có sáu tiếng đồng hồ mà đã giản lược được thực chất công việc của
Freud, Jung và Maxwell Jones và tóm gọn lại trong một cái ví von: gà vịt
mổ nhau trong sân gia cầm.”

“Qua không nói về Fred Yoong và
Maxwell Jones. Qua nói về cuộc họp của tụi bay, qua nói về việc mụ y tá
và đám chết tiệt kia đã hành chú em như thế nào, đến nơi đến chốn.”

Hành tôi ư?”

“Đúng, đúng, hành.
Người ta đã rửa ruột cho chú em, cạo trắng đuôi và bờm chú em. Chú em
đã làm cái gì mà rước lấy cả đàn kẻ thù thế, bởi có cả đàn bám gót chú
em.”

“Không, thật không thể tin nổi! Ngài hoàn toàn không đếm xỉa
đến, không chịu hiểu rằng họ làm tất cả những việc đó là vì tôi! Không
chịu hiểu rằng tất cả mọi cuộc bàn cãi, mọi câu hỏi do các nhân viên
hoặc bà Ratched đưa ra đều hoàn toàn nhằm mục đích chữa bệnh. Ngài chắc
không thèm nghe một lời nào trong bài phát biểu của bác sĩ Spivey về lý
thuyết Cộng đồng Trị liệu, hoặc nếu có lắng nghe chăng nữa thì do không
đủ tri thức nên ngài không thể hiểu được. Tôi hoàn toàn thất vọng. Sáng
nay, khi chúng ta làm quen với nhau ngài tỏ ra thông minh hơn. Vâng, có
thể ngài là một thằng ngốc mù chữ, chính xác hơn, một kẻ khoác lác quê
mùa và vô cảm như ngỗng, nhưng bản chất vẫn là thông minh. Tuy nhiên
không ngoại trừ trường hợp sự phán đoán vẫn thường đúng đắn và sâu sắc
của tôi lần này cũng có hơi nhầm lẫn.”

“Cút cha mày đi, chú em ạ.”

“À
vâng, tôi quên nói rằng tính thô lỗ bẩm sinh của ngài cũng đã đập vào
mắt tôi. Thái nhân cách cộng thêm xu hướng ưa tàn ác, dựa trên căn bản
là lòng ái kỷ mù quáng. Vâng, như ngài thấy, tất cả tài năng thiên bẩm
đó hiển nhiên sẽ làm ngài trở thành một điều trị viên tài giỏi và ban
cho ngài đủ khả năng để chỉ trích hệ thống của bà Ratched, cho dù bà là
một y tá thần kinh có tiếng và đã có hai mươi năm trong nghề. Vâng, với
tài năng của ngài, thưa ngài, ngài có thể sáng tạo ra bao điều kỳ diệu
trong lĩnh vực tiêm thức, an ủi được cái vô thức khốn khổ, chữa khỏi cái
siêu thức đang quằn quại. Có lẽ ngài sẽ chữa được cho cả khoa, cả tụi
Thực vật và những loại khác, chỉ cần sáu tháng thôi, thưa quý bà quý
ông, nếu không xin hoàn tiền lại.”

McMurphy không tranh cãi, chỉ
nhìn Harding và cuối cùng hỏi, giọng bình tĩnh. “Thế chú em thực sự nghĩ
rằng những buổi họp như của khỉ hôm nay chữa được cho ai đó hoặc mang
lại lợi ích gì chăng?”

“Nếu không thì chúng ta tham dự làm gì,
thưa ngài thân mến. Nhân viên bệnh viện cũng mong chúng ta khỏe mạnh
không kém gì chúng ta. Họ không phải là những kẻ dã man. Cứ cho bà
Ratched là một phụ nữ nghiêm khắc và không còn trẻ nữa, nhưng bà ta hoàn
toàn chẳng phải là một quái vật trong sân gia cầm chỉ chực mổ vào mắt
chúng ta. Chắc ngài không nghi ngờ bà ta điều đó?”

“Điều đó thì không. Bà ta không mổ vào mắt các chú em, chú em ạ. Bà ta không mổ cái đó.”

Harding
rùng mình và tôi thấy hai tay của hắn kẹp giữa đầu gối bắt đầu bò ra
như hai con nhện trắng giữa hai khúc cây mốc meo, dọc lên đến điểm hai
khúc cây nhập một.

“Không phải vào mắt?” Hắn hỏi. “Thôi xin ngài, thế bà Ratched mổ vào cái gì?”

McMurphy nhếch mép cười. “Thế chú em không biết sao?”

“Tất nhiên, tôi không biết! Nhưng nếu ngài…”

“Hòn dái của chú em đấy, chú em ạ, vào hai hòn dái vàng ngọc của chú em.”

Hai
con nhện đã tới giao điểm hai thân cây và dừng lại ở đấy mà run rẩy.
Harding cố cười, mặt và môi hắn trắng bệch ra đến nỗi không nhìn ra nụ
cười nữa. Hắn nhìn trừng vào McMurphy. McMurphy rút điếu thuốc khỏi
miệng và nhắc lại.

“Vào chính hòn dái của chú em. Không, chú em,
bà y tá của các chú em chẳng phải con quái vật gà gì đâu, bà ta là kẻ
cắt dái. Qua đã thấy hàng nghìn người như vậy, cả già, cả trẻ, đàn ông,
đàn bà. Qua đã thấy cả trên đường phố lẫn trong nhà – những người đó
muốn làm cho chú em yếu ớt đi để dễ bề giam cần chú em trong khuôn khổ,
thực hiện các quy tắc của họ, sống như họ sai khiến. Nhưng thực hiện
việc đó thế nào để có hiệu quả nhất, làm thế nào để trói buộc chú em?
Chỉ có cách đánh chú em vào chỗ đau nhất. Đã bao giờ trong khi gây lộn
có kẻ thúc gối vào háng chú em chưa? Cứ như la chặt ngang người, đúng
không? Không gì đau hơn. Không còn một tí sức lực nào nữa. Nếu cái đứa
chống lại chú em muốn thắng chú em không phải do nó khỏe hơn mà bằng
cách làm cho chú em yếu đi, lúc đó chú em cần theo dõi đầu gối của nó,
nó sẽ đánh vào chỗ đau nhất đấy. Thế đấy, cái con chim ăn xác thối già
cỗi của các chú em đang làm như vậy đấy, đánh vào chỗ đau nhất.”

Mặt
Harding vẫn trắng bệch như cũ, nhưng hắn đã kiểm soát được hai bàn tay,
chúng mơ hồ vung lên trước mặt hắn xua xua những lời của McMurphy:

“Bà
Ratched đáng yêu của chúng ta? Mẹ Ratched nhỏ bé dịu hiền của chúng ta,
thiên thần tốt bụng ấy, lại là kẻ cắt dái ư? Hoàn toàn không thể thế được, anh bạn ạ!”

“Qua
không cần lời ca về bà mẹ nhỏ bé dịu hiền đó đâu, chú em! Có thể mụ ta
là mẹ thật nhưng mụ bự như cái máy ủi và sắt đá như là cái búa tạ ấy. Và
hôm nay, bằng cái tiết mục mẹ già phúc hậu đó, mụ đã đánh lừa được qua
khoảng ba phút khi qua tới đây đấy, nhưng không hơn. Và qua cũng không
nghĩ rằng mụ đã thực sự dắt mũi được ai trong số các chú em dù là một
năm hay nửa năm. Ôi, qua đã thấy bao nhiêu là chó cái trong đời mình,
nhưng đây là con gian xảo hơn cả.”

“Chó cái à? Nhưng một phút
trước đây bà ta còn là kẻ cắt dái, sau đó lại là con chim ăn xác thối…
hay là gà mái xề? Những so sánh của ngài thật là cứ choảng nhau lung
tung cả lên.”

“Thì cứ kệ cha chúng. Mụ vừa là chó cái và là chim
ăn xác thối và là kẻ cắt dái. Chẳng phỉnh phờ qua được đâu, chú hẳn biết
là qua đang nói về cái gì.”

Hai tay và bộ mặt của Harding càng
biến đổi nhanh hơn: cử chỉ, điệu cười mát, vẻ vờ vịt thay đổi liên tục
như trong phim chiếu nhanh. Hắn càng cố gắng dừng lại thì chúng càng
biến đổi nhanh hơn. Khi hắn cho phép chúng chuyển động thoải mái, không
kiềm chế, thì cử chỉ và nét mặt của hắn chuyển động theo những đường đẹp
mắt là khác, nhưng khi hắn nghĩ đến chúng, cố gắng kiềm chế chúng theo ý
muốn thì hắn biến thành một con rối đang bị giật dây nhảy một điệu
hoang dại. Hắn ngày càng giật cục nhanh hơn và giọng nói cũng gấp gáp
không kém.

“Hãy nghe đây, ngài McMurphy, bạn thân và đồng nghiệp
thần kinh của tôi, bà Ratched của chúng ta là một thiên thần tốt bụng
thực sự, điều đó tất cả đều biết. Bà ta vô tư như ngọn gió,
ngày này qua ngày khác làm công việc nhọc nhằn của mình vì tập thể năm
hôm liền trong một tuần. Để làm được điều đó, bạn thân mến ạ, cần phải
có lòng dũng cảm, rất dũng cảm. Ngoài ra, tôi còn được biết từ những
nguồn tin cậy; tôi không được phép tiết lộ những người ấy nhưng có thể
cho biết Martini cũng có quan hệ với họ suốt một thời gian dài – rằng
trong những ngày nghỉ bà ta vẫn tiếp tục phục vụ nhân loại,
thực hiện các công tác xã hội trong thành phố, không lấy tiền công. Bà
ta chuẩn bị các loại quà tặng đắt tiền – đồ hộp, pho mát chua, xà phòng –
và đem tặng đôi vợ chồng nghèo nào đó đang trong thời kỳ gặp khó khăn.”
Hai tay hắn loa lên trong không khí vẽ nên bức tranh như sau: “Ôi các
ngài hãy nhìn xem. Bà ấy đấy, người chị của chúng ta đấy. Bà nhẹ nhàng
gõ cửa. Cái giỏ bọc trong tấm lụa điều. Đôi vợ chồng trẻ tê dại đi vì
sung sướng. Chồng há hốc mồm, vợ khóc nấc lên, không giấu giếm. Bà nhìn
căn phòng của họ. Bà hứa sẽ gửi tiền cho họ để mua… xà phòng bột, phải.
Bà đặt cái giỏ xuống giữa phòng. Và khi thiên thần của chúng ta đi ra;
với những cái hôn gió và nụ cười thánh thiện – bà đã say lảo đảo vì sữa
ngọt của tình hữu ái nồng cháy tạo thành trong bộ ngực vĩ đại của mình,
bà choáng váng vì lòng độ lượng. Bà đã choáng váng, các ngài có
nghe thấy không? Dừng lại trên ngưỡng cửa, bà còn gọi lại người vợ trẻ
đang ngượng ngùng, đưa cho cô ta hai mươi đô la từ chính hầu bao của
mình: ‘Hãy đi mua lấy một chiếc áo đàng hoàng mà mặc, cháu gái nghèo nàn, bất hạnh của ta ạ. Ta biết chồng
cháu chẳng thể nào đủ tiền để làm việc đó. Đây tiền cho cháu đây, cầm
lấy và đi mua áo đi.’ Và đôi vợ chồng trẻ biết ơn bà suốt đời vì hành
động hào hiệp đó.”

Hắn nói mỗi lúc một nhanh, các dây thanh đới
căng ra trong họng. Rồi hắn thôi, trong phòng yên lặng như chết. Tôi
chẳng còn nghe thấy một tiếng động nào ngoài tiếng sột soạt của băng từ
quay đâu đó. Có lẽ, người ta đang ghi tất cả vào băng.

Harding
nhìn quanh, thấy mọi người đang nhìn mình bèn rặn ra một tiếng cười.
Tiếng cười nghe cứ như tiếng người ta nhổ đinh ra khỏi tấm gỗ thông tươi
– iii – iii – iii. Hắn nheo nheo đôi mắt vì cái tiếng kêu the thé đó,
nhưng không thể ngừng được. Tiếng cười cứ vang lên the thé, và cuối cùng
hắn nấc lên. Hắn gục đầu xuống lòng bàn tay.

“Đồ chó cái, chó cái, chó cái.” Hắn lẩm bẩm qua kẽ răng.

McMurphy
châm điếu thuốc nữa và chìa ra cho hắn. Harding cầm lấy không nói một
lời. McMurphy tiếp tục quan sát bộ mặt Harding một cách ngạc nhiên, chăm
chú, tựa như lần đầu tiên trong đời nhìn thấy mặt người. Hắn vẫn nhìn
đến lúc Harding dần dần thôi co giật và cuối cùng chậm chạp ngẩng đầu
lên.

“Ngài nói đúng,” hắn gật đầu, “từ đầu chí cuối.” Hắn đưa mắt
nhìn các con bệnh khác. Tất cả đều đang nhìn hắn. “Chưa có ai dám cả gan
nói điều đó, nhưng không ai trong chúng tôi không nghĩ như ngài, không
giấu giếm tình cảm đó trong tâm hồn sợ hãi của mình về bà ta và toàn bộ
chỗ này.”

McMurphy cau mày hỏi, “Thế cái gã bác sĩ làm quái gì ở
đây? Hắn ta có thể hơi đần, nhưng phải nhìn thấy mụ ta làm gì và đang
quay mọi người như thế nào ở đây chứ!”

Harding rít một hơi thật
dài và phà khói ra mà nói, “Bác sĩ Spivey… cũng giống như chúng tôi: ông
ta thừa biết sự kém cỏi của mình. Cái chú thỏ đáng thương, khiếp nhược,
bất lực đó hiểu rằng mình không có khả năng lãnh đạo khoa nếu
không có bà Ratched giúp sức. Khốn nạn hơn nữa, bà ta cũng hiểu rằng ông
ta hiểu điều đó và cứ có dịp là lại nhắc ông ta. Ngài hãy tưởng tượng,
hễ tìm ra một sơ suất nào trong sổ tay hay trong các biểu đồ là bà ta
lập tức gí mũi ông ta vào đó.”

“Đúng đấy!” Đó là Cheswick đang bước tới. “Bà ta cứ gí mũi chúng tôi vào những sai lầm của chúng tôi.”

“Thế sao ông ta không đuổi bà ta đi?”

“Trong
cái bệnh viện này, bác sĩ không có quyền thuê và đuổi việc.” Harding
nói. “Chỉ có thanh tra làm điều đó. Còn thanh tra lại là một phụ nữ, bạn
cũ của bà Ratched; trong những năm ba mươi họ cùng làm y tá trong quân
đội. Chúng ta là vật hy sinh cho chế độ mẫu hệ, anh bạn ạ, và ông bác sĩ
cũng bất lực như chúng ta. Ông biết rằng, bà ta chỉ cần nhấc ống điện
thoại, mà ngài thấy ở ngay cạnh tay bà ta đấy, gọi cho bà thanh tra và
trong lúc nói chuyện buông ra một câu, ví dụ như, ông bác sĩ dạo này
hình như yêu cầu nhiều Demerol quá…”

“Khoan, Harding, qua không hiểu hóa học.”

“Demerol
là một loại ma túy tổng hợp, anh bạn ạ, và gây ra hiệu ứng nhanh gấp
hai lần so với heroin. Phần lớn giới bác sĩ đều dính nó.”

“Chẳng nhẽ tay bác sĩ này nghiện xì ke?”

“Tôi chẳng biết.”

“Thế làm sao kết tội ông ta…”

“Ngài không chú ý nghe, anh bạn ạ. Bà ta không kết
tội. Bà ta chỉ cần ám chỉ, thế thôi, ngài có hiểu không. Hôm nay ngài
không nhận thấy gì à? Gọi một người đến, bắt đứng ở cửa phòng trực và
hỏi sao người ta lại tìm thấy giấy Kleenex dưới giường anh ta. Chỉ hỏi
thế thôi. Và thế là kẻ đáng thương sẽ cảm thấy mình không thành thực, dù
hắn có bảo gì. Nếu nói là để lau bút máy thì bà ta nói: ‘Hiểu rồi, để
lau bút máy,’ còn nếu hắn ta bị sổ mũi thì: ‘Hiểu rồi, bị sổ mũi hả,’
rồi bà ta gật cái đầu chải cẩn thận, nở một nụ cười cũng cẩn thận như
thế, quay gót vào phòng kính, còn con bệnh thì sẽ đứng đấy mà nghĩ không
hiểu hắn đã làm với tờ giấy lau ấy.”

Harding lại rung người lên và hai vai gập lại.

“Không, bà ta buộc tội làm gì. Bà ta là thiên tài về ám chỉ. Hôm qua ngài có nghe bà ta buộc tội một lần nào
không, trong buổi họp? Thế mà dường như tôi bị buộc cho hàng lô tật
xấu, ghen tuông, hoang tưởng, bị buộc cho tội không làm thỏa mãn vợ, có
quan hệ với đám bạn đàn ông, tội cầm điếu thuốc một cách điệu bộ, thậm
chí, theo cảm tưởng của tôi, cả tội giữa hai chân tôi không có gì ngoài
một dúm lông, mà là dúm lông con con, trăng trắngmềm mềm như tơ! Con mụ cắt dái ấy à? Ô, ngài chưa đánh giá hết mụ ta!”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.