Những đêm ở Rodanthe - Chương 13 - 14

CHƯƠNG 13

Trong bếp, Amanda nhìn mẹ mình không chớp.

Cô chưa hề nói một lời từ khi Adrienne bắt đầu câu chuyện
của mình mà đã uống hết hai ly rượu, ly thứ hai hơi nhanh hơn ly đầu. Lúc này
không ai trong hai người lên tiếng, và Adrienne có thể thấy sự mong chờ hồi hộp
của con gái khi đợi nghe phần tiếp theo.

Nhưng Adrienne không thể kể cho Amanda nghe về chuyện đó, và
nàng cũng không cần kể. Amanda đã là một người phụ nữ trưởng thành, con bé biết
ân ái với một người đàn ông có nghĩa là gì. Con bé cũng đã đủ tuổi để biết rằng
dù đó là một phần tuyệt diệu trong cuộc khám phá lẫn nhau của hai con người, nó
cũng vẫn chỉ là một phần mà thôi. Nàng yêu Paul, và nếu anh không có ý nghĩa
với nàng nhiều đến thế, thì kỳ cuối tuần đó đã chỉ đơn thuần mang ý nghĩa thể
xác, và sẽ chẳng có gì để ghi nhớ hơn một vài khoảnh khắc thỏa mãn, chỉ đặc
biệt vì nàng đã cô đơn trong một thời gian dài. Tuy nhiên, điều họ chia sẻ với
nhau là những cảm xúc đã bị chôn chặt quá lâu, những cảm xúc chỉ dành cho hai người,
và chỉ riêng hai người họ mà thôi.

Hơn nữa, Amanda là con gái nàng. Có thể nàng cổ hủ, nhưng
nàng vẫn thấy chia sẻ chi tiết về chuyện đó là một điều không thích hợp. Một số
người có thể nói về những chuyện đó, nhưng Adrienne không bao giờ hiểu được làm
sao họ lại làm được vậy. Nàng luôn luôn nghĩ rằng phòng ngủ là nơi của những bí
mật chỉ có thể sẻ chia giữa hai người trong cuộc.

Mà dù có muốn kể, nàng biết mình sẽ không thể tìm được lời.
Làm sao nàng có thể diễn tả cảm giác khi anh bắt đầu cởi cúc áo nàng, hay những
cơn rùng mình chạy khắp cơ thể khi anh lướt ngón tay dọc theo bụng nàng? Hay về
hơi ấm của da thịt khi cơ thể họ áp vào nhau? Hay cảm giác của khoang miệng khi
anh hôn nàng và cảm giác của nàng khi nàng ấn mạnh các ngón tay mình vào da anh?
Hay tiếng thở của hai người dồn dập lên khi họ bắt đầu hòa làm một?

Không, nàng sẽ không nói về những điều đó. Nàng sẽ để con
gái nàng tự tưởng tượng chuyện đã xảy ra, vì Adrienne biết rằng chỉ có trí
tưởng tượng mới có thể bắt được một phần nhỏ nhất điều kỳ diệu nàng cảm thấy
trong vòng tay Paul.

“Mẹ à!”
Cuối cùng Amanda thì thầm.

“Con muốn biết chuyện gì đã xảy ra ư?”

Amanda khó khăn nuốt nước bọt.

“Phải.” Đó là từ duy nhất Adrienne có thể nói.

“Ý mẹ là...”

“Phải,” nàng nhắc lại.

Amanda nhấp một ngụm rượu. Cô vừa tự trấn tĩnh, vừa hạ ly
xuống bàn. “Rồi?...”

Adrienne ngả về phía trước, như thể không muốn để ai nghe
trộm được.

“Phải,” nàng thầm thì, và với câu nói đó, nàng liếc nhìn
sang bên, tâm trí lùi trở về quá khứ.

Họ đã ân ái vào chiều hôm đó, và dành cả phần ngày còn lại
trên giường. Khi cơn bão đang lồng lộn bên ngoài – cây cối bật gốc và bị gió
quật xô nhau đập vào căn nhà – Paul ôm nàng trong lòng, áp môi vào má nàng, cả
hai hồi tưởng lại quá khứ và cùng nhau nói về những ước mơ cho tương lai, cùng
thắc mắc về những suy nghĩ và cảm xúc lạ thường đã dẫn họ đến thời khắc này.

Đó là một trải nghiệm mới cho cả nàng lẫn Paul. Trong những
năm cuối của cuộc hôn nhân giữa nàng và Jack – có thể là hầu hết cả cuộc hôn
nhân, nàng thầm nghĩ – lần nào họ làm tình cũng đều hời hợt, nhanh chóng với
cảm giác đam mê ngắn ngủi, thiếu sự dịu dàng và không hề gây rung động. Và sau
đó họ hiếm khi nói chuyện vì Jack thường quay lưng lại ngủ thiếp đi chỉ trong
ít phút.

Paul không chỉ ôm nàng hàng giờ sau đó, mà vòng tay dịu dàng
của anh còn khiến nàng biết rằng việc này cũng có ý nghĩa với anh như sự gần
gũi về thể xác họ vừa sẻ chia. Anh hôn lên tóc và lên mặt nàng, và mỗi lần ve
vuốt một phần nào đó trên cơ thể nàng, anh lại khen nàng đẹp và nói rằng anh
yêu nàng bằng một cách nói trang nghiêm và chắc chắn khiến nàng nhanh chóng
nghiện được nghe.

Vì các cửa sổ đã đóng ván kín, họ không biết rằng bầu trời
đã chuyển sang mờ đục rồi đến một màu đen đầy giận dữ. Các đợt sóng bị gió đánh
xô vào đụn cát và cuốn nó đi xa, nước dâng lên đến tận chân căn Nhà Nghỉ. Cột
ăng ten trên nóc nhà đã bị thổi bay và rơi xuống tận đầu kia của hòn đảo. Cát
và nước mưa đã tìm được đường lọt vào nhà qua khung cửa hậu khi cánh cửa rung
lên trong sức mạnh của cơn bão. Điện mất vào khoảng đầu giờ sáng. Họ làm tình
lần thứ hai trong bóng tối tuyệt đối, chỉ dựa vào đụng chạm, và cuối cùng khi
kết thúc, họ ngủ thiếp đi trong vòng tay nhau trong khi mắt bão đi qua
Rodanthe.

CHƯƠNG 14

Khi thức dậy vào sáng thứ Bảy, họ đã đói ngấu, nhưng vì đang
mất điện và cơn bão chậm chạp yếu đi, Paul mang cả thùng làm lạnh lên phòng và
họ ăn ngay trên chiếc giường ấm cúng, khi thì cười đùa khi thì nghiêm túc, hết
trêu chọc nhau rồi lại im lặng, cùng nhấm nháp tận hưởng khoảnh khắc bên nhau.

Vào buổi trưa, gió đã yếu đi đủ để họ ra ngoài hiên đứng.
Bầu trời trên đầu họ đã bắt đầu quang đãng, nhưng bờ biển tan hoang đầy mảnh
vỡ: lốp xe cũ cùng các bậc thềm bị cuốn trôi từ những ngôi nhà xây quá gần mép
nước và bị mắc vào nước triều dâng. Không khí đã ấm dần lên, dù vẫn quá lạnh khó
có thể đứng ngoài nếu không mặc áo khoác, nhưng Adrienne vẫn tháo găng tay để
có thể cảm nhận bàn tay Paul trong tay mình.

Khoảng hai giờ, điện nháy sáng rồi lại tắt, cuối cùng sau
hai mươi phút, điện đã trở lại hẳn. Đồ ăn trong tủ lạnh vẫn chưa hỏng, nên
Adrienne nướng vài lát thịt bò, rồi họ cùng ăn một bữa ăn thong thả với chai
rượu thứ ba. Sau đó họ tắm cùng nhau. Paul ngồi sau lưng nàng, và khi nàng tựa
đầu vào ngực anh, anh cọ bông tắm lên bụng và ngực nàng. Adrienne nhắm mắt, đắm
chìm trong vòng tay anh, cảm nhận làn nước ấm chảy trên da.

Đêm đó họ cùng vào thị trấn. Rodanthe đang trở lại nhịp sống
bình thường sau cơn bão, và họ dành một phần buổi tối trong một quán bar cũ kỹ,
nghe nhạc từ một máy hát tự động và nhảy theo một vài bài hát. Quán rượu đông
đúc toàn người trong thị trấn đến để chia sẻ với nhau về cơn bão, Paul và
Adrienne là những người duy nhất đủ can đảm ra nhảy. Anh kéo nàng vào gần và họ
chầm chậm quay theo vòng tròn, cơ thể nàng áp vào anh, phớt lờ tiếng nói chuyện
và ánh nhìn soi mói của những người khách khác.

Vào Chủ nhật, Paul dỡ cửa chống bão ra cất đi, rồi đặt ghế
bập bênh trở lại chỗ cũ trên hàng hiên. Bầu trời quang đãng lần đầu tiên kể từ
sau cơn bão, và họ cùng đi dạo trên bờ biển, như họ đã làm vào đêm đầu tiên gặp
nhau, thầm nhận ra mọi chuyện đã thay đổi nhiều đến thế nào kể từ hôm đó. Đại
dương đã cuốn trôi một phần bờ biển, để lại những đường rãnh bào dài và thô
bạo, và một số cây cối đã đổ rạp. Cách nhà chưa đến nửa dặm, Paul và Adrienne
cùng đứng nhìn trân trối vào một ngôi làng đang nằm nửa trên đống đổ nát nửa
trên cát, một nạn nhân của nước biển dâng lên trong cơn bão. Phần lớn các bức
tường đã oằn đi, các cửa sổ vỡ nát, và một phần mái nhà đã bị thổi bay. Một
chiếc máy rửa bát nằm chỏng chơ gần một đống gỗ vỡ trông có vẻ từng là hàng
hiên. Gần con đường, một nhóm người tụ tập, đang chụp ảnh để thanh toán bảo
hiểm, và đến khi đó hai người mới nhận ra cơn bão vừa qua khủng khiếp như thế
nào.

Khi họ bắt đầu quay trở lại, nước triều đang dâng lên. Họ
tình cờ bắt gặp chiếc vỏ ốc xà cừ khi đang vai kề vai bước thong thả trên bờ
biển. Mặt ngoài có vân của nó bị vùi một nửa trong cát, vây quanh là hàng ngàn
mảnh vỏ sò li ti. Khi Paul đưa nó cho nàng, nàng áp lên tai, nghe thấy tiếng
biển. Anh vòng tay ôm nàng, nói với nàng rằng nàng cũng hoàn hảo như vỏ ốc họ
vừa tìm thấy. Dù Adrienne biết rằng nàng sẽ giữ nó mãi mãi, khi đó nàng không
hề biết cuối cùng nó sẽ có ý nghĩa với nàng biết bao nhiêu.

Lúc đó Adrienne chỉ biết một điều là nàng đang đứng trong
vòng tay của người đàn ông nàng yêu, ước gì anh có thể ôm nàng như thế này mãi
mãi.

Vào sáng thứ Hai, Paul khẽ ra khỏi giường trước khi nàng
thức giấc, và dù đã tự nhận là không giỏi nấu ăn, anh vẫn làm nàng bất ngờ bằng
cách mang khay đựng bữa sáng đén tận giường cho nàng, làm nàng tỉnh ngủ bằng
mùi cà phê mới pha. Anh ngồi với nàng trong khi nàng ăn, bật cười khi nàng tựa
người trên gối và cố gắng kéo chăn che ngực mà ko được. Món bánh mì nướng thật
ngon, thịt muối giòn mà không bị cháy, và anh đã thêm vừa đủ pho mát nghiền lên
món trứng chưng.

Dù các con nàng thỉnh thoảng cũng làm bữa sáng cho nàng ăn
trên giường vào Ngày Của Mẹ, đây là lần đầu tiên nàng được một người đàn ông
làm vậy cho mình. Jack là kiểu người không bao giờ nghĩ đến những việc đó.

Khi nàng ăn xong, Paul ra ngoài chạy một vòng ngắn trong khi
Adrienne tắm và thay đồ. Sau khi chạy, Paul quẳng quần áo bẩn vào máy giặt rồi
cũng đi tắm. Khi anh xuống bếp với nàng, Adrienne đang nói chuyện với Jean. Cô
gọi để hỏi về tình hình mọi việc. Trong khi Adrienne cho cô biết, Paul luồn tay
ôm nàng và úp mặt vào gáy nàng.

Trong khi nói chuyện điện thoại, Adrienne nghe thấy không
lẫn vào đâu được tiếng cánh cửa trước Nhà Nghỉ mở ra cọt kẹt và tiếng ủng gõ
trên sàn gỗ khi tiến vào. Nàng nói với Jean như vậy trước khi gác máy rồi ra
khỏi bếp xem ai đến. Nàng chỉ ra ngoài chưa đến một phút đã lại quay vào, và
nhìn Paul như thể không biết phải nói gì. Nàng hít một hơi dài.

“Ông ấy đến nói chuyện với anh,” nàng nói.

“Ai?”

“Robert Torrelson.”

Robert Torrelson đợi trong phòng khách và đang ngồi cúi đầu
trên ghế khi Paul ra ngồi với ông. Ông ngẩng lên nhìn nhưng không cười, vẻ mặt
không biểu lộ một điều gì. Trước khi ông đến, Paul không rõ anh có thể nhận ra
ông giữa đám đông hay không, nhưng khi nhìn gần, anh thấy anh có thể nhận ra người
đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Ngoài mái tóc đã bạc đi nhiều trong một năm
qua, ông ta trông giống hệt như khi ngồi trong phòng đợi của bệnh viện. Ông có
ánh mắt nghiêm khắc hệt như Paul đã tưởng tượng.

Robert chưa vội nói gì. Thay vào đó ông nhìn Paul dò xét
trong khi ông xoay ghế để họ có thể ngồi đối diện với nhau.

“Anh đã đến.” Cuối cùng Robert Torrelson lên tiếng. Giọng
ông cứng cỏi và cau có, đặc sệt tiếng miền Nam, như thể đã nhiễm khói sau
nhiều năm hút Camel không đầu lọc.

“Vâng.”

“Tôi không nghĩ anh lại đến thật.”

“Có một thời gian chính tôi cũng không biết có nên đến hay
không.”

Robert khịt mũi vẻ mỉa mai như thể ông đã biết trước điều
đó. “Con trai tôi nói nó đã gặp anh.”

“Đúng vậy.”

Robert cười cay đắng, nghĩ đến cuộc nói chuyện giữa họ mà
mình đã biết. “Nó nói anh không thèm cố gắng giải thích.”

“Không,” Paul đáp. “Tôi đã không giải thích gì cả.”

“Nhưng anh vẫn nghĩ mình chẳng làm gì sai, đúng không?”

Paul nhìn đi nơi khác, nghĩ về điều Adrienne đã nói. Không,
anh thầm nghĩ, anh sẽ không bao giờ thay đổi được suy nghĩ của họ. Anh ngồi
thẳng lên.

“Trong thư, ông đã viết là ông muốn nói chuyện với tôi và
rằng điều đó rất quan trọng. Giờ tôi đã đến đây. Tôi có thể làm gì cho ông, ông
Torrelson?”

Robert thò tay vào túi áo trước rút ra một gói thuốc lá cùng
bao diêm. Ông châm một điếu, kéo chiếc gạt tàn lại gần rồi ngồi tựa lưng vào
ghế.

“Đã có vấn đề ở đâu?” ông hỏi.

“Chẳng ở đâu cả,” Paul nói. “Ca phẫu thuật diễn ra đúng
như mong muốn.”

“Vậy sao bà ấy lại chết?”

“Giá mà tôi biết được, nhưng thú thực là không.”

“Các luật sư của anh bảo anh nói vậy hả?”

“Không,” Paul bình tĩnh đáp lại, “đó là sự thật. Tôi nghĩ đó
là điều ông muốn nghe. Nếu tôi có thể cho ông một câu trả lời, tôi sẽ làm
ngay.”

Robert đưa điếu thuốc lên miệng hít một hơi. Khi ông nhả
khói, Paul nghe thấy một tiếng rít nhỏ, như tiếng không khí thoát ra khỏi một
chiếc đàn accordion cũ kỹ.

“Anh có biết bà ấy đã có khối u đó từ hồi chúng tôi mới gặp
nhau không?”

“Không,” Paul nói. “Tôi không biết.”

Robert rít thêm một hơi dài nữa. Khi cất tiếng trở lại,
giọng ông dịu lại, đắm chìm trong ký ức.

“Tất nhiên là hồi đó nó còn chưa to như thế. Chỉ bằng cỡ một
nửa hạt dẻ, và cũng chưa sậm màu đến vậy. Nhưng người ta vẫn có thể thấy nó rõ
như ban ngày, như một thứ gì đó lồi lên dưới da bà ấy. Và nó luôn làm bà ấy bận
lòng, ngay từ khi còn nhỏ. Tôi hơn bà ấy vài tuổi, và tôi nhớ rằng bà ấy luôn
cúi gằm mặt khi đi bộ đến trường cũng dễ hiểu được vì sao.”

Robert ngừng lời, góp nhặt những mảnh suy nghĩ trong đầu, và
Paul biết mình nên giữ im lặng.

“Cũng như nhiều người đồng trang lứa hồi đó, bà ấy phải bỏ
học giữa chừng để phụ giúp gia đình, đó cũng là khi tôi bắt đầu được biết bà ấy
rõ hơn. Bà ấy làm việc ở bến cảng nơi tôi dỡ cá, còn bà ấy cân cá. Tôi đã cố
bắt chuyện dễ đến cả năm trời bà ấy mới chịu nói một lời với tôi, nhưng tôi vẫn
thích bà ấy. Bà ấy rất thật thà và chăm chỉ, và dù bà ấy lấy tóc để che mặt,
thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn thấy khuôn mặt đằng sau, và tôi thấy mình đang nhìn
vào cặp mắt đẹp nhất tôi từng thấy. Đôi mắt ấy có màu nâu sẫm, và rất dịu dàng,
anh biết không? Như thể bà ấy sẽ không bao giờ làm tổn thương bất cứ ai trong
đời mình vì bà ấy sinh ra đã như thế. Và tôi vẫn cố bắt chuyện với bà ấy còn bà
ấy thì cứ lờ tôi đi cho đến khi tôi đoán là cuối cùng bà ấy cũng nhận ra tôi sẽ
không bỏ cuộc. Bà ấy đồng ý đi chơi với tôi, nhưng suốt cả buổi bà ấy hầu như
không dám nhìn tôi, mà cứ cúi gằm mặt nhìn xuống giày.”

Robert đan hai tay vào nhau.

“Nhưng tôi vẫn tiếp tục mời bà ấy đi chơi. Lần thứ hai khá
hơn một chút, và tôi nhận ra nếu muốn thì bà ấy có thể rất hóm hỉnh. Càng biết
rõ bà ấy, tôi càng thích bà ấy nhiều hơn, và rồi sau một thời gian, tôi bắt đầu
nghĩ rằng có thể tôi đã yêu bà ấy rồi. Tôi không quan tâm đến thứ trên mặt bà
ấy. Hồi đó không, và đến cả năm ngoái cũng vẫn không. Nhưng bà ấy thì có. Bà ấy
luôn luôn lo lắng về nó.”

Ông dừng lời.

“Trong hai mươi năm sau đó chúng tôi có với nhau bảy đứa
con, và dường như cứ mỗi lần bà ấy nuôi thêm một đứa, thứ đó lại càng to lên.
Tôi không biết có đúng thế không, nhưng bà ấy cũng từng nói với tôi như vậy.
Nhưng tất cả lũ con của chúng tôi, kể cả John, - thằng anh đã gặp – đều nghĩ
rằng mẹ chúng là người mẹ tốt nhất trên đời. Và đúng như thế. Khi cần thiết bà
ấy rất nghiêm khắc nhưng những lúc khác bà ấy là người phụ nữ ngọt ngào nhất
anh từng gặp. Tôi cũng yêu bà ấy vì lẽ đó, và chúng tôi rất hạnh phúc. Cuộc
sống ở đây nói chung chẳng dễ dàng gì, nhưng bà ấy đã làm cuộc sống của tôi trở
nên dễ chịu. Và tôi tự hào về bà ấy, tôi tự hào được đứng cạnh bà ấy, và tôi
bảo đảm rằng mọi người quanh đây đều biết điều đó. Tôi nghĩ như thế là đủ rồi,
nhưng có lẽ vẫn không đủ.”

Paul lặng yên trong khi Robert tiếp tục kể.

“Một hôm bà ấy xem được trên ti vi chương trình về một người
phụ nữ với cái khối u đó, họ chiếu mấy thứ ảnh trước và sau. Tôi đồ rằng cái ý
nghĩ có thể thoát khỏi nó mãi mãi đã ăn sâu vào đầu óc bà ấy. Đó là khi bà ấy
bắt đầu nói về việc đi phẫu thuật. Chi phí rất đắt mà chúng tôi không có bảo
hiểm, nhưng bà ấy cứ hỏi mãi rằng liệu có thể có cách nào thực hiện được
không?”

Robert nhìn thẳng vào mắt Paul.

“Tôi nói gì cũng không thay đổi được ý định của bà ấy. Tôi
đã nói rằng tôi không hề để ý đến nó, nhưng bà ấy không nghe. Đôi khi, tôi thấy
bà ấy ôm mặt trong phòng tắm, hay nghe thấy bà ấy khóc, và tôi biết bà ấy muốn
đi phẫu thuật hơn bất cứ thứ gì. Bà ấy đã sống chung với thứ đó suốt cả đời, và
đã quá mệt mỏi rồi. Mệt mỏi vì cái cách những người lạ tránh nhìn bà ấy, hay vì
lũ trẻ con cứ nhìn chằm chằm bà ấy. Thế là cuối cùng tôi cũng đầu hàng. Tôi gom
góp tất cả tiền tiết kiệm, đến ngân hàng vay thế chấp chiếc thuyền của tôi, rồi
chúng tôi đến gặp anh. Sáng hôm đó bà ấy rất phấn khích. Có lẽ tôi chưa thấy bà
ấy vui như vậy vì bất kỳ điều gì trong đời, và chỉ nhìn bà ấy như thế cũng
khiến tôi biết mình đã làm đúng. Tôi nói với bà ấy rằng tôi sẽ đợi để tới gặp
bà ấy ngay khi bà ấy tỉnh dậy. Và anh có biết bà ấy đã nói gì với tôi không?
Những lời cuối cùng bà ấy nói với tôi ấy?”

Robert nhìn Paul, để biết chắc rằng anh đang chú ý đến lời
mình nói.

“Bà ấy nói ‘Cả đời này, tôi vẫn luôn muốn được xinh đẹp vì
mình.’ Và tất cả những gì tôi nghĩ được khi bà ấy nói thế là bà ấy vẫn luôn
luôn xinh đẹp.”

Paul cúi thấp đầu, và dù anh cố gắng nuốt nước bọt, cổ họng
anh nghẹn lại.

“Thế mà anh thì chẳng hề biết những điều đó về bà ấy. Với
anh, bà ấy chỉ là một người đến để phẫu thuật, một người đã chết, hay một người
mang thứ đó trên mặt, hay một người có gia đình đang kiện anh. Anh cần phải
biết câu chuyện về bà ấy. Bà ấy xứng đáng được hơn thế. Bà ấy đáng được nhận
nhiều hơn thế sau cả cuộc đời bà ấy đã sống.”

Robert Torrelson gạt phần tàn thuốc còn lại vào gạt tàn, rồi
dụi điếu thuốc.

“Anh là người cuối cùng nói chuyện với bà ấy, người cuối
cùng bà ấy gặp trong đời. Bà ấy là người phụ nữ tốt nhất trên đời, thế mà anh
ta thậm chí không hề biết mình đang gặp ai.” Ông dừng lại, để những lời nói đó
ăn sâu vào tâm trí người đối diện. “Nhưng giờ thì anh đã biết.”

Nói đoạn, ông đứng dậy khỏi ghế, và chỉ một khắc sau đã bỏ
đi.

Sau khi nghe câu của Robert Torrelson, Adrienne đưa tay khẽ
lau nước mắt trên mặt Paul.

“Anh ổn chứ?”

“Anh không biết nữa,” anh nói. “Giờ anh thấy mình như tê
dại.”

“Cũng phải thôi. Khó mà tiếp nhận hết ngay một chuyện như
vậy.”

“Phải,” Paul nói. “Đúng vậy.”

“Anh có mừng vì mình đã đến không? Và vì ông ấy đã kể với
anh những điều đó.”

“Vừa có vừa không. Việc anh biết về bà ấy là một chuyện quan
trọng đối với ông ấy, và anh mừng vì điều đó. Nhưng nó cũng làm anh buồn nữa.
Họ đã yêu nhau nhiều đến vậy, mà giờ thì bà ấy đã mất.”

“Phải.”

“Như thế thật không công bằng.”

Nàng nở một nụ cười buồn. “Đúng là không công bằng. Tình yêu
càng lớn, thì nỗi đau khi nó kết thúc càng nhức nhối. Hai mặt đó luôn đi liền
với nhau.”

“Kể cả với anh và em ư?”

“Với tất cả mọi người,” nàng nói. “Điều tốt nhất chúng ta có
thể hy vọng trong đời là ngày đó sẽ lâu, rất lâu nữa mới đến.”

Anh kéo nàng ngồi lên lòng mình, hôn lên môi nàng và vòng
tay ôm quanh nàng, kéo nàng lại gần và để nàng ôm mình. Họ cứ ngồi như vậy một
lúc lâu.

Nhưng khi họ làm tình đêm hôm đó, những lời Adrienne mới nói
đã trở lại với nàng. Đó là đêm cuối cùng của họ ở Rodanthe, đêm cuối cùng họ
được ở bên nhau trong ít nhất là một năm. Và dù cố gắng đến mấy, nàng vẫn không
sao ngăn được những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.