15. Chuyện xảy ra trong cửa hàng Alshvang - Phần 2

Xin Fedin tha lỗi cho tôi về chuyện tôi viết về cách làm
việc của ông. Nhưng tôi nghĩ rằng cách làm việc của mỗi nhà văn, nhất là những
nhà văn bậc thầy như Fedin, đều thú vị và có ích không riêng đối với các nhà
văn, mà với hết thảy những ai yêu văn học.

Chúng tôi ở trong một ngôi nhà nhỏ ngay bên cạnh bờ biển
vùng Gagry. Ngôi nhà giống như những "meblirashki" trước cách mạng,
một thứ nhà ổ chuột không hơn không kém.

Khi có bão, nó run cầm cập trước những cơn gió và những ngọn
sóng đập vào bờ. Nó kêu cọt kẹt, nó kêu răng rắc, tưởng chừng nó sẽ sụp xuống
ngay đấy. Những cánh cửa không còn ổ khóa mỗi lần có gió lùa là tự động mở ra,
chậm chạp và dọa nạt. Thế rồi chúng dừng lại, bất động trong vài giây, và sau
khi đã suy nghĩ, bất thình lình đóng sầm lại và gây ra một tiếng động mạnh đến
nỗi vữa trên trần rơi lả tả.

Hết thảy những con chó lang thang ở Tân Gagry và Cựu Gagry
đều ngủ ở ngay bên dưới sân trời ngôi nhà này. Đôi khi, lợi dụng người trong
nhà đi vắng, chúng chui vào phòng, nằm trên giường và ngáy yên lành.

Bước vào phòng mình anh phải coi chừng, bất kể tính nết của
con chó đã chiếm giường anh là thế nào. Con nào biết điều và nhút nhát thì đã
vội nhảy ra, kêu ăng ẳng tuyệt vọng, rồi chuồn thẳng. Nếu anh giẫm phải chân nó
thì nó có thể đớp ngay cho anh một miếng vì sợ hãi.

Gặp phải con càn rỡ và giàu kinh nghiệm, nó sẽ cứ nằm nguyên
trên giường mà nhìn anh bằng đôi mắt căm hờn, rồi bắt đầu gầm gừ đáng sợ đến
nỗi anh buộc lòng phải gọi hàng xóm đến giúp.

Cửa sổ buồng Fedin trông ra sân trời ngay trên mặt biển.
Trong những ngày biển động, người ta xếp tất cả ghế mây ngoài sân trời lại thành
đống bên cạnh cửa sổ để khỏi bị nước biển hắt vào. Lũ chó ngồi suốt buổi trên
đống ghế ấy và nhìn xuống Fedin đang lúi húi viết. Chúng rền rĩ vì muốn được
vào trong căn phòng ấm cúng, có đèn sáng của ông.

Lúc đầu Fedin phàn nàn rằng lũ chó làm ông rùng mình. Cứ vừa
rời bản thảo ra mà suy nghĩ một tí, nhìn ra cửa sổ là thấy hàng chục con mắt
rực lửa căm hờn của chúng bám chặt lấy ông. Cái đó thậm chí làm cho ông cảm
thấy ngượng ngùng, như thể ông có lỗi vì được sống ở nơi ấm áp và làm một công
việc rõ ràng vô tích sự là ngoáy bút trên mặt giấy.

Tất nhiên, lối xử sự ấy của lũ chó cũng có cản trở Fedin làm
việc thật, nhưng riết rồi ông cũng quen và thôi không để ý đến chúng nữa.

Đa số nhà văn thường viết về sáng, số ít viết ban ngày và
một số rất ít viết đêm.

Fedin có thể làm việc và thường làm việc vào bất cứ giờ nào.
Chỉ thỉnh thoảng ông mới rời công việc để nghỉ ngơi đôi chút.

Ông viết đêm trong tiếng ồn không bao giờ ngừng của biển.
Cái tiếng động quen thuộc ấy không những không cản trở mà còn giúp cho Fedin
viết tốt. Ngược lại, chính cái yên lặng mới làm phiền ông.

Một hôm, giữa đêm khuya Fedin dựng tôi dậy và nói bằng giọng
xúc động:

- Này anh, biển im lặng. Ta đi ra sân trời nghe đi.

Hình như cả cái im ắng sâu thẳm của thế giới ngưng đọng trên
bờ biển. Chúng tôi lặng đi, cố đón bắt trong bóng tối dù chỉ một tiếng sóng vỗ
nhẹ, nhưng chẳng nghe thấy gì hết ngoài tiếng vo vo khe khẽ nơi tai. Đó là máu
của chúng tôi đang reo đấy. Trong bóng tối trên cao, cũng một thứ bóng tối của
cả và thế giới, những ngôi sao sáng mờ mờ. Đã quen với tiếng ồn không dứt của
biển, cái yên lặng ấy đè nặng lên chúng tôi. Đêm hôm đó Fedin bỏ không làm
việc.

Tất cả những gì tôi kể trên là câu chuyện về cái hoàn cảnh
không quen thuộc đối với Fedin, trong hoàn cảnh ấy ông đã buộc phải làm việc.
Tôi nghĩ rằng cái đơn giản và cái luộm thuộm của cuộc sống đã nhắc ông đến tuổi
trẻ, khi chúng tôi có thể viết ở trên bệ cửa sổ, dưới ánh sáng của một ngọn đèn
dầu không chao trong một căn phòng mà mực viết đóng băng vì giá lạnh, tóm lại,
trong bất cứ điều kiện nào.

Vô tình quan sát cách làm việc của Fedin, tôi được biết rằng
ông chỉ ngồi xuống để viết khi nào đã nghĩ thật chín chương sách ông sắp viết,
chỉnh lý nó thật cẩn thận, làm cho nó phong phú thêm bằng những suy nghĩ sâu
sắc và những hồi ức, cho tới khi nó thành hình trong tri thức một cách hoàn
toàn, từng câu một.

Trước khi viết, Fedin bao giờ cũng quan sát rất kỹ cái mà
ông sẽ viết, ngắm nghía nó dưới đủ mọi góc độ và chỉ viết những gì ông nhìn
được rõ, hơn nữa, viết trong mối liên quan trọn vẹn với toàn bộ tác phẩm.

Khối óc sáng suốt, cứng rắn và con mắt nghiêm khắc của Fedin
không bao giờ chịu bằng lòng với cái bấp bênh của chủ đề và cách thể hiện. Theo
ông, văn phải được làm đi làm lại cho đến khi không có một lỗi và phải được tôi
luyện cho đến lúc rắn như kim cương.

Suốt đời ông, Flaubert sống trong cuộc chạy đuổi khốn khổ
khốn nạn rượt theo cái hoàn mỹ của bút pháp. Trong cuộc đi tìm cái trong sáng
cho văn xuôi, ông không sao dừng lại được. Trong một số trường hợp, việc sửa
chữa bản thảo đối với ông chẳng còn là con đường hoàn thiện văn ông, mà chỉ là
làm để mà làm. Ông không còn biết đánh giá nữa, ông mệt mỏi, tuyệt vọng và rõ
ràng ông đã làm cho tác phẩm của ông khô héo, mất sức sống hay là như Gogol
từng nói: "Vẽ, vẽ, vẽ mãi thành vẽ vời vớ vẩn".

Fedin biết lúc nào nên dừng lại trong thời gian gọt giũa tác
phẩm. Nhà phê bình trong người ông không bao giờ biết mệt, nhưng không đè bẹp
nhà văn.

Trong con người Flaubert biểu lộ ở mức độ cao một thuộc tính
của nhà văn mà những nhà lý luận văn học gọi là "nhân vật hóa". Nói
một cách giản dị hơn, nó là cái tài nhập thân vào nhân vật với một sức mạnh đến
nỗi chính nhà văn cảm nghiệm mãnh liệt mọi việc xảy ra với nhân vật (mà xảy ra
theo ý muốn của nhà văn).

Ai cũng biết khi mô tả cái chết vì thuốc độc của Emma
Bovary, Flaubert cảm thấy đủ mọi triệu chứng ngộ độc và ông đã phải chạy đi tìm
thầy thuốc.

Flaubert là một người đau khổ. Ông viết chậm đến nỗi phải
tuyệt vọng kêu lên: "Đáng phải vả vào mặt mình vì cái lối làm việc rề rề
như thế?".

Ông sống ở Croitre, trên bờ sông Seine,
gần tỉnhRouen. Cửa sổ phòng làm việc của ông trông ra sông.

Suốt đêm, một ngọn đèn chụp xanh cháy sáng trong căn phòng
đầy những đồ vật lạ mắt của Flaubert. Flaubert làm việc về đêm. Ngọn đèn chỉ
tắt khi trời bắt đầu sáng.

Ngọn đèn lúc nào cũng cháy sáng như một ngọn hải đăng. Thực
vậy, trong những đêm tối trời, cửa sổ phòng Flaubert đã trở thành ngọn hải đăng
cho dân chài sông Seine và cho cả những thuyền trưởng của những con tàu biển đi
ngược dòng từ cửa Le Havre vào Rouen. Những viên thuyền trưởng biết rằng ở khúc
sông này muốn khỏi đi chệch luồng thì phải "nhắm hướng cửa sổ nhà ông
Flaubert".

Thỉnh thoảng họ trông thấy một người đàn ông vạm vỡ trong
chiếc áo choàng phương Đông sặc sỡ. Người đó đi đến bên cửa sổ, gục đầu vào
thành cửa và nhìn ra sông Seine. Đó là
điệu bộ của một người mệt mỏi đến rã rời. Nhưng vị tất những người thủy thủ kia
biết được rằng người đứng sau cửa lại là một nhà văn vĩ đại của nước Pháp, một
người khổ sở vì cuộc vật lộn để đạt tới sự hoàn mỹ văn xuôi, cái "thể lỏng
đáng nguyền rủa nhất định không chấp nhận một hình thức cố định nào".

Đối với Balzac, mọi nhân vật của ông đều là những con người
sống và là những người thân thuộc của ông. Lúc thì ông hầm hè gọi họ là quân
khốn nạn và đồ ngốc, lúc thì cười tủm tỉm, hài lòng vỗ vai họ, lúc thì vụng về
an ủi họ trong cơn hoạn nạn.

Trong con người Balzac lòng tin ở sự sống thật của các nhân
vật của mình và ở sự thật không ai chối cãi được rằng ông đang viết về họ, thật
là kỳ quặc. Có thể chứng minh điều đó bằng một câu chuyện lý thú trong đời ông.

Trong một truyện ngắn của Balzac có một cô tu kín trẻ tuổi
(tôi không nhớ tên cô, nhưng ta cứ gọi tạm cô là cô Jeanne). Bà Nhất coi nhà tu
cử cô Jeanne ngoan đạo kia đi Paris để
làm một số công chuyện cho tu viện. Cuộc sống hào nhoáng, ngược xuôi, lóa mắt
của thủ đô làm cho cô sửng sốt, bàng hoàng. Trong ánh sáng của những ngọn đèn
loa đốt bằng hơi, cô đứng hàng giờ ngắm nghía những đồ vật sang trọng chưa từng
thấy bày trong tủ kính các cửa hàng. Cô nhìn thấy những người đàn bà mặc áo váy
mỏng tang và thơm phức. Những bộ quần áo ấy như lột trần thân thể của những
người đẹp kia, làm nổi bật toàn bộ vẻ kiều diễm của những cái lưng thon, những
cặp đùi cao, những đôi vú nhỏ và nhọn.

Cô được nghe những lời tỏ tình đường mật lạ lùng, những câu
bóng gió, giọng nói ngọt ngào của những người đàn ông. Cô trẻ và đẹp. Người ta
theo cô ở ngoài phố. Tim cô đập rộn ràng. Cái hôn đầu ép buộc trong bóng cây
tiêu huyền mộc dày đặc ở một vườn hoa nọ làm cho cô choáng váng như nghe một
tiếng sấm và làm cô mất hết lý trí.

Cô ở lại Paris.
Tiền nhà tu giao cho, cô tiêu hết để được biến thành một cô gái Paris đầy quyến rũ.

Một tháng sau cuộc đời ném cô ra vỉa hè.

Trong truyện ngắn Balzac có nhắc đến tên một trong những tu
viện có thật thời đó.

Sách của Balzac đến tay bà Nhất của tu viện đó. Trong nhà tu
lại cũng có một cô Jeanne trẻ tuổi. Bà Nhất gọi cô lại và hỏi bằng giọng dọa
nạt:

- Con có biết ông Balzac đã viết những gì về con không? Ông
ta làm nhục con đấy, con ạ! Ông ta bôi nhọ danh dự dòng tu ta! Ông ta là kẻ vu
khống, là kẻ báng bổ Chúa. Con đọc đi!

Cô gái đọc hết truyện ngắn và khóc nức nở.

- Ngay lập tức! - bà Nhất nói hét lên - Con thu xếp ngay lập
tức, rồi đi Paris tìm cho bằng được cái ông Balzac ấy, bắt ông ta phải cao rao
cho cả nước Pháp này biết rằng những điều ông ta viết là vu khống, rằng ông ta
đã bôi nhọ phẩm giá một người con gái trong sạch chưa từng đặt chân đến Paris
bao giờ. Ông ta đã nhục mạ nhà tu và hết thảy giới tu hành chúng ta. Ông ta
phải ăn năn vì tội lỗi điên rồ của mình. Con phải làm như thế cho bằng được.
Nếu không thì đừng có vác mặt về đây nữa.

Jeanne đi Paris. Nàng tìm được Balzac và chật vật lắm mới
được ông tiếp.

Balzac mặc chiếc áo choàng cũ, ngồi thở hổn hển như người
mắc bệnh suyễn. Khói thuốc mù mịt trong phòng. Trên bàn ngổn ngang từng đống
giấy viết vội vã.

Balzac cau mày. Ông không có thời giờ - ông đã tính trước
cho đời mình ít nhất năm mươi cuốn tiểu thuyết. Nhưng mắt Balzac sáng lên, long
lanh. Ông chăm chăm nhìn Jeanne.

Cô gái cúi xuống, đỏ mặt lên và kêu tên Chúa. Rồi cô kể cho
Balzac nghe câu chuyện xảy ra ở tu viện và yêu cầu ông hãy xóa cho cô vết nhơ
nhục nhã, mà không hiểu vì lẽ gì mơxiơ Balzac đã bôi lên tiết hạnh và sự thánh
thiện của cô.

Rõ ràng Balzac không hiểu cái cô tu sĩ đẹp và hiền dịu này
muốn gì ở ông.

- Cái vết nhơ nhục nhã nào kia, hả cô? - ông hỏi - Tất cả
những điều tôi viết bao giờ cũng là sự thật thiêng liêng.

Jeanne nhắc lại lời yêu cầu và nói thêm:

- Thưa ông Balzac, xin ông hãy thương lấy kẻ mọn này. Nếu
ông không bằng lòng giúp em thì em thật chẳng còn biết làm thế nào.

Balzac đứng phắt dậy. Mắt ông long lên vì tức giận.

- Sao? - ông hét lên - Cô không biết làm thế nào ư? Tôi đã
viết hết sức rõ ràng những chuyện xảy ra với cô! Hết sức rõ ràng! Cô còn nghi
ngờ gì nữa?

- Chẳng lẽ ông muốn nói rằng em sẽ ở lại Paris? - cô gái hỏi.

- Phải! - Balzac hét lên - Phải! Mẹ kiếp!

- Và ông muốn em sẽ...

- Không! Mẹ kiếp! - Balzac lại hét lên. - Tôi chỉ muốn cô
trút bỏ cái bộ quần áo đen lùng thùng này đi. Tôi muốn tấm thân đang độ xuân
xanh, tuyệt mỹ như một viên ngọc quý của cô được biết thế nào là niềm vui và
tình yêu. Đi đi, cô. Đi đi! Nhưng đừng có ra vỉa hè!

Balzac nắm lấy tay Jeanne và kéo ra cửa...

- Tôi đã viết tất cả trong truyện rồi mà - ông nói - Cô đi
đi! Cô rất đáng yêu, nhưng vì cô tôi đã mất đứt ba trang tác phẩm rồi đấy. Mà
là tác phẩm thế nào, cô có biết không?

Jeanne không thể quay về tu viện vì ông Balzac đã không xóa
cho cô cái vết nhơ nhục nhã. Cô ở lại Paris. Nghe nói một năm sau người ta gặp cô
trong đám thanh niên tại quán rượu sinh viên "Kiện Hàng Bạc". Cô vui
tươi, duyên dáng và hạnh phúc.

*

*  *

Có bao nhiêu nhà văn thì có bấy nhiêu thói quen làm việc.

Trong ngôi nhà gỗ gần Ryazan mà
tôi đã có nói tới trên kia, tôi tìm được những bức thư của nhà khắc gỗ nổi
tiếng Jordan gửi
cho nhà khắc gỗ Pozhalostin (tôi cũng đã nói đến những bức thư đó).

Trong một bức thư, Jordan viết rằng ông đã bỏ ra
hai năm trời để khắc phiên bản một trong những bức họa Ý. Suốt thời gian làm
việc ông cứ đi quanh chiếc bàn kê bản khắc và để lại một vệt mòn rất rõ trên
sàn gạch.

Jordan viết:

"Tôi mệt. Nhưng tôi dù sao cũng vẫn còn đi lại, còn cử
động. Chứ Gogol quen viết đứng bên chiếc bàn mặt nghiêng thì còn mệt đến thế
nào! Đó mới thật là một người đau khổ vì công việc của mình".

Lev Tolstoy chỉ làm việc về sáng. Ông nói rằng trong mỗi nhà
văn có một nhà phê bình riêng. Nhà phê bình ấy về buổi sáng bao giờ cũng nghiêm
khắc hơn cả. Ban đêm hắn ta ngủ, thành thử ban đêm nhà văn được thả lỏng hoàn
toàn, anh ta làm việc không bị ai dọa nạt và vì lẽ đó mà anh ta viết rất nhiều
cái thừa thãi và tầm bậy. Tolstoy lấy Rousseau và Dickens là những người chỉ
làm việc về sáng ra dẫn chứng rằng vì Đostoevsky và Byron thích làm việc đêm mà
tài năng của hai ông bị tổn hại.

Gánh nặng trong việc viết văn của Đostoevsky tất nhiên không
phải chỉ riêng ở chỗ ông làm việc đêm và trong khi làm việc lại uống trà luôn
miệng. Cái đó, xét cho cùng, chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến chất lượng công việc
của ông.

Gánh nặng ấy chính là ở chỗ Đostoevsky không sao thoát khỏi
cảnh túng thiếu và công nợ, vì thế ông buộc lòng phải viết rất nhiều và lúc nào
cũng vội vã.

Khi thời gian đã gấp lắm ông mới ngồi vào bàn viết. Không
một tác phẩm nào của ông được viết một cách bình tĩnh, với tất cả tâm lực. Ông
làm nhầu nát những cuốn tiểu thuyết của mình (không phải tính theo số lượng
những trang đã viết mà theo cái chiều rộng của câu chuyện). Vì thế những tác
phẩm của Dosroevsky bao giờ cũng ở dưới mức mà ông có thể đạt được, và tồi hơn
so với dự định của ông. "Mơ ước về một cuốn tiểu thuyết thú hơn nhiều so
với việc viết nó ra", Đostoevsky nói như vậy.

Ông bao giờ cũng muốn kéo dài thời gian chung sống với cuốn
tiểu thuyết viết dở, luôn luôn thay đổi nó và làm cho nó phong phú thêm. Vì thế
ông cố hết sức kéo dài việc viết - chả là mỗi ngày, mỗi giờ đều có thể xuất
hiện một ý mới mà tất nhiên không ai có thể viết trước được vào tiểu thuyết.

Công nợ buộc ông phải làm như thế, mặc dầu ông vẫn ý thức
được rằng cuốn tiểu thuyết của ông còn chưa chín khi ông ngồi vào bàn viết.
Biết bao ý nghĩ, hình tượng, chi tiết phí hoài chỉ vì chúng đến quá muộn trong
đầu nhà văn, khi tác phẩm hoặc đã xong hoặc theo ý ông đã hỏng hẳn, không cách
nào sửa chữa nổi.

Đostoevsky nói về mình:

"Vì nghèo túng tôi buộc phải làm việc vội vã, tôi
viết để kiếm tiền, do đó nhất định tôi phải làm hỏng tác phẩm".

Lúc còn trẻ, Chekhov có thể viết ngay trên bệ cửa sổ trong
một căn phòng chật hẹp và ồn ào ở Moskva. Truyện ngắn "Người Thợ Săn"
ông viết trong buồng tắm. Nhưng cùng với năm tháng, cung cách làm việc dễ dàng
ấy cũng mất đi.

Lermontov sáng tác thơ trên bất cứ vật gì. Hình như những
bài thơ ấy hình thành tức khắc trong não bộ ông, ca hát trong tâm hồn ông, để
rồi ông chỉ có việc vội vã ghi chúng lại, không cần sửa nữa.

Chỉ cần trước mặt có một chồng giấy sạch sẽ và đẹp, thế là
Aleksey Tolstoy đã có thể viết được.

Ông thú thực rằng khi ngồi vào bàn, ông thường chưa biết
mình sẽ viết gì. Trong đầu ông lúc ấy mới chỉ có một tình tiết đẹp đẽ. Từ tình
tiết ấy sáng tác của ông bắt đầu và dần dà nó kéo ra cả một câu chuyện như kéo
một sợi chỉ thần.

Ạ Tolstoy gọi trạng thái lao động, hay cảm hứng, là
"bốc", theo cách của ông. "Nếu đã "bốc" - ông nói -
thì viết được nhanh lắm. Nếu không, tôi phải vứt đấy cái đã".

Tất nhiên Ạ Tolstoy là một người có tài sáng tác tức thời ở
mức độ cao. Tay ông không chạy theo
kịp ý nghĩ của ông.

Chắc chắn là hết thảy các nhà văn đều biết cái trạng thái
tuyệt diệu trong lúc làm việc, khi một ý mới hoặc một cảnh mới bất thần hiện
ra, như thể chúng từ trong đáy sâu của tâm thức bật mạnh ra ngoài, tựa những
tia chớp. Nếu không ghi lại ngay lúc ấy, chúng có thể biến mất không để lại dấu
vết gì, như cách chúng đã hiện ra.

Trong chúng có ánh sáng, có sự rung động, nhưng chúng mong
manh như những giấc mơ. Những giấc mơ mà chúng ta chỉ nhớ trong khoảng khắc khi
vừa tỉnh dậy và lại quên ngay. Sau đó dù chúng ta có tự dằn vặt cố nhớ lại đến
mấy, chúng ta không bao giờ nhớ lại được. Những giấy vở ấy chỉ còn để lại một
cảm giác về một cái gì khác thường bí ẩn, một cái gì "huyền diệu" như
cách nói của Gogol.

Cần phải ghi cho kịp. Chỉ trù trừ một chút là ý nghĩ kia vừa
lóe lên đã biến mất.

Có lẽ vì thế mà nhiều nhà văn không thể viết trên những tờ
giấy nhỏ, những băng giấy, như các nhà báo thường làm. Chớ có rời tay khỏi giấy
quá nhiều, bởi vì chỉ dừng lại một chút thôi, một khoảng khắc rất nhỏ thôi, thì
cái đó cũng có thể nguy hại rồi. Rõ ràng hoạt động của ý thức diễn ra đến độ
hoang đường.

Nhà thơ Pháp Béranger có thể viết những bài ca của ông trong
những tiệm cà phê rẻ tiền. Cả Ehrenburg, theo chỗ tôi biết, cũng thích viết
trong những tiệm cà phê.

Điều đó dễ hiểu. Bởi vì không có sự cô độc nào tốt hơn là ở
giữa đám đông náo nhiệt, tất nhiên, nếu như không ai trực tiếp kéo anh ra khỏi
suy tư và không xâm phạm đến sự tập trung tư tưởng của anh.

Andersen thích nghĩ ra những truyện thần tiên của ông ở
trong rừng. Ông có một cặp mắt rất tốt, gần như là một cái kính hiển vi. Vì thế
ông có thể ngắm nghía một miếng vỏ cây hay một chiếc lá thông già và thấy ở
trong đó những chi tiết như qua một máy phóng đại, từ những chi tiết ấy có thể
dựng nên những câu chuyện cổ tích một cách dễ dàng.

Nói chung hết thảy mọi vật trong rừng - mỗi gốc cây cụt, mỗi
con kiến càng hung hung đỏ đang tha một con ruồi con với đôi cánh xanh tí xíu
trong suốt như tha một nàng công chúa diễm kiều bị bắt cóc - tất cả những cái
đó đều có thể biến thành truyện thần tiên.

Tôi không muốn nói đến kinh nghiệm văn học của bản thân. Cái
đó chưa chắc đã cung cấp thêm điều gì quan trọng vào những cái mà tôi đã nói
trên kia. Nhưng dù sao tôi cũng thấy cần nói vài lời.

Nếu chúng ta muốn cho nền văn học nước ta đạt tới đỉnh cao
nhất của sự phồn vinh thì chúng ta cần phải hiểu rằng hình thức hoạt động xã
hội hữu ích nhất của nhà văn chính là công việc sáng tác của họ. Công việc âm
thầm của nhà văn trước khi cuốn sách ra đời sẽ biến thành của chung nhân loại
sau khi sách đã được in.

Cần phải giữ gìn thời gian, sức lực và tài năng của nhà văn,
chứ không nên đổi chúng lấy những công việc tất tả ngược xuôi, mất sức ngoài lề
văn học và những cuộc họp.

Trong khi làm việc, nhà văn cần có sự yên tĩnh và không phải
lo lắng. Nếu như có chuyện gì bực mình, cho dù nó chưa tới, thì tốt nhất là
đừng viết. Bút sẽ rời khỏi tay hoặc dưới ngòi bút chỉ bò ra những dòng chữ cực
nhọc và trống rỗng.

Trong đời tôi đã có vài lần tôi được viết thoải mái, tập
trung tư tưởng và không hấp tấp.

Một lần, vào mùa đông, tôi đáp chuyến tàu thủy vắng tanh từ
Batum đến Ôđessa. Biển xám, lạnh và yên tĩnh. Bờ biển ngập trong bóng tối màu
tro. Những đám mây đen nặng nề nằm dài trên những dãy núi xa như đang chìm
trong giấc ngủ mê mệt.

Tôi viết trong một buồng ngủ trên tàu, thỉnh thoảng lại đứng
dậy, đến gần cửa húp-lô và nhìn về phía bờ. Những cỗ máy cực mạnh khe khẽ hát
trong cái bụng bằng sắt của con tàu. Không ai có thể lôi tôi ra khỏi những ý
nghĩ mà tôi yêu mến. Tôi không nghĩ đến gì khác, hoàn toàn không nghĩ đến gì
khác, ngoài truyện ngắn mà tôi đang viết. Tôi cảm thấy điều đó như một hạnh
phúc vô cùng to lớn. Biển khơi che chở cho tôi khỏi bị bất cứ cái gì quấy rối.

Ý thức về xê dịch trong không gian, sự chờ đợi mơ hồ những
hải cảng mà tôi sẽ rẽ vào, và rất có thể, những cuộc gặp gỡ nhẹ nhàng và ngắn
ngủi, giúp cho tôi làm việc rất nhiều.

Và tôi cũng còn nhớ cái trạng thái làm việc sao mà dễ dàng
trên gác xép một ngôi nhà gỗ vào mùa thu trong cảnh cô độc và tiếng nổ lép bép
của ngọn nến.

Đêm tháng chín tối trời và lặng gió bao bọc lấy tôi và cũng
như biển, nó che chở tôi khỏi mọi quấy rối.

Giải thích vì sao thì khó, nhưng cái ý thức rằng bên kia bức
tường, khu vườn quê cũ kỹ đang rụng lá suốt đêm, vẫn giúp cho tôi viết rất
nhiều. Tôi nghĩ về khu vườn như nghĩ về một sinh vật. Nó im lặng và nhẫn nại
đợi đến lúc tôi ra giếng lấy nước cho ấm trà khi trời khuya. Có lẽ nó sẽ dễ
dàng chịu đựng cái đêm dài bất tận kia hơn, khi nghe tiếng gàu đập lanh canh
vào thành giếng và bước chân người.

Nhưng dù sao thì cảm giác về khu vườn cô quạnh và những cánh
rừng lạnh lẽo kéo dài suốt từ cổng làng ra xa hàng chục cây số, về những ao hồ
trong rừng, nơi mà trong một đêm như thế này tất nhiên không thể có và không có
lấy một bóng người mà chỉ có những vì sao soi bóng trên mặt nước như chúng đã
soi bóng hàng trăm, hàng nghìn năm về trước - cái cảm giác ấy đã giúp tôi. Tôi
dám nói rằng trong những buổi tối mùa thu như thế tôi thực là hạnh phúc.

Khi nào có một cái gì thú vị, vui sướng, thân yêu đang chờ
đợi ta, dù cho nó là một cái gì vặt vãnh như cuộc đi câu dưới những cây liễu
đen trên một lòng sông cạn ở xa, lúc đó mà viết thì rất tốt.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.