Bên cạnh thiên đường - Chương 14
Chương 14
Trát
Ba giải thích, cách lý giải về sự sống và cái chết của người Tạng và người Hán
không giống nhau.
Thực
ra sống và chết, đều chỉ là một chặng đường. Huống hồ Kha Lan còn là một cô
nhi.
Trên
đời này không còn tình yêu nào dành cho Kha Lan lớn bằng tình yêu của Trát Ba!
Như vậy thì còn gì mà phải áy náy nữa.
Tôi
tìm được một nhà trọ vừa rẻ vừa an toàn ở Urumqi .
Dự
định ở đây đợi những người thám hiểm ngoài trời, rủ họ cùng thuê xe tới thành cổ
Lâu Lan.
Thành
phố xa lạ. Buồn chán không có việc gì làm, tôi bèn ra phố đi loanh quanh, đến khu
chợ, đi lang thang giữa các sạp hàng chật chội, hàng hóa hầu như cũng giống
nhau: vải dệt của người Duy, cung tên, đao kiếm, đàn Donbu a, đồ da thật, hoa
sen tuyết …
Có
một gian hàng rất đặc biệt, treo đầy các loại sừng động vật khác
nhau, còn có cả lông chim nữa. Trên bàn bày đủ thứ kỳ lạ như răng động vật,
xương hóa thạch. Tôi đặc biệt chú ý đến những chiếc răng, có chiếc dài nhọn, có
chiếc ngắn ngủn, có chiếc to tròn, có chiếc nhỏ xíu, có chiếc được xuyên dây đỏ
qua để đeo, có chiếc thì để trơn chẳng có gì hết. Anh chàng chủ tiệm ngồi sau
bàn, ăn mặc kiểu người Tạng, cúi đầu chăm chú mài một chiếc răng dài.
Tôi
hỏi anh ta đây là lông chim gì? Chủ tiệm lười nhác ngước mắt lên nhìn tôi một
cái, nói là lông chim ưng đầu hói. Tôi lại chỉ tay vào mấy chiếc răng trên bàn
hỏi tiếp. Anh ta không có vẻ muốn trả lời lắm, giọng nói có vẻ bực bội, nói có
răng sói, răng hổ cả răng báo nữa. Tôi hỏi cái nào là răng báo, thì anh ta nghĩ
gì đó một lúc, rồi đưa cái răng đang cầm trên tay cho tôi. Tôi đón lấy, cẩn thận
xem xét, đúng là một chiếc răng của một trong những loài động vật kiêu ngạo
hung tàn nhất. Rất tròn, độ cong tự nhiên, đúng là một chiếc răng đẹp vào loại
hiếm thấy. Chủ tiệm chỉ cho tôi xem chỗ sáp vừa bọc ở chân răng để phòng mối mọt,
nói rõ đây là răng thật.
Tôi
mua luôn chiếc răng đó.
Thử
dò hỏi:
-
Đúng là răng báo thật chứ?
-
Bạn bè đâu phải để gạt.
Chủ
tiệm cúi gằm mặt xuống nói, không nhìn thấy nét mặt thế nào.
Chúng
tôi tiếp tục nói chuyện. Có lẽ tại vì đều thích thám hiểm khảo cổ nên hai chúng
tôi rất hợp nhau. Chủ tiệm rất hào phóng, cứ nằng nặc đòi mời tôi ăn cơm. Tôi
giúp anh ta thu dọn sạp hàng, rồi kéo nhau vào một quán cơm Tân Cương gần đó vừa
ăn vừa nói chuyện.
Anh ta tên Trát Ba, là người Tạng.
- Sao anh không ở Tây Tạng, không phải chỗ đó làm ăn dễ
hơn sao?
Tôi hỏi.
- Bạn gái tôi là người Tân Cương, không cần nhiều tiền,
chỉ cần được sống với nhau thôi.
Trát Ba điềm đạm trả lời.
- Những thứ này anh mua buôn lại hả?
- Không hẳn. Một phần là mua của người đi buôn, còn hầu hết
là đến chỗ của dân du mục để thu mua. Cứ hai tháng lại đến Nam Cương một lần,
tìm tới những nơi ở ráp gianh sa mạc thu mua, rồi mang về bán lấy tiền.
Câu chuyện của Trát Ba làm tôi cảm thấy hứng thú lạ kỳ, hỏi
xem lần sau có thể dẫn tôi đi được không? Trát Ba cười cười lắc đầu, nói không
được. Anh ta chưa bao giờ cho người lạ đồng hành, trừ phi là bạn bè. Tôi nhún
vai tự giễu cợt, nâng chén mời Trát Ba uống rượu. Lúc thanh toán anh ta kiên
quyết đòi trả tiền, lý do là “hôm nay tôi đã lấy của anh không ít tiền rồi.”
tôi cảm thấy lòng mình nóng dần lên, đặc biệt thích thú anh chàng người Tạng vừa
thành khẩn thật thà nhưng cũng không mất đi vẻ hào sảng tự nhiên này.
Để đáp lại bữa cơm, tôi mời Trát Ba đi uống rượu. Ấn tượng
của anh ta về tôi cũng không tệ lắm, nên liền vui vẻ đồng ý.
Hai người chui vào một quán bar nhỏ.
Vừa
vào trong đã nghe thấy tiếng nhạc bài “Sgt Pepper’s loney hearts club band” của
The Beatles. Mỗi lần nghe bài hát này là tôi lại nhớ đến cái tên tiếng Trung đọc
muốn méo miệng của nó: “Ban Nhạc Câu Lạc Bộ Các Hạ Sĩ Cô Đơn” Thật không hiểu tại
sao mấy ông già The Beatles lại nghĩ ra được cái tên này? Càng nghĩ tôi lại
càng nghi ng không biết tế bào não của họ có phải do thượng đế đặc biệt chế tạo
và lắp ráp riêng hay không, ít nhất thì cũng rất khác với người bình thường?
Không có The Beatles, thế giới này không biết đã mất đi bao nhiêu niềm vui.
Cũng giống như cuộc sống không có tình yêu vậy.
Chúng
tôi gọi hai chai bia của địa phương sản xuất, vừa uống vừa nói chuyện. Trát Ba
hình như không quen đến bar lắm, cứ hỏi này hỏi nọ mãi. Tôi vừa cười vừa lần lượt
giải thích cặn kẽ từng câu một.
-
Ai đang hát thế?
Trát
Ba uống một ngụm lớn rồi hỏi.
-
Một ban nhạc ở Anh, tên là The Beatles.
Tôi
nhấm một ngụm bia, mỉm cười đáp.
-
Bọn họ đều để tóc dài hết à?
-
Từng để thôi. Tôi thích họ để tóc dài, cả các tác phẩm họ sáng tác lúc ấy nữa.
-
Liệu người này có đến Trung Quốc hát không nhỉ?
-
Muốn đến cũng không được. Họ không phải là một người, mà là bốn người. Hơn nữa
có hai người đã chết rồi.
Trát
Ba trầm ngâm nói:
-
Vậy thì chắc là họ rất khó chịu, trên đời này chẳng còn gì quan trọng hơn bạn
bè cả.
Không
hiểu tại sao, mỗi lời của Trát Ba đều khiến tôi cảm động.
Không
khỏi nhớ lại cái chết của một thành viên The Beatles, George Harrison.
Lần
đó tôi ngồi xe bus đường dài từ Malaisia sang Singapore. Đường dài, tôi thấy buồn
ngủ, bèn bật The Beatles lên nghe, quả nhiên tỉnh táo hẳn. Một người Singapore
ngồi bên cạnh tôi đang đọc báo, tờ báo đó dành hẳn một bài ở vị trí nổi bật để
viết về cái chết của George Harrison. Tôi và ông ta vốn không thân không thích,
đáng lẽ phải như nhìn thấy một người bị xe đụng chết trên đường tiếng rồi thôi.
Thế nhưng chẳng hiểu sao tôi lại thấy lòng mình nhói đau, cái đau còn giữ lại rất
lâu.
Hai
người chìm sâu vào dòng suy tưởng, không ngừng nốc bia, không khí trở nên bức bối
ngột ngạt.
Lúc
này trong loa vang lên bài “Hey! Jude” của The Beatles.
Trát
Ba nói thích, lắc lư đầu theo tiếng nhạc. Đến đoạn “La la la la, hei! Jude!” Tôi bắt trước John
Lennon và Haris son hét lên, Trát Ba cũng hét lên theo tôi, làm khách ở mấy bàn
bên cạnh đều mắt tròn mắt dẹt ngó sang nhìn.
Một cô gái người Duy thẹn thùng bước vào.
Đó là Kha Lan, bạn gái của Trát Ba, làm hướng dẫn viên du
lịch. Nghe nói là một cô nhi.
Nói đến chuyện này, Trát Ba có vẻ rất vui. Nhìn vẻ mặt ngờ
nghệch của tôi, Trát Ba giải thích, cách lý giải về sự sống và cái chết của người
Tạng và người Hán không giống nhau, thực ra sống và chết đều chỉ là một chặng
đường. Huống hồ Kha Lan còn là một cô nhi. Trên đời này không còn tình yêu nào
dành cho Kha Lan lớn bằng tình yêu của Trát Ba! Như vậy thì còn gì mà phải áy
náy nữa.
Tôi nghe mà tim như đau thắt lại, cảm thấy thật hổ thẹn.
Hổ thẹn vì những ngày tháng hoang đàng trong quá hứ, hổ
thẹn vì cái thứ tình yêu giả tạo không kết quả với Bất Bất, hổ thẹn vì giờ đây
mình không nơi nương tựa, không nơi gửi gắm tình cảm. Trát Ba hình như là một tấm
gương, soi chiếu một “tôi” khác, thằng “tôi” đang lẩn trốn trong bầu không khí
bẩn thỉu của thành thị ồn ào.
Sáng hôm sau ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong quyết tâm làm
năm mươi cái chống đẩy, cảm thấy chưa đã, lại làm thêm một bài thể dục nữa. Đi
ra bảng thông báo của khách sạn, nhìn tờ giấy đã dán ở đó hôm trước: “Tìm tám
người cùng đi thám hiểm thành cổ Lâu Lan.” Thấy chỉ có một người để lại lời nhắn,
viết: “Thằng điên!” Tôi nghĩ một lát, rồi viết thêm bên dưới: “Ngoài anh bạn Thằng
Điên này ra, còn ai muốn đi nữa thì xin để lại lời nhắn.”
Nhân viên phục vụ gọi tôi nghe điện thoại, là của công ty
du lịch dã ngoại tổ chức đợt thám hiểm Lâu Lan lần này, họ nói trong tuần này
nhất định phải chốt số người đi, nếu không sẽ hủy bỏ kế hoạch. Tôi gác điện ngoại,
ngồi lỳ trong phòng đọc Ilias của Home re, đọc đến đoạn “Themis cầm chân
Achilles nhúng xuống dòng sông Đen”, liền gấp sách lại, hai tay ôm đầu, dựa
lưng vào đầu giường trầm tư suy nghĩ một lúc lâu.
Buổi chiều nhàn rỗi không có việc gì làm, tôi lại mò ra
chỗ Trát Ba.
Anh ta đang bận mài răng. Nhìn tôi cười cười, ra hiệu ngồi
xuống, rồi lại tiếp tục mài răng. Tôi rút một điếu MOODS đưa cho Trát Ba, hai
người ngồi lặng lẽ hút thuốc, không nói gì. Tôi mang cho Trát Ba một đĩa CD tuyển
tập của The Beatles. Anh ta rất vui, liền mượn ngay máy nghe nhạc ở hàng bên cạnh
nghe từ đầu đến cuối, đầu lắc lư lắc lư, không ngừng nhìn tôi cười cười. Đến
bài “Hey! Jude!” Trát Ba liền rống lên như tối qua, làm tôi bật cười sằng sặc.
Trát Ba lại đòi mời cơm.
Chúng tôi đi đón Kha Lan vừa tiễn đoàn du lịch đi, rồi đến
quảng trường 1- 5.
Ba người gặp hàng nào là xà vào hàng đó, cơm thịt dê, mỳ
kéo, bánh bao rán, mùi vị rất đặc biệt. Kha Lan muốn ăn kem, Trát Ba liền kéo
cô bé sang quán giải khát cạnh đó, còn tôi thì đứng xếp hàng đợi thịt dê xiên
nướng.
Sau đó, đã xảy ra một vụ tranh chấp kịch liệt.
Một đám thanh niên Tân Cương đòi lấn hàng tranh chỗ của
tôi. Tôi không đồng ý, hai bên liền bắt đầu cãi nhau, một gã ăn mặc kiểu Kazakh
bất ngờ đấm mạnh một cái, tôi không đề phòng bị gã ta đánh cho ngã lăn ra đất,
đụng phải cái lò nướng, làm đồ đạc liểng xiểng rơi lên người. Đám thanh niên cười
ồ lên, cứ như kẻ vừa bị đánh không phải người, mà là một con lợn vậy. Tôi lồm cồm
bò dậy, đứng trân mắt nhìn bọn chúng cười. Đám thanh niên tưởng tôi muốn xin lỗi,
lại ngạo mạn cười to hơn nữa, quay đầu đi không thèm nhìn tôi. Tôi lặng lẽ cầm
một chiếc ghế băng dài, xông tới đập thẳng vào lưng gã vừa đánh mình. Gã thanh
niên kêu lên một tiếng rồi gục xuống. Cả đám còn lại đều bừng bừng tức giận,
vây lấy tôi vào giữa. Tôi biết là không xong, liền vứt luôn chiếc ghế trong tay
xuống đất, định để mặc cho chúng muốn làm gì thì làm. Đột nhiên, một tên trong
bọn bất ngờ ngã bổ nhào tới trước mặt tôi. Phía sáu là Trát Ba, anh ta một tay
cầm cái ghế, một tay bảo vệ Kha Lan, ánh mắt lạnh lùng nhìn đám thanh niên còn
lại, tựa như một con báo dũng m trong sa mạc đang nhìn con mồi của mình vậy.
Cảnh sát đến nơi thì sự việc đã kết thúc. Đối phương một
bị thương nặng, hai người không bò dậy nổi. Còn tôi thì bị đánh sưng tím mặt
mũi, cánh tay không nhấc lên nổi. Trát Ba trúng một đao vào vai, vết thương rất
sâu, hình như đã phạm vào đến xương. Cũng may là Kha Lan không sao hết.
Trát Ba bị thương vì bảo vệ tôi.
Vừa rồi lúc đánh nhau, thằng nhãi bị tôi đánh ngã lẻn ra
phía sau, tay lăm lăm cầm dao Yengisar định đánh lén. Trát Ba liếc thấy liền
xông tới ôm chặt lấy tôi. Lưỡi dao đâm vào bả vai ngọt sớt. Điều làm tôi kinh
hãi là lúc bị đâm, Trát Ba không hề tỏ ra đau đớn, ngược lại còn mỉm cười nói với
tôi: “Bây giờ thì chúng ta là bạn rồi!”
Đến bệnh viện băng bó, Trát Ba vẫn cứ như không có chuyện
gì xảy ra, từ đầu đến cuối chỉ cười cười.
Nụ cười ngây ngô của Trát Ba làm tôi nhớ đến Quán Đầu,
trong lòng chợt dâng lên một cảm giác ấm áp khôn tả.
Hôm sau Kha Lan phải theo đoàn du lịch đi hồ Kanasi, để
Trát Ba để lại cho tôi chăm sóc, chúng tôi bèn quyết định dọn luôn vào khách sạn
ở.
Thực ra phải nói là Trát Ba chăm sóc tôi mới đúng. Cậu ta
chỉ bị thương ở vai, hành động vẫn bình thường. Còn tôi thì một tay không cử động
được, rửa mặt tắm rửa đi toi let đều hết sức khó khăn, đều phải nhờ Trát Ba
giúp đỡ. Lúc rửa mặt, cậu ta dấp ướt khăn, rồi lau mặt cho tôi, sau đó lại giặt
sạch khăn, treo lên chỗ thoáng gió. Lúc đánh răng, Trát Ba bóp kem đánh răng,
rót nước cho tôi, đợi tôi đánh răng xong, liền cầm chiếc cốc dính đầy bọt bẩn
đem đi rửa sạch sẽ.
Chúng tôi ngồi nói chuyện, nói mệt rồi thì xem sách, xem
sách chán lại nghe nhạc, nghe nhạc chán thì đi ngủ, tỉnh dậy lại tiếp tục nói
chuyện, đói thì gọi quán anh cạnh đó mang đồ lên, vừa ăn vừa uống rượu, ăn xong
lại nói chuyện tiếp. Mấy ngày sau, vết thương của cả hai đã đỡ nhiều, ban ngày
tôi ra tiệm của Trát Ba giúp đỡ, đến tối chờ Kha Lan về, ba người chúng tôi lại
dọn đồ đi ăn. Ăn xong thì vác bia ra chợ ngồi nhìn mọi người nhảy múa các điệu
vũ Tân Cương đặc sắc.
Cứ đến chiều tối là có các ông già người Duy ra ngồi
thành một vòng lớn dưới đất, thổi kèn, đàn Donbula, gõ các loại trống khác nhau.
Các cô gái chàng trai địa phương và các du khách đều hoan hỉ nhảy múa rất vui vẻ.
Trát Ba rất hào hứng, cậu ta kéo Kha Lan ra nhảy chung với
mọi người. Họ dơ tay cao quá đầu, eo hông lắc theo nhịp điệu, mũi chân không ngừng
nhún nhảy. Ánh hoàng hôn rải trên người họ, tạo thành một đôi bóng dài lắc lư
trên mặt đất.
Tôi nhìn Trát Ba và Kha Lan, trong lòng bồi hồi cảm động.
Có lẽ hạnh phúc chính là đây.
Trở về khách sạn, cảm giác xúc động đó vẫn còn trào dâng
như sóng cuộn.
Tôi ngồi nghĩ một lát, rồi chạy ra quầy, gọi điện cho
Lông Mi ở nhà. Mãi không thấy ai bắt máy, đành bỏ cuộc.
Lại gọi điện về quán. Trà Sữa nghe máy, nó nói mọi chuyện
đều ổn, bảo tôi đừng lo. Hỏi thăm Bì Tử, nhưng cậu ta không ở quán, không biết
lại lượn đi đâu mất. Tôi buông máy, ngồi ngẩn người ra trong sân một lúc lâu.
Đột nhiên nhận ra nếu có một người trong lòng để mà nhớ
nhung, để mà lo lắng thì thật hạnh phúc biết bao?
Chợt thấy xót xa.
Một hôm, Trát Ba đột nhiên quyết định đến các làng ở xa
thu mua hàng hóa.
Tôi tỏ ý muốn đi cùng, cậu ta liền gật đầu vui vẻ đồng ý.
Hai người thuê một chiếc xe hàng cũ kỹ rách nát, đem các đồ dùng cấn thiết khi
đi đường vứt lên thùng xe, rồi tạm biệt Kha Lan, lên đường từ sáng sớm. Kế hoạch
của tôi với Trát Ba là đi vòng ra phía Tây Bắc sa mạc Taklimakan, thẳng tiến
theo con đường song song với sông Tarim.
Cậu ta bị ảnh hưởng của tôi, lúc lái xe nhất định phải
nghe nhạc mới chịu được.
Tôi bật một album của Nirvan Trát Ba hỏi ban nhạc nào
đang hát? Nghe tôi bảo là Nirvana, ca sĩ chính Kurt Coban đã tự sát. Cậu ta liền
cười cười, bảo chẳng trách, nghe thứ nhạc này mà không tự sát mới là lạ, nói gì
người đã viết ra nó. Rồi cậu ta lại hỏi tôi xem Kurt tự sát thế nào? Tôi nói,
ngậm họng súng vào miệng, rồi lẩy có, một tiếng nổ vang, đầu nát toét, vô cùng bi
tráng. Trát Ba nghe xong thì cười, nói còn có chuyện bi tráng hơn nữa, chính là
sau khi chết đi, được thiên táng trên tảng đá lớn ở di chỉ Cổ Cách, nằm đó cho
lũ chim ưng đầu hói ăn thịt. Tôi hỏi tại sao phải đến tận Cổ Cách. Trát Ba nói
đó là ngôi nhà tinh thần của cậu ta, nhà ở ngay gần đó, mỗi khi gặp chuyện gì
khó khăn, chỉ cần tới khu di chỉ đổ nát đó ngồi một lát là lập tức tìm được
phương cách giải quyết, vô cùng thần ký. Tôi thay đĩa “Trở về Lasa” của Trịnh
Quân vào, rồi cùng Trát Ba hưng phấn hát theo đến lúc khản cả cổ mới thôi.
Chúng tôi lái xe qua núi Thiên Cách Nhĩ cao vút. Đến chạng
vạng tối thì đến được Korla.
Trát Ba dẫn tôi đến một khu chợ bán thổ sản địa phương. Ở
đây có đủ thứ hình thù kỳ lạ, nhìn rất bắt mắt. Cậu ta cẩn thận xem xét từng thứ
một, do dự hồi lâu trước một mảnh gỗ sứt mẻ lung tung, nghe nói mảnh gỗ này được
lấy từ thành cổ Lâu Lan, giá rất cao. Trát Ba đứng thần người ra nhìn một lúc,
thở dài vì đồ vật trong thành cổ bị trộm đem ra ngoài bán, rồi nói ước mơ lớn
nhất đời mình là tìm ra một di chỉ giống như Lâu Lan hay Cổ Cách. Chúng tôi chọn
mua một ít răng thú, sừng và da thú. Tối đến, hai người ngủ trong phòng ngủ
chung của khách sạn, các khách khác cứ ngáy pho pho như sấm, trông chẳng khác
gì cái chuồng lợn.
Trời mới tờ mờ sáng, Trát Ba đã gọi tôi dậy,
Xe hàng đi khỏi Korla, rời khỏi đường quốc lộ đi vào con
đường nhỏ ghập ghềnh khúc khuỷu. Chắc bao lâu sau chúng tôi đã qua sông Khổng
Tước. Trát Ba bảo con sông này nối liền hồ Bác Tư Đằng và Luobupo. Tôi nói có
thể ngồi thuyền đi Lu obupo. Hai người cùng cười phá lên. Nói đến Lu obupo, tất
nhiên không thể không nói đến Bành Gia Mộc và Dư Thuần Chân. Nhắc đến Dư Thuần
Chân, Trát Ba có vẻ rất tôn kính, nói Dư Thuần Chân đã làm thay đổi cách nhìn của
cậu ta với người Hán: hồi trước cứ luôn cho rằng người Hán không thể chịu khổ,
chỉ biết ngồi ở thành phố mà châm chọc người sống trong sa mạc, Dư Thuần Chân
đã cho cậu ta biết thế nào là anh hùng. Trát Ba có một nguyện vọng là được đến
trước mộ Dư Thuần Chân, xem thử linh hồn của người anh hùng còn lẩn khuất nơi
nao.
Đến trưa, thì chúng tôi qua sông Tarim, lên đến đường quốc
lộ chạy ngang sa mạc
Ngồi xuống ven đường, lấy bánh mì, thịt trâu và nước suối
ra ăn nhồm nhoàm. Con đường trước mặt kéo dài mãi dài mãi rồi biến mất ở đường
chân trời. Trát Ba nói cứ đi thẳng thì sẽ đến Tây Tạng, vùng đất của các linh hồn.
Ăn xong, hai chúng tôi nằm xuống vệ đường nghỉ ngơi. Trát Ba nằm một lúc đã
ngáy đều đều, còn tôi thì nằm nghe “Texas, Paris”. Ở trong
không gian này mà nghe thứ nhạc này thì quả thật không còn gì hợp
hơn nữa. Thật khâm phục sự sâu sắc mà một cây ghi ta có thể tạo ra, sức hấp dẫn
thậm chí còn mạnh hơn cả giàn nhạc gi ao hưởng.
Rời khỏi quốc lộ, đường đi càng thêm khó khăn. Chúng tôi
đến Ca Thập thu mua một ít hàng hóa ưa thích. Nhưng không có răng báo của Trát
Ba. Đối phương bật cười: “Thời buổi này biết đi đâu tìm báo bây giờ?” Trát Ba
không hề nản lòng, đi đâu cũng hỏi răng báo.
Chúng tôi rời Ca Thập, qua Diệp Thành đến Hòa Điền. Hòa
Điền là một thị trấn nhỏ ở Nam Cương vẫn còn giữ được phong vị độc đáo của Tân
Cương. Ở đây rất khó tìm được người nào nói lưu loát tiếng Hán, còn tiếng Duy của
Trát Ba thì cũng chẳng ra sao, cuối cùng chúng tôi phải đến trường tiểu học mời
một thầy giáo tiếng Hán làm phiên dịch. Tiếng Hán của thầy giáo người Duy này
cũng không được ổn lắm, nhưng cũng có thể miễn cưỡng chấp nhận. Lúc đi, không
có gì để cảm ơn, tôi liền lấy luôn quyển sử thi Ilias mang theo trong túi tặng
cho ông ta.

