08. Hội chứng lời nguyền Undine (phần 1)
Hội chứng lời nguyền
Undine
Mãi cho tới khi mẹ bảo rằng không có Chúa, nó mới thôi không
tin vào Chúa nữa.
Nó còn nhớ chính xác buổi tối hôm ấy, khi mẹ kể cho nó nghe
bằng một giọng hơi bực bội và sốt ruột:
- Nhưng mà chúng ta đâu có tin vào những thứ mê tín kiểu như
Chúa. Và con cũng đừng có nhắc lại điều này với bố đấy.
Khi ấy nó mới lên sáu. Anita, đứa bạn gái ngồi cùng bàn kể
về đám ma của ông nó, ông nó chết ở Ba Lan, và nhớ lại là cha đạo đã đặt một
cây thánh giá lên xác của ông nó nằm trong quan tài. Tối đến nó hỏi mẹ, cha đạo
là ai và ông ta làm thế để làm gì. Và đó là lần đầu tiên mẹ nó nói về những trò
mê tín ấy. Cho tới lúc ấy nó vẫn tin là có một người vô cùng tốt, để mình có
thể tối tối nằm trong chăn và kể thật khẽ cho người ấy nghe về tất cả - khẽ đến
nỗi không ai có thể nghe thấy - kể cả những gì xảy ra trong nhà và ở ngoài sân.
Chúa chính là như thế.
Nhưng mẹ có lý. Bao giờ mẹ cũng có lý. Mẹ chưa hề nói dối
nó.
Vì vậy mà sau đấy nó không nằm trong chăn để kể cho Người
nghe bất cứ chuyện gì nữa. Khi ấy nó chưa hiểu chính xác “mê tín” là cái gì,
nhưng nó cảm thấy đó là một cái gì rất xấu, bởi vì không được nhắc đến điều đó
với bố cơ mà.
Giờ đây nó cảm thấy thiếu Người vô cùng, khi bố nó cứ tối
đến mới về nhà, say khướt. Bao giờ cũng bắt đầu giống nhau. Những người bạn của
ông đỡ ông xuống từ chiếc xe cảnh sát màu đen mà cả khu ai cũng biết, thỉnh
thoảng bố tự xuống xe, thỉnh thoảng có hai người xốc nách. Ông đạp hoặc lấy
chân đá cửa ầm ầm làm cả tầng thức giấc, sau đó thì lăn vào bếp, nơi mẹ đang sợ
hãi ngồi chờ, và quát. Đơn giản là ông quát. Mẹ ngồi rúm ró trên cái ghế gỗ
xiêu vẹo ở bên cạnh tủ lạnh, lặng lẽ nhìn xuống sàn nhà, tay nắm chặt, còn ông
đứng bên mẹ và quát. Những khi ấy nó trốn trong chăn, quấn chăn thật chặt để
không nghe thấy gì. Nó nói chuyện với Người để át tiếng la hét của bố, nó cầu
xin để bố nó dừng lại. Bố nó càng quát mẹ to bao nhiêu, nó càng run rẩy và ngạt
thở ở trong chăn nhiều bấy nhiêu, nó cầu xin Người giúp đỡ.
Nhưng chưa bao giờ Người nghe thấy lời cầu xin của nó.
Chưa bao giờ.
Do đó mà chắc chắn là mẹ có lý, rằng hoàn toàn không có
Chúa, mà chỉ có những trò mê tín mà thôi.
Sau đấy nó thôi không lên giường và nói chuyện với Người
nữa. Nó đã tự học cách trải qua những trận lôi đình của bố ở trong bếp. Đầu
tiên nó vặn những đồ chơi phát nhạc mà lần sinh nhật nào ông ngoại cũng mang
đến cho nó, rồi đến cái đài xách tay, nó lấy ở trên bàn xuống và ngồi nghe ở đằng
sau tủ, tai ghé sát vào loa. Nhiều khi ngay cả thế cũng chẳng giúp được gì. Vì
giọng của bố nó vừa to vừa khỏe. Ngoài ra ông ấy lại còn la hét suốt ngày ở chỗ
làm. Ông quát tháo mọi người. Ông đã học được thói quát tháo.
Nó nhớ có lần, không thể chịu nổi, nó đã mở máy hút bụi mà
mẹ nó để ở tủ trong phòng nó. Thế mà có tác dụng. Trong bếp bỗng nhiên im lặng.
Bố vào phòng nó, tay cầm chai rượu và đang trong cơn thịnh nộ, ông giựt cái dây
điện của máy hút bụi, làm cái dây bật ra cùng với cả ổ cắm và một mảng vữa. Bố
quật cái ổ cắm vào đầu mẹ khi đó đang chạy theo sau.
Tối hôm đó, lần đầu tiên mẹ cùng với nó đi khỏi nhà. Hai mẹ
con lang thang vô định ngoài phố ở Rostock,
sau đó, khi trời quá lạnh, hai mẹ con lên tàu điện và đi suốt đêm. Nó trong bộ
pizama bằng vải flanen, bên ngoài là cái áo khoác bông hóa học màu tím, chân đi
đôi dép nỉ, còn mẹ mặc một cái áo khoác da thùng thình, đội mũ len mầu mận dính
máu. Mẹ không đi băng bó vết thương ở đầu. Vợ của những cảnh sát ở Rostock, đặc biệt là vợ
các sĩ quan STASI(11) không băng bó vết thương.
Đêm hôm ấy, nó đã biết chắc chắn rằng Người, đó là mê
tín.
Sau đó nó thường xuyên cùng mẹ chạy trốn trên những chuyến
tàu điện và những phố đêm. Hai mẹ con có tuyến đường yêu thích của mình và
chương trình cho cả một đêm, đến tận sáng. Khi ánh sáng mờ mờ của ban ngày bắt
đầu thế chỗ cho màn đêm, cả hai mới quay về nhà. Họ khẽ mở cửa, vội vàng vào
phòng nó, lên giường và ôm chặt lấy nhau. Mẹ khóc. Khi ấy thì bố ngủ lâu rồi, thường
là gục đầu lên bàn bếp hoặc nằm trên giường trong phòng ngủ, để nguyên quần áo
và giầy.
Có một đêm, hai mẹ con đi tàu điện đến tận cuối thành phố,
dọc theo một con phố bên bờ biển và ngắm mặt trời lên. Họ ngồi trên những tấm
bê tông chắn sóng trồi lên ngay bên cạnh những đống gạch vụn bao quanh lâu đài
cổ đã từ lâu ai cũng sợ vì phần chân thành đang hư hỏng. Hồi trước, ở chỗ bây
giờ là nhà máy đóng tàu, là một cảng cá. Bác lái tàu điện, người biết rất rõ về
hai mẹ con vì vẫn thường đi với họ khắp Rostock đã kể như vậy. Bác ấy
dừng tàu, cho dù đấy không phải là bến, ngay đầu con đường nhựa ven biển và hứa
sẽ chờ họ. Đêm ấy hai mẹ con về nhà muộn hơn thường lệ. Khi nó ngủ, nép sát vào
mẹ như mọi lần, điều ấy đã xảy ra lần đầu tiên. Đúng là đêm hôm ấy, thực sự là
lần đầu tiên, nó đã chết giấc một lúc trong khi ngủ. Khi ấy nó lên tám.
Matylda biết rằng mình không bao giờ một mình qua đêm với
bất cứ một người đàn ông nào. Không bao giờ.
Từ này đã hoàn toàn không còn tác động gì đến cô nữa. Vì từ
lâu cô đã biết rằng hầu như mỗi “không bao giờ” nào cũng có thể được hiểu theo
một cách nào đó. Bởi nếu không thế thì cô đã chết khi còn là một đứa trẻ, vậy
mà hôm qua cô đã tròn hai mươi tư tuổi.
Ngoài ra, tại sao ngày với đàn ông lại đẹp hơn đêm nhỉ?!
Cô căm thù đêm. Cô không thể chịu nổi những buổi hoàng hôn,
bóng đêm và chòm sao Đại Hùng tinh trước một ngày nóng bức. Ngày bao giờ cũng
đẹp hơn đêm. Đêm sẽ không bao giờ được như vậy.
Không bao giờ.
Khi người ta đã có vài chục lần “không bao giờ”, thì một lần
nữa sẽ chẳng tạo được ấn tượng gì.
Chỉ có một lần đã gây được ấn tượng.
“KHÔNG BAO GIỜ” duy nhất mà cô không thể hình dung ra được.
Đó là Jakob có thể không bao giờ đến nhà cô vào buổi tối
nữa.
Jakob là quan trọng nhất. Jakob ở bên cô và có mặt khi cô
thức dậy.
Jakob bảo cô quay người lại. Nhắc cô để hai tay dọc theo
người. Jakob nhắm mắt lại khi cô cởi nịt vú và quần lót để thay váy ngủ hay
pizama.
Jakob mở và đóng cửa sổ phòng cô. Jakob lo sao cho đèn ngủ
của cô đêm nào cũng sáng. Và anh bao giờ cũng có một cái bóng điện dự trữ.
Nhưng quan trọng nhất là jakob không bao giờ ngủ.
KHÔNG BAO GIỜ.
Thực sự là không bao giờ.
Nghĩa là cho tới lúc này anh chưa bao giờ ngủ. Mà anh ở bên
cô khi cô ngủ và khi cô thức dậy đã mười sáu năm nay.
Hàng đêm.
Cô lên tám, khi lần đầu tiên anh đến nhà cô.
Và anh đã ở lại.
Bây giờ cô hai mười tư tuổi. Jakob có mặt trong tất cả những
sự kiện quan trọng nhất. Khi buổi đầu tiên đến trường trung học cô đã không ngủ
được vì hưng phấn. Khi bố cô bỏ đi để hai mẹ con ở lại. Khi đêm đầu tiên mẹ cùng
với dượng ở phòng bên cạnh, người đàn ông mà cô rất ghét mặc dù ông ta thật tốt
và rất chăm sóc mẹ. Anh cũng có mặt vào cái đêm đứa em gái cùng mẹ khác bố của
cô ra đời, cả cái đêm cô đi cùng với Madona đến Dachau nữa.
Cái đêm khi lần đầu tiên cô thấy kinh, anh cũng ở đấy. Cô bị
vào ban đêm. Jakob đã để ý thấy điều đó, vì anh không bao giờ ngủ khi cô ngủ.
Không bao giờ. Cô thức giấc vì thấy ướt và cảm thấy bụng dưới quặn lên rất
khác. Khi ý thức được chuyện vừa xảy ra, cô bắt đầu khóc. Vì xấu hổ. Lúc ấy
Jakob đã cầm tay cô rất nhẹ, hôn lên má cô, lau nước mắt cho cô và gọi thầm tên
cô.
Cũng đã có lần bố bế cô và gọi thầm tên cô. Lâu lắm rồi. Khi
cô còn là một đứa bé. Vào cái ngày nào đó, ông đưa cô ra sân, đặt cô lên gạc ba
ga cái xe đạp cũ kĩ của mẹ và chở cô đi quanh khu, trên những con đường đầy ổ
gà. Cô ngồi, lấy hết sức để ôm thắt lưng bố. Đến một cái ổ gà, chân cô vướng
vào nan hoa bánh sau. Chỗ sát gót chân, thịt bị bóc đến tận xương, chiếc tất
trắng thấm đỏ máu cho đến tận mắt cá. Cô gần như ngất đi vì đau. Khi
biết chuyện gì xảy ra, ngay lập tức bố dừng xe, bế cô trên tay, gọi thầm tên cô
và chạy đến khu nhà cạnh bưu điện, nơi taxi vẫn hay đỗ. Ở bệnh viện người ta
khâu cho cô mấy mũi. Vết sẹo tím bầm, cứ đến mùa hè là chuyển sang màu đỏ, đến
bây giờ vẫn còn. Nhưng cái thực sự còn lại trong trí nhớ cô từ lần ấy, chính là
giọng nói run rẩy của bố khi bế cô ra chỗ taxi và gọi thầm tên cô.
Và cái đêm hôm ấy, khi lần đầu tiên cô thấy kinh, Jakob cũng
cầm tay cô, cũng thầm thì nhắc tên cô: “Matylda”. Rồi anh lấy cái ga trải
giường sạch trong tủ ra. Cô xấu hổ quá. Xấu hổ kinh khủng. Sau đó cô đã khóc
trong chăn vì xấu hổ. Anh biết là cô khóc. Bởi anh theo dõi tất cả. Đặc biệt là
nhịp tim của cô. Khi người ta khóc, tim co bóp khác hẳn. Jakob quan tâm đến tim
cô hơn cả. Anh biết tất cả về nó. Anh mang theo trong ví cái máy đo điện tâm
đồ. Bên cạnh ảnh của cô. Bao giờ cũng là cái ảnh mới nhất. Đượcép plastic.
Để không thể hỏng được.
Đêm ấy là một đêm đặc biệt. Cô nhớ là cô không ngủ được cho
đến sáng. Khi nỗi xấu hổ qua đi, cô thấy hưng phấn và sốt ruột. Cô không thể
chờ được cho đến sáng. Đương nhiên là Jakob ghi nhận được điều này, rằng cô
không ngủ, nhưng không để lộ một thái độ gì. Sáng ra, cô chạy đến trường sớm
hơn thường lệ. Cô đứng ở nơi gửi đồ để chờ Anita. Cô muốn kể cho Anita ngay. Cô
nhớ là cô cảm thấy tự hào như thế nào đấy và muốn chia sẻ điều đó với đứa bạn
thân nhất. Cô cảm thấy cái điều xảy ra đêm qua hơi giống như sự vượt qua một
ranh giới nào đấy. Ranh giới giữa sự trưởng thành và tuổi thơ. Mặc dù cô đã
được chuẩn bị cho chuyện này - ở trường, họ đã tranh luận với nhau rất chi tiết
từ hồi học phổ thông cơ sở - nhưng cô hoàn toàn không có cảm xúc rằng đây chỉ
là một hiện tượng sinh học đơn thuần, chỉ là một bước tiếp theo tự nhiên, và
khi đó cô đã nghĩ – mặc dù bây giờ nghĩ lại cô vẫn buồn cười mình – rằng đây
không phải là bất cứ một hiện tượng sinh học nào, mà chỉ là một biểu hiện của ý
chí, nhờ đó mà cô hồi sinh và biến đổi. Tất nhiên khi đó, mới mười ba tuổi, cô
chưa đủ thông minh để diễn đạt điều đó như “ một biểu hiện của ý chí”, nhưng
bây giờ thì cô biết đó chính là cách diễn đạt chính xác nhất cái mà lúc đó cô
cảm thấy.
Ngoài ra, cho dù điều này có vẻ rất lạ lùng, hiện nay cô nhớ
chính xác cái cảm giác của của lần có kinh đầu tiên ấy hơn là nụ hôn đầu tiên.
Cũng có thể vì sự có mặt của Jakob đã làm cô xấu hổ. Cô còn nhớ là những tháng
đầu, cô đã rất sốt ruột chờ đợi “những ngày ấy”, chúng đến đều đặn một cách
đáng kinh ngạc, chúng cho cô cảm giác của sự trưởng thành và nữ tính và khẳng định
cô trong anh. Khi đó, trong ba bốn tháng đầu tiên, mọi thứ trong cái nghi lễ
hàng tháng ấy đều làm cô thích thú. Kể cả cái bụng dưới đau đau cũng đem đến
cho cô cảm giác đặc biệt, rằng “mình đã, còn những đứa bạn gái khác thì chưa”.
Cách đây không lâu, đọc lại nhật kí của Anna Frank, cô hoàn toàn không thấy
ngạc nhiên khi bà viết về những kì kinh đầu tiên của mình với niềm tự hào đến
thế. Về sau, sự hài lòng với diện mạo đàn bà tất nhiên cũng qua đi và cô bắt
đầu cảm thấy khó chịu vì đau đầu, đau ngực, mặt nổi mụn và nhiều khi muốn khóc.
Jakob cũng nhận thấy cô đã bước qua một ranh giới vào cái
đêm hôm ấy. Ngày hôm sau, anh đến thăm, chính thức, từ sáng, chứ không phải
chiều tối như mọi khi. Anh mang theo hoa. Mặc complê. Thắt một cái cravát da
nhỏ lỗi mốt. Và anh tỏ ra trịnh trọng đến tức cười. Mùi thơm của anh cũng khác.
Anh mang đến một bó hoa đừng-quên-em màu da trời vĩ đại. Vì khi ấy đang là mùa
xuân. Anh chẳng nói gì, chỉ để hoa vào bình rồi đặt lên vệ cửa sổ trong phòng
cô. Và hôn tay cô. Cô đã xúc động một cách thông thường nhất trên đời này.
Và từ đêm ấy và ngày hôm sau, cô đã cùng với những bông hoa
trên bệ cửa sổ chờ Jakob đến vào buổi tối khác hơn. Giờ đây thậm chí cô không
biết phải giải thích điều đó như thế nào, nhưng cô biết rằng lúc đó cô đã muốn
nằm ngủ bên anh, thơm tho, với mái tóc xõa trên gối và trong bộ đồ ngủ thật
đẹp.
Jakob không chỉ biết tất cả về trái tim cô. Anh còn biết cả
về máu của cô nữa. Anh biết trong đó có bao nhiêu oxy, bao nhiêu carbonic. Bao
nhiêu hemoglobin, bao nhiêu creatin. Anh còn biết cả nhiệt độ là bao nhiêu. Cho
nên khi cô yêu, Jakob có thể nhận ra và ghi lại, thậm chí đo nữa.
Có lẽ vì cô vẫn chưa yêu thực sự. Đó là với Krystian, tám
năm trước đây. Mặc dù hồi ấy, với chính Krystian cô đã hôn lần đầu tiên trong
đời. Chính xác là ngày hai tám tháng Sáu, vào thứ bảy. Krystian thì đã yêu cô
từ hồi tháng Ba. Điều này thì bọn bạn gái của cô đứa nào cũng biết. Chỉ mỗi cô
là không. Anh thật tình cảm, tinh tế và nhạy cảm. Mặc dù anh đã vào trường học
nghề, còn cô học ở một trường trung học tốt nhất ở Rostock. Và anh đã có một
sáng kiến là, để chứng minh cho tình yêu của mình, anh đã dập điếu thuốc lá
ngay trên tay. Và tặng cô thẻ học sinh của mình. Có lần cô nhìn thấy anh say
rượu, thế là cô không muốn gặp anh nữa. Anh không chấp nhận điều đó. Anh đến.
Đứng hàng giờ dưới khu nhà cô. Và viết. Một lần anh gửi một lá thư, trong đó có
vẽ một trái tim, ở giữa trái tim là tên cô “Matylda” được viết bằng chì đỏ. Ở
một góc trái tim có chữ “Cha mẹ”, còn ở góc kia là tên đội bóng đá của Rostock.
Anh viết cho cô trong vòng hai năm. Chưa bao giờ cô trả lời.
Mà cô lại muốn yêu vô cùng. Và luôn ở bên người ấy và không
nhận được một thư nào của người ấy cả. Bởi khi người ta không xa rời nhau thì
không có những lá thư.
Và làm sao để người ấy hơi giống với Jakob.
Từ khi biết nhau, Jakob mới chỉ có một lần duy nhất là mặc
complê. Là lần họ đi cùng Madona đến Dachau. Đó là vào thứ bảy. Sinh nhật
cô. Sinh nhật quan trọng nhất, sinh nhật lần thứ mười tám. Dường như chẳng có
gì khác mọi năm. Ăn sáng, hoa, những lời chúc mừng của mẹ và dượng. Vài cú điện
thoại chúc mừng vào buổi sáng. Chỉ không có gì của bố. Và khi đó cái ôtô ấy
đến. Chính xác vào ban trưa. Jakob xuống xe. Trong bộ complê với chiếc cravát
da nhỏ ấy. Anh đi đến chỗ cô, chúc mừng sinh nhật và nói rằng sẽ đưa cô đi xem
Madona biểu diễn. Ở Berlin. Chỉ đơn giản vậy. Cứ như là Berlin ở ngay cạnh công
viên ở Rostock ấy.
Cô rất muốn được một lần nào đó xem biểu diễn ca nhạc. Và cô
rất thích Madona. Cô đã không dám tin khi Jakob rất tự nhiên đứng trước cô ở
sảnh và tươi cười hỏi:
- Thế nào? Chúng mình đi chứ?
Mẹ và dượng đã biết mọi chuyện từ lâu, chỉ có điều họ giữ bí
mật. Cô không cầm được nước mắt.
Jakob nói rằng sau buổi biểu diễn, họ sẽ phải ngủ lại
ở Berlin. Suốt ba tháng trời anh phải liên hệ với quỹ dành cho người bệnh
và một phòng khám ở Berlin để mượn thiết bị. Hai ngày trước sinh nhật
cô, anh phải đi Berlin từ sáng sớm để lắp đặt mọi thứ trong khách sạn. Tối anh
lại về và ở bên cô như mọi đêm.
Có bốn mươi ngàn người đến xem buổi biểu diễn. Jakob đứng
cạnh cô trong bộ complê và với cái cravát buồn cười ấy và cũng nhảy cẫng lên
cùng đám đông hệt như cô. Khi Madona bước ra chào khán giả đang vỗ tay không
ngớt, cô quay lại và hôn vào má anh. Chưa bao giờ cô hạnh phúc như buổi tối hôm
đó.
Hôm sau, họ đi cùng với Madona đến Dachau. Mặc dù biết rằng
báo chí vẫn khuyếch trương mọi chuyện, nhưng cô vẫn cảm động thế khi đọc rằng
“Madona đã đến thăm Dachau”. Thực ra không hoàn toàn chính xác là họ đi cùng
Madona: chị ấy bay trên chiếc trực thăng của mình, còn họ đi bằng ôtô cùng ngày
hôm đó. Đó là sáng kiến của Jakob.
Tất nhiên là cô đã biết về các trại tập trung từ hồi còn ở
trường. Lần nào đọc nhật kí của Anna Frank theo gợi ý của bà nội, cô cũng khóc.
Từ khi bức tường Berlin sụp đổ, họ nói về điều đó ở trường thường
xuyên hơn và cụ thể hơn rất nhiều. Cô đọc về chúng mỗi khi có thể, nhưng sự
trừu tượng của chúng cho phép cô phần nào đồng ý với điều đó và không nghĩ rằng
người Đức đã làm điều đó cho thế giới. Nhưng ở đây chẳng có gì là trừu tượng. Những
ngôi nhà lụp xụp, những bức tường lỗ chỗ vết đạn với những hình thập tự và
những ngôi sao David được khoét ra, những ngọn nến màu trên từng bước chân,
những bông hoa trên những chiếc xe cạnh lò sưởi, những bông hoa được bó lại
bằng những sợi dây màu ngay trên cành gai, những ống khói và hàng ngàn bức ảnh
trên tường. Những cái đầu cạo trọc, những khuôn mặt gầy guộc, những hốc mắt to,
và tuổi, và số ở góc dưới bên trái. Mười sáu tuổi, mười bảy tuổi, năm mươi tư
tuổi, mười hai tuổi, mười tám tuổi...

