Mariana - Chương 06
Chương 6
“Mariana.” Vivien Wells cuộn cái
tên trên đầu lưỡi như định lượng năm sản xuất rượu, rồi nhíu mày quay đầu ra
sau. “Không, tôi không nhớ từng nghe nói ai đó có cái tên này. Anh thì sao,
Ned?”
Không buồn ngẩng lên từ tờ báo, anh
chàng phục vụ quầy bar lắc đầu, Vivien tiếp tục cân nhắc khi tính tiền.
“Cái tên này khá lạ, không phải
sao?” Cô ấy nói. “Một cái tên cổ.”
“Hài hước là cô lại gọi cái tên đó
như vậy.” Tôi cười với ly nước cam, cô ấy hứng thú ngẩng đầu lên.
“Còn cô vẫn tìm kiếm những lá thư
cũ nhét dưới ván sàn đấy hả?” Cô ấy hỏi.
“Gần tương tự. Thực sự cũng không
quan trọng đâu.” Tôi đặt ly lên quầy bar và liếc về phía chiếc bàn trống trong
góc.
“Tôi thấy những người đàn ông chưa
đến hôm nay.”
Vivien nhìn theo tôi và mỉm cười.
“Vẫn còn sớm”
Tôi ngó đồng hồ và nhìn, với chút
ngạc nhiên, mới mười hai giờ rưỡi. Phải thừa nhận vẫn còn hơi sớm cho người dân
lương thiện ở Exbury đến quán rượu, nhất là vào Chủ nhật. Dẫu thế, với tôi thì
cứ như thể đã đến giữa chiều rồi vậy.
Tôi có một giấc ngủ tệ hại đêm hôm
trước. “Ngủ” có lẽ không phải từ chính xác, bởi hầu hết cả đêm tôi đều trừng
mắt nhìn vào bóng tối, dõi theo chiếc đồng hồ điện tử dạ quang cạnh giường hiển
thị từng phút một.
Tôi nhớ lại những khoảnh khắc lạ
lùng và đáng sợ trong hẻm Blackfriars, lật đi lật lại chúng trong tâm trí cho
đến khi có cảm giác mình hẳn đã bị điên. Nó không giống trải nghiệm có thể kể
với bất kì ai. Tom có thể sẽ lắng nghe, nhưng hôm nay là Chủ nhật, và liên lạc
với Tom vào Chủ nhật là điều không tưởng. Trên chiếc bàn ăn sáng trong căn hộ
đơn độc ở Luân Đôn, con mèo của Cheryl cứ nhìn chằm chằm vào tôi.
“Mày nghĩ gì thế?” Tôi hỏi nó. “Tao
sắp mất trí rồi phải không?” Con mèo đơn giản vẫn tiếp tục nhìn, Không mong đợi
có được câu trả lời từ hướng đó nên tôi trở về nhà. Thật lạ lùng, tôi nghĩ,
chẳng mấy chốc mà ngôi làng nhỏ hẻo lánh đã mang lại cho tôi cảm giác như ở
nhà. Càng lạ hơn khi Luân Đôn, nơi tôi sinh sống biết bao năm, giờ dường như
trở nên xa cách và tách biệt đến lạ.
“Quay lại thành phố vui chứ?” Câu
hỏi của Vivien nhảy vào tâm trí tôi với sự chính xác đến kỳ quặc.
“Cô có biết”, tôi từ tốn nói, “tôi
đang nghĩ thật mừng khi thoát khỏi Luân Đôn không? Đã trở về nhà”.
Cô ấy gật đầu thấu hiểu. “Sống ở
đấy đủ lâu, và Luân Đôn có vẻ bắt đầu trở nên không thực. Người ta quá căng
thẳng khi sống ở đó. Tôi thường tự hỏi làm sao ai đó có thể chịu đựng được loại
căng thẳng ấy ngày này qua ngày khác. Anh nghĩ thế nào hả, Iain?”
Tôi giật nảy trên ghế và quay lại.
Như mọi khi, tôi không nghe thấy tiếng anh ta tiến lại gần.
“Anh á? Anh không khoái Luân Đôn”,
Iain Sumner vừa nói vừa chống khuỷu tay lên quầy bar và vắt chéo đôi chân đi
bốt nặng nề.
“Anh di chuyển cứ như một con mèo
phải gió vậy”, tôi cáu kỉnh buộc tội anh ta, dây thần kinh của tôi tróc hết cả
ra vì thiếu ngủ. Anh ta quay đầu sang nhìn tôi, rồi nhướn một bên lông mày khó
hiểu lên.
“Tôi xin lỗi”, anh ta bình tĩnh
nói. “Cô có muốn tôi huýt sáo, hay làm gì để đánh động cho cô biết rằng tôi
đang đến không?”
“Ý hay đấy.” Vivien bật cười, đôi
mắt xanh dương nhảy múa. Tôi có ấn tượng rõ nét rằng cô ấy rất quý mến Iain
Sumner. “Anh vẫn uống như mọi khi chứ?”
“Ừ”, anh ta gật đầu, quan sát cô ấy
rót cho mình một vại bia đắng sủi bọt màu đen. Anh ta lôi từ túi áo sơ mi một
gói thuốc lá nhăn nhúm, lắc ra một điếu và tò mò nhìn tôi. “Cô có phiền không?”
“Ý anh là nếu anh hút thuốc ấy hả?”
Tôi lắc đầu. “Không đâu.”
“Cảm ơn.” Anh ta châm điếu thuốc,
khum những ngón tay lem nhem đất quanh que diêm và lờ đi ánh nhìn phê phán của
Vivien.
“Em tưởng anh bỏ rồi”, cô nói.
“Ừ. Mẹ anh cũng vậy.” Anh ta nhìn
thấy cô ấy ra chiều vô tội. “Anh mới từ lâu đài về. Geoff nói cậu ta đã tìm
thấy tất cả giấy tờ em hỏi, những tài liệu cậu ấy dùng cho việc nghiên cứu lịch
sử lâu đài và hỏi em có muốn mời cậu ấy uống cà phê tối nay không, để cậu ấy có
thể mang đến đây cho em với Julia xem.”
“Em có muốn mời anh ấy không á? Thế
mới ghê chứ!” Vivien nở nụ cười thật rộng. “Gì nữa đây, nông dân bọn em không
được phép đến lâu đài vào Chủ nhật à?”
Iain nâng vại bia của mình lên và
nhún vai. “Có vẻ người giúp việc mới về cách đây không lâu. Em biết Geoff rồi
đây. Cậu ta đã bày bừa một đống khi tìm đám giấy tờ.”
“Được rồi”, Vivien đầu hàng, “bảo
anh ấy cứ xem như được mời đi. Đó là nếu Julia rỗi. Phải không?”
Tôi gật đầu.
“Tốt. Vậy chúng ta hẹn bảy giờ nhé?
Iain thì sao?”
Đôi lông mày của anh ta nhướn lên.
“Anh cũng được mời à?”
“Anh lúc nào cũng được mời”, cô ấy
bảo anh ta.
“Thế thì em tốt nhất nên bồi dưỡng
cho anh.”
“Em sẽ làm sandwich”, Vivien nghiêm
túc hứa hẹn. “Nhân đây, cái tên Mariana có ý nghĩa gì với anh không?”
“Shakespeare”, là câu trả lời tức
khắc và không ngờ của anh ta.
“Shakespeare?” Tôi lặp lại và anh
ta gật đầu.
“Vị hôn thê lén lút của Angelo
trong vở Mạt cưa mướp đắng[1].”
[1] Vở bi kịch có tên Measure
for measure của Shakspear.
“Ồ.”
“Nó có ý nghĩa gì đó khác không?”
“Không sao đâu, thật đấy”, tôi nói,
“tôi chỉ tình cờ đọc được cái tên này trong một… lá thư khi dọn dẹp và tự hỏi
liệu có ai biết cô gái ấy không thôi”. Không ai nhận ra chút vấp váp trong lời
nói dối của tôi.
“Hừm, rõ ràng tôi không phải người
thích hợp nhất để hỏi những chuyện như thế”, Iain thừa nhận với nụ cười khẽ,
“Dì Freda nhà em có thể sẽ biết đấy”, anh ta bảo Vivien. “Hoặc nhóm đàn ông.”
Anh ta bắt đầu về phía chiếc bàn trống trong góc.
“Thật sự không quan trọng đâu”, tôi
lặp lại và gần như hối tiếc vì đã hỏi Vivien ngay từ đầu. Sau cùng, trải nghiệm
lạ lùng của tôi ở hẻm Blackfriars tối qua rất có thể chỉ là sản phẩm từ quá
nhiều rượu, hoặc quá nhiều căng thẳng… hoặc mối nguy ngấm ngầm nào đó từ bệnh
thần kinh đan kết trong dòng họ của tôi. Dù sao đi nữa, khả năng người phụ nữ trẻ
tên Mariana cùng bà bác Mary ồn ào của cô ấy có thật trên đời cũng rất mong
manh. Ít nhất thì tôi thích nghĩ thế hơn. Bởi giả sử thực sự từng có một
Mariana, thì cũng đồng nghĩa rằng tôi…
“Được rồi.” Iain đặt chiếc vại rỗng
xuống quầy bar với tiếng cạch thỏa mãn, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. “Anh đi
đây.”
“Anh sẽ không quên chuyển lời nhắn
của em đến Geoff đấy chứ?” Vivien hỏi khi Iain quay ra cửa.
“Không, anh không quên đâu. Mà em
biết không”, anh ta nghiêm trang, “mấy người bọn em nên học cách sử dụng điện
thoại và cứu lấy đôi chân đau nhức của anh đi thôi”.
“Đi bộ tốt cho anh còn gì”, cô ấy
bắn trả.
“Hẳn rồi. Vậy hẹn gặp lại hai người
sau nhé.”
“Anh ấy thực sự rất tuyệt”, Vivien
cất tiếng lúc cánh cửa sập lại sau lưng anh ta.
“Và đọc Shakespeare.”
“Điều đó khiến cô ngạc nhiên phải
không? Dù tin hay không thì Iain cũng nghiên cứu Ngữ văn ở Cambridge. Thế nên
anh ấy với Geoff mới gặp nhau.”
“Vậy ư? Và giờ anh ấy chăn cừu?”
“Ừm. Hiện tại Iain chăn nuôi. Anh
ấy có thể làm rất nhiều chuyện với cuộc đời của mình – ý tôi là, anh ấy ổn định
về mặt tài chính và có thể trở nên thông minh chết người bất cứ khi nào anh ấy
muốn. Nhưng tôi nghĩ anh ấy hạnh phúc nhất khi vầy vò với đám đất.”
“Còn Geoffrey de Mornay học gì ở
Cambridge vậy?” Tôi hỏi, hy vọng sự thờ ơ ở đúng mức độ.
“Chính trị, tôi nghĩ thế. Không
phải cái anh ấy cần. Chưa bao giờ phải thắc mắc về tương lai của Geoff.” Cô ấy
mỉm cười. “Ông của anh ấy là người đã lập nên hãng điện tử Morland.”
“Tôi hiểu.” Có chút điếng người.
Logo màu đỏ tươi của Morland gần như có thể nhận ra như cái bóng của bãi đá cổ
Stonehenge, và gần như truyền đi nỗi kinh sợ. Từ một công ty sản xuất các thiết
bị radio nhỏ trong thời chiến, Morland đã bành trướng thành một trong những
công ty đa quốc gia lớn nhất nước Anh. Tôi đoán lợi nhuận hằng năm của nó phải
tính bằng con số hàng nghìn tỷ bảng.
“Cô vẫn chưa gặp anh ấy à?” Vivien
hỏi.
“Thực tế thì tôi gặp rồi. Chiều thứ
Năm tuần trước. Đại loại chúng tôi đâm phải nhau trên lối đi cạnh nhà thờ.”
“Vậy ư? Lạ là anh ấy không nhắc
đến.” Cô ấy nhìn tôi tò mò. “Khôi ngô chết người, phải không? Tôi thường nghĩ
ông trời thật bất công khi cho một người tất cả tiền tài và một khuôn mặt như
thế.”
“Tôi hình dung anh ta hẳn đã bị mọi
cô gái trong làng theo đuổi”, tôi nói. Một câu hỏi dò mạo hiểm và đáng xấu hổ,
Vivien lại mỉm cười.
“Tôi cũng theo đuổi anh ấy”, cô ấy
thừa nhận, “khi còn đi học. Cô sẽ thấy anh ấy là điều gì đó thật tuyệt vời, cô
nên nhìn anh ấy lúc đó. Anh ấy sống năm năm ở California và có làn da rám nắng
khủng khiếp, mỗi khi nói đều lẫn một chút trọng âm Mỹ”. Cô ấy lim dim mắt tán
thưởng. “Nhưng đương nhiên anh ấy để mất chúng còn nhanh hơn. Cambridge đã gột
đám trọng âm ấy đi.”
“California?” Điều đó khiến tôi
ngạc nhiên. “Anh ấy làm gì ở đó vậy?”
“Cha mẹ Geoff ly hôn khi anh ấy lên
mười một tuổi. Mẹ anh ấy bỏ theo người đàn ông khác và Geoff đến Mỹ với cha
mình. Tôi nghĩ Morland có một chi nhánh lớn ở đó, gần San Francisco. Dù
sao lúc mười sáu tuổi thì cuối cùng Geoff cũng quay về. Coi như một chút điều
chỉnh với anh ấy”, cô ấy lại mỉm cười nói. “Dẫu vâỵ, anh ấy vẫn không hòa nhập
được với cộng đồng ở đây và thậm chí mọi chuyện còn tệ hơn khi anh ấy quay lại
– ai anh ấy cũng kết bạn hết. Kể cả tôi”, cô ấy toe toét thêm vào. “Cứ nghĩ mà
xem, thời gian đó chúng tôi sống chung dưới một mái nhà, nên có kết bạn thì
cũng chẳng có gì đáng chê trách cả, nhưng vẫn khiến vài người nhướn mày. Giờ
ngẫu nhiên vẫn vậy đấy.”
Tôi thoáng nhíu mày và cố gắng bắt
theo. “Cô đã sống ở lâu đài Crofton sao?” Tôi ngập ngừng. “Khi cô còn nhỏ?”
“Phải. Xin lỗi, tôi quên mất là cô
không biết.” Một nụ cười lúng túng xoẹt qua. “Tôi cứ luôn phải nhắc bản thân,
cô biết đấy, rằng chúng ta chỉ mới gặp nhau. Nhưng đôi khi cứ như tôi với cô đã
kết bạn hàng năm trời rồi ấy, cô có cảm thấy thế không? Dù sao thì đúng, lúc còn
nhỏ, tôi đã sống ở lâu đài. Dì tôi trông tòa nhà hộ cha của Geoff, cô thấy đấy,
và tôi đã sống với dì ấy. Cha mẹ tôi”, cô giải thích, trước khi tôi kịp hỏi,
“mất trong một tai nạn tàu hỏa nhiều năm trước. Tôi hầu như không nhớ nổi mặt
họ. Dì Freda đã cưu mang tôi, và xét cho cùng đã thực hiện việc ấy một cách phi
thường, dù tôi chắc chắn mình là nguyên nhân cho từng sợi tóc bạc trên mái đầu
dì”. Cô mỉm cười trước dòng ký ức. “Một đêm, dì phát hiện tôi có mặt trong
những tấm ảnh cùng Geoff. Thế là dì bắt tôi qua đường đến nhà ông bà tôi, cùng
chiếc vali. Không đứa cháu nào của dì được trở thành đề tài cho các câu chuyện
ngồi lê đôi mách của dân làng. Dì Freda tội nghiệp.”
Tôi dùng chiếc ly vạch lên một biểu
tượng vu vơ trên quầy bar. “Vậy cô và Geoffrey de Mornay từng là…”
“Ôi, lạy trời, không. Chẳng có gì
nghiêm túc cả. Thực đây, chưa bao giờ có ai thực sự nghiêm túc, với Geoff.” Nụ
cười của Vivien trở nên rộng hơn khi nhìn vào mắt tôi. “Vẫn chưa.”
Tôi thoáng đỏ mặt và uống nhanh một
ngụm từ ly nước quả.
“Cô có chắc không muốn thứ gì mạnh
hơn không?”
“Chắc mà.” Tôi nói, rồi xoay cổ tay
để có thể nhìn thấy mặt đồng hồ. “Thực sự tôi nên về đây. Tôi vẫn phải sắp xếp
cho xong xưởng vẽ, và sau đó, nếu may mắn thì tôi có thể ngủ vài giờ trước khi
trời tối. Hôm ở Luân Đôn tôi không ngủ ngon mấy.”
“Trông cô mệt lắm”, Vivien nói.
“Nếu muốn thì lúc nào chúng ta cũng có thể hoãn bài học lịch sử được mà.”
“Ôi, không không. Tôi sẽ ổn thôi.
Bảy giờ phải không?”
Cô ấy gật đầu. “Cứ đi vòng ra cửa
sau. Đấy là khu vực riêng của tôi. Ned có thể tự mình trông quán một đêm, đúng
không cưng?”
Tại đầu kia của quầy bar, Ned lật
một tờ của trang thể thao. “Ừ, đương nhiên rồi”, anh ta nói.
Hẳn có điều gì đó lộ trên mặt tôi
khi nghĩ Ned tự mình trông quán ra sao, bởi Vivien cười ha hả.
“Anh có thấy ấn tượng anh gây cho
cô gái này không Ned?” Cô ấy hỏi anh ta. “Cô ấy thậm chí không thể hình dung
nổi cảnh anh làm việc này.”
“Cô ấy chưa nhìn thấy anh hành động
thôi”, Ned đáp với cái nhún vai tùy tiện.
Vivien hạ giọng và hất đầu về phía
đồng nghiệp. “Nói chung chúng tôi chỉ giữ anh ấy ở đây bởi tài pha màu quá khéo
của anh ấy”, cô ấy giãi bày. “Nhưng thi thoảng anh ấy thực sự cứ ngồi yên một
chỗ thế đấy. Cũng thú vị ra trò nhỉ.”
“Tiếp tục đi”, người đàn ông ở quầy
bar điềm nhiên thách thức, “và đêm nay quán rượu sẽ mở cửa đấy cưng à. Miễn phí
cho toàn bộ khách”.
Tôi bật cười. “Cô có muốn tôi mang
gì đến tối nay không?”
“Mang người đến thôi. Cô có chắc
mình đủ sức không thế?”
“Ngủ một hai giờ là tôi sẽ đâu vào
đấy ngay”, tôi quả quyết.
Tôi đang cảm thấy kiệt quệ. Nhưng
không hiểu sao, thay vì đi thẳng về nhà lúc rời quán Sư Tử Đỏ, tôi lại thấy
mình rẽ phải và thơ thẩn đi ngược lên đường Thượng hướng về phía nhà thờ.
Rõ ràng ở đây có mưa đêm hôm trước,
giống Luân Đôn. Ngoài bầu trời u ám trên cao, vỉa hè vẫn ẩm ướt, mùi đất ngai
ngái, cỏ đẫm nước và những bông hoa sũng mưa ủ rũ trong không khí ban chiều.
Người ta có thể bắn thẳng một quả đại bác trên đường mà không trúng nổi một
linh hồn, ngôi làng yên tĩnh vậy đấy, nhưng các vết chân dính đầy bùn đất ở
nhiều nơi trên con đường rải sỏi ít nhất cũng cho thấy dấu hiệu của vài người
đã thức dậy đủ sớm để đi lễ nhà thờ.
Cũng có những dấu chân hướng lên
con đường rợp bóng dẫn về tòa trang viên. Những dấu chân của Iain Sumner, tôi
suy luận, khi có hai vệt dấu chân đi vào và chỉ có một hàng dấu chân lại đi ra.
Trong cơn bốc đồng, tôi rời đường lớn và bắt đầu đi lên con đường nhỏ, giày của
tôi giẫm bì bạch trên lớp bùn dần khô. Chỉ là cơn bốc đồng vẩn vơ thôi, tôi tự
nhủ. Tôi thực sự chưa nhìn kỹ ngôi nhà trong lần viếng thăm mới đây và nghi ngờ
khả năng Geoffrey de Mornay sẽ thấy phiền nếu tôi chỉ ngó qua một vòng.
Con đường tĩnh lặng và vắng vẻ. Bên
tay trái của tôi, qua hàng cây chen nhau san sát, tôi chỉ có thể phác lên đường
nét mờ mờ của nhà thờ, những bức tường đá vàng của nó mờ đục hẳn trong không
gian vắng ánh nắng mặt trời. Con đường ôm lấy nghĩa địa nhà thờ vòng một góc
trong trơn tru, rồi lại được nắn thẳng khi đến gần tòa trang viên. Trước mặt
tôi lờ mờ hiện lên cổng vườn dành cho khách bộ hành dẫn đến lối vào phía bắc
của lâu đài, một khung cửa không có giá đỡ được đẽo từ đá vôi xám, một cái gờ
kèm khối cầu trang trí phủ lên trên. Một biển hiệu đặt một bên cổng lịch sự
thông báo: “Chào mừng đến lâu đài Crofton. Mạn này dùng cho gia chủ. Khách tham
quan xin mời sử dụng cổng phía đông, dẫn vào từ đường Thượng”.
Quả là chu đáo, tôi nghĩ, để hướng
dẫn cho những người bị lạc. Mà cũng khiến họ không cảm thấy khó chịu khi phải
quay lại lối vừa đi vào. Một cánh cổng nhỏ gắn với bức tường đá thấp bên tay trái
dẫn vào khu nghĩa địa nhà thờ, mời chào đi tắt trở lại đường Thượng.
Bên tay phải của tôi, một tòa nhà
dài và thấp lợp mái đá vươn khỏi cổng vườn bệ vệ trước mặt. Mùi hăng hăng dễ
chịu lan ra qua khung cửa rộng mở ngay lập tức cho thấy đây là chuồng ngựa của
lâu đài. Sự do dự của tôi chỉ dừng trong chốc lát. Tôi chưa bao giờ có thể
kháng cự nét quyến rũ gần như nam châm trước sự hiện diện của những chú ngựa.
Quên đi tất cả về tòa dinh thự, tôi bần thần bước về phía khung cửa lớn, tiếng
ruồi nhũng nhiễu không mấy phiền hà bên tai tôi.
Đập vào mắt tôi là khu chuồng ngựa
cũ kỹ được xây từ những phiến đá xám thô ráp trông giống hệt loại dùng để xây
nhà tôi. Đá sa thạch, Vivien đã gọi chúng thế. Con ruồi lại vo ve bay qua, lần
này lớn tiếng hơn và tôi lại xua nó đi. Bên trong, chuồng ngựa ấm áp và thơm
ngát, tôi ngừng chốc lát để mắt quen với ánh sáng mờ.
Ở đây có bảy gian có cửa sổ, hầu
hết đều là loại hai khung hai cánh mạ chì độc đáo, với những con nhặng xanh
thỏa thuê đập cánh o o bên lớp kính. Trong chín ngăn chuồng thẳng hàng thì có
sáu ngăn chứa ngựa, đủ các màu từ đen huyền như màn đêm đến nâu vàng óng ả.
Nhưng có một con ngựa xám trong góc chuồng phía xa, đã thu hút ngay sự chú ý
của tôi.
Đó là một con ngựa giống, cao đúng
mười sáu gang tay[2], với cái cổ vươn cao ngạo nghễ và khuôn mặt
vương giả gợi nhớ đến những bãi biển lộng gió gồ ghề và những vương quốc ngoại
giáo xa xôi. Khi bước lại gần hơn, con ngựa xám quay đầu về phía tôi, đôi mắt
đen của nó ánh lên thoáng tò mò và mũi nó khẽ khụt khịt. Tôi vươn bàn tay vuốt
chiếc mũi mượt như nhung, làm hai lỗ mũi đang phập phồng xinh xắn của nó hơi
run lên đáp lại, khi hít vào mùi của tôi.
[2] Đơn vị đo chiều cao của
ngựa, mỗi gang tay bằng 4 inch khoảng 10 cm.
“Xin chào, Navarre”, tôi
âu yếm chào nó, “bé cưng xinh đẹp”.
Con ngựa sục mõm vào tay tôi, tìm
kiếm sự cưng nựng trái phép. Và nó có thể đã được vuốt ve một cái nếu giây phút
ấy tôi không nghe thấy tiếng bước chân đang tiến lại gần – những bước chân chắc
nịch, tự tin cùng tiếng huýt sáo vui vẻ. Tôi tội lỗi quay phắt lại và đứng trân
trân nhìn cánh cửa với hai bàn tay giấu sau lưng như một nữ sinh mắc lỗi.
Nhưng không có ai tiến vào.
Đàn ruồi càng lúc càng réo rắt ồn ã
hơn trên các khung cửa kính, dìm tiếng tim đập dồn dập của tôi chìm nghỉm, tôi
chớp mắt trước ánh đèn điện đột ngột sáng bừng, thứ rõ ràng không có mặt ở đây
một lúc trước đó. Khung cửa sổ mạ chì biến mất, được thay vào bởi những khung
cửa đôi tiết kiệm năng lượng. Cũng bay biến là các ngăn chuồng ngay ngắn, ở vào
vị trí của chúng là các lô giữ ngựa gọn gàng và rộng rãi hơn. Còn con ngựa sau
lưng tôi, khi tôi thu đủ dũng khí để nhìn, không còn mang màu xám nữa, mà là
một con ngựa hồng mao sẫm màu, đang tò mò nhìn tôi từ bức tường an toàn tít
phía xa.
Tôi không có thời gian phân tích
chuyện gì vừa xảy đến. Tôi bỏ chạy. Bỏ chạy khỏi chuồng ngựa, băng qua con
đường và xông vào cánh cửa dẫn đến khu nghĩa địa tôn nghiêm im lìm, và nếu
không vấp phải một rễ cây ngoằn ngoèo, tôi chắc chắn sẽ tiếp tục chạy thục mạng
Tôi ngã sõng soài ra đất giữa đám
cỏ mọc um tùm cạnh tường nhà thờ, cú ngã khiến tôi không thở nổi, phải nằm yên
một lúc. Và khi tôi nằm đó, thở hổn hển, hy vọng không có ai đó nhìn thấy mình
trong tình trạng bất nhã này, ánh mắt rơi tự do lên một phiến đá bạc thếch cách
tay tôi một quãng ngắn.
Đó là một phiến đá cổ, dựng lên một
góc khó tin và bị dây tường vi quấn dày đặc, nhánh tường vi bao kín phiến đá
đến mức chỉ có thể đọc được tên của người nằm yên nghỉ bên dưới:
Mariana…

