Mariana - Chương 10
Chương 10
Tôi đã mong đợi sẽ cảm nhận được
nhiều cảm xúc nào đó khi lái xe quay lại Exbury vào sáng hôm sau. Bồn chồn,
chắc chắn là vậy, và sợ hãi, thậm chí là cả thích thú. Nhưng tôi không được
chuẩn bị để đón nhận cảm giác hoàn toàn thanh thản bao trùm như một tấm chăn dễ
chịu, gần như trước khi tòa tháp nhà thờ chỗ anh tôi bị những lùm cây nuốt mất
trong gương chiếu hậu. Đó là một cảm giác mạnh mẽ, rất mạnh mẽ, bình tĩnh và
lan tỏa. Và hoàn toàn vô lý, sau những sự kiện điên cuồng ngày hôm trước.
Tôi để ánh mắt lần theo sau những
chuyển động thất thường của những tài xế trên đường khi họ lách mình vượt lên
trước trong giờ cao điểm, trong khi tâm trí tôi vơ vẩn trôi trở lại sáng hôm
qua.
Tôi đã cố gắng đọc gần trọn
một năm trong cuốn nhật ký của Pepys trước khi bị sự mệt mỏi đánh bại. Lúc tỉnh
dậy thì đã chiều muộn. Qua khung cửa sổ khép hờ, bầu không khí có mùi sạch sẽ
và trong lành vô cùng. Quần áo của tôi đã được bà Pearce giặt và là phẳng
như mới, đang nằm phẳng phiu trên chiếc ghế như một người bạn chờ được chơi
cùng. Tôi đứng dậy đi tắm rồi xuống tầng tìm anh trai.
Tôi thấy anh ngồi trong khoảnh hiên
dài sau nhà, lơ đãng gặm đầu cây bút chì trong khi suy ngẫm, nhìn chằm chằm
khắp bãi cỏ rộng rãi được cắt tỉa bằng đôi mắt không mấy tập trung.
Đột ngột nghe thấy tiếng bước chân
của tôi vọng lại, anh mỉm cười ngước lên, bỏ chiếc bút chì khỏi miệng và đặt nó
lên quyển sổ để mở trên chiếc bàn bên cạnh.
“Em trông khá hơn rồi đấy”, anh
chào tôi. “ Có khi nào em nên ở lại vài ngày, cho bản thân thư thái.”
“ Cảm ơn anh nhưng thôi.” Tôi ngồi
xuống chiếc ghế lót đệm màu sáng trước mặt anh.” Sáng mai em phải về rồi. Anh
đang làm gì ấy?”
Anh nâng quyển sổ lên, cho tôi xem
những trang giấy chi chít chữ.” Giảng đạo. Theo anh nhớ thì em rất giỏi dùng
từ. Còn cụm nào khác cho ‘trả lời tùy biến’ nữa nhỉ?”
“Ứng khẩu?”
“ Hoàn hảo.” Anh đánh dấu thêm vài
ghi chú khó đọc bằng cây bút chì và lần thứ hai đặt cuốn sách sang một bên.” Em
đã đọc cuốn sách của Pepys chút nào chưa?
“Ừm.”. Tôi ngả lưng, vắt chân và
nhàn nhã lúc lắc một bên chân.” Em gần như đọc hết năm có thông tin về nạn
dịch. Nhân tiện, đó là năm 1665. Rất khủng khiếp.”
Cũng gần như những gì tôi có thể
hình dung, nạn dịch bắt đầu một cách chậm rãi, lan hết từ Hà Lan qua các con
thuyền buôn neo đậu tự do ở eo biển nước Anh, từ Amsterdam đến Luân Đôn và ngược lại. Từng
bước chiếm lấy quyền kiểm soát, nó lây nhiễm và mưng mủ như một vết thương đẫm
máu, lan rộng khắp các vùng ngoại ô đông đúc, gây nên hậu quả đầy chết chóc cho
đến khi vươn đến thành phố. Là người được sinh ra ở thế kỉ XX, tôi buồn bã nhận
ra người Luân Đôn thời bấy giờ, với sự dốt nát mê tín, đã nhanh chóng tàn sát
tất cả chó và mèo họ có thể tìm ra, mà không hay biết chính loài động vật ấy là
thiên địch của loại chuột mang mầm bệnh. Thậm chí cả ngày hôm nay, với nền y
học hiện đại của chúng ta, một trận bùng phát dịch hạch cũng sẽ trở thành một
cảnh tượng gây nhiều khiếp đảm. Cho nên trong mắt những người dân thế kỉ XVII,
nó hẳn cũng giống như tận thế.
“Có tìm được gì thú vị không?” Tom
hỏi.
“Một chút. Anh còn nhớ em đã mơ về
hai ngôi sao chổi không? Thực sự có hai ngôi sao chổi xuất hiện ở Luân Đôn, một
vào tháng Mười hai năm 1664 và ngôi sao thứ hai vào xuân năm xảy ra nạn dịch.
Đã gây ra rất nhiều náo động, theo những gì Pepys nói. Điềm rất gở.”
“ Phải, anh có thể hình dung.” Tom
gật đầu. “ Thời đó sao chổi được coi là biểu tượng của nguy cơ diệt vong. Thực
sự không phải không có nguyên nhân. Tấm thảm Bayeux mô tả một ngôi sao chổi
xuất hiện khi Harold giả tội nghiệp thừa kế ngai vàng, ngay trước khi William
Xâm Lược đánh cho quân đội Anh không còn manh giáp và bắn xuyên một mũi tên qua
mắt Harold.
“ Không phải”, tôi phản đối. “ Thầy
dạy Lịch sử của anh sai rồi, anh ạ. Người bị bắn tên vào mắt trên tấm thảm
không phải Harold. Harold bị một cây đao bổ vào người hay sao đó, sau một
khoảng thời gian.”
“ Sao cũng được. Trọng điểm là sao
chổi luôn bị coi là điểm gở. Nó là sự tương phản mang tính lịch sử với đàn chim
sáo may mắn của em đấy, nếu em thích tế. Còn gì khác trong cuốn nhật kí
nghe quen thuộc nữa không?”
“ Không hẳn.” Tôi lắc đầu. “ Vài
điều ông ta đề cập đến vào đầu năm đó đã khuấy động trí óc em, nhưng khi ông ta
viết về những tháng hè, với người chết như ngả rạ trên đường, em lại không có
cảm giác gì cả.”
Anh trai tôi mỉm cười, nụ cười tự
mãn đặc thù thường cho thấy có gì đó vừa sáng tỏ trong anh. “ Em sẽ không cảm
giác được, phải không?”
“ Ý anh là gì?”
“ Giả sử có kiếp nào đó em chính là
Mariana, vậy em khó có thể hy vọng sẽ nhớ cảnh tưởng Luân Đôn ra sao khi nạn
dịch lên đến đỉnh điểm. Thời điểm ấy em vừa bị gửi đi khỏi Luân Đôn, không phải
sao? Về vùng quê ấy.”
“ Đến Exbury.” Tôi đăm chiêu. Tôi
định thần và thoáng mỉm cười rầu rĩ. “ Nghe càng lúc càng vô lý nhỉ? Nghe
cứ như truyện một xu[1] ấy.”
[1] Nguyên tác: “penny
dreadful”- một loại tiểu thuyết xuất bản vào thế kỷ XIX, dưới dạng các câu
chuyện nhiều tập, cách vài tuần lại ra một phần và mỗi phần giá một xu. Đối
tượng độc giả chính là tầng lớp lao động.
“Anh cũng chịu.” Tom nhún vai. “Anh
thì lại thấy hấp đấy chứ. Với lại anh cũng bảo người thủ thư tìm kiếm rồi,
chúng ta phải chờ xem cậu ta có đào xới thêm được về chủ đề đầu thai không.”
Tôi mỉm cười. “ Anh ta không thấy
lạ khi mục sư vùng này lại nghiên cứu về chủ đề đó sao?”
Lạy trời, không.” Anh bác bỏ lời
phát biểu của tôi. “Anh đã bảo cậu ta là mình cần thông tin cho bài giảng đạo
sắp tới.”
Điều này, sau một lúc suy nghĩ, tôi
cho rằng là một lời giải thích logic và đáng tin cậy. Những bài giảng đạo của
Tom nổi tiếng là không chính thống. Khi đứng trên bục giảng kinh, anh có thể sẽ
thảo luận về môn cricke trong lúc định trích dẫn một đoạn trong Kinh Thánh. Rõ
ràng các giáo dân quen với tính cách lập dị của anh, nên giờ mới chấp nhận mà
không buồn thắc mắc thế này.
“ Anh sẽ phải lục tìm trong đống
tài liệu giáo trình cũ về các tôn giáo khác”, anh trai tôi tiếp tục. “ Hẳn sẽ
có vài thông tin về sự đầu thai ở đây. Anh biết phần lớn tín ngưỡng của đạo
Hindu và đạo Phật đều tin vào nó.”
“ Em không chắc bản thân có hoàn
toàn tin tưởng hay không”, tôi bảo. “ Nhưng dù có chuyện gì đang diễn ra, thì
cũng liên quan đến ngôi nhà của em.”
“ Em có chắc mình muốn về không?”
Tôi nghĩ đến phòng đọc xinh đẹp
ngập nắng của mình; đến bầu không khí thân thiết ở quán Sư Tử Đỏ,với Ned suốt
ngày cắm mặt vào tờ báo ở cuối quầy bar; với Geoffrey de Mornay và cái đôi mắt
anh thẫm lại mỗi khi mỉm cười...
“ Vâng”, tôi nói chắc chắn. “ Em
biết nghe thuật ngu ngốc – nhưng dường như việc em bị Đàn Cừu Xám hấp đẫn
là có lý do. Rằng bằng lý do nào đó, em thuộc về ngôi nhà ấy”.
“Không ngu ngốc tí nào đâu. Anh tin
mọi thứ diễn ra đều có nguyên do.” Vị mục sư phát biểu. “Và anh nghĩ em đúng.
Em cần quay lại và đối mặt với chuyện này, nếu về sau em còn muốn được yên ổn.
Em cần khám phá tất thảy về Mariana trong khả năng của mình. Nếu có thể
làm được thì em có thể tìm ra lý do tại sao tất cả chuyện này giờ lại đang xảy
đến với mình. Một ít công việc dang dở, có lẽ, rất cần được hoàn thành.”
“Em nghĩ hoàn toàn có thể làm
được.”
“Hoặc”, anh nhe răng cười thêm vào,
“có lẽ học thuyết về kiếp trước của anh đều quá ủy mị và sau cùng thì em chỉ
đang ngấm ngầm bị điên thôi. Giống như bà Sarah của chúng ta ấy”.
Tôi nhăn mặt. “Một ý tưởng để an ủi
ư.”
“Có anh lớn để làm gì nào?”
“Dù sao”, tôi thừa nhận, “có lẽ
thiết thực nhất là cứ đề phòng trường hợp bị mất trí. Em vẫn không chắc có tin
vào quan niệm đầu thai không. Anh không thấy viển vông sao?”
Tom liếc tôi một cái. Dường như
muốn bỏ qua chủ đề này, anh hướng ánh mắt qua thảm cỏ rộng, nơi những
chiếc bóng của màn đêm đến sớm đang vươn dài qua bãi cỏ mới cắt như những ngón
tay ve vuốt dịu dàng. “Em vừa nói năm diễn ra nạn dịch là 1665 phải không? Khi
đó ai đang ngồi trên ngai vàng?”
Tôi nhíu mày.”Em nghĩ là Charles
II.”
“Ô, đúng rồi. Chẳng phải lại thêm
một vị vua xấu số thuộc dòng họ Stuart sao? Em đã đọc tí nào về lễ lên ngôi báu
của ông ta chưa?”
“Chưa. Em không lật lại xa như thế”
“Ừm”, Tom ngả lưng ra sau, “anh
muốn nói đến các điểm xấu. Trời mưa như trút cả ngày”.
Tôi lơ đãng lắc đầu. “Trời không đổ
mưa cho đến tối hôm đó”, tôi sửa lại. “Sau khi các nghi lễ đã kết thúc.”
“Anh tin hôm đó là thứ Bảy.”
Câu trả lời của tôi lần này phát ra
chậm hơn. “Không. Thứ Ba.”
“Và mặt đất được trải thảm đỏ.”
“Xanh dương...” Tôi quay đầu, cứng
người, khi đón đôi mắt ranh mãnh của anh trai.
“Em nói phải”, anh bảo tôi. “Rõ
ràng mảng đầu thai này có nhiều chứng cứ rồi.”
Tôi trừng mắt nhìn anh, đầu tiên
không tài nào đối đáp được, đầu óc tôi kinh ngạc và mụ mị. “Chết tiệt”, tôi
chậm rãi nói. Sau cùng, mục sư hay không phải mục sư...
“Chính xác”, Tom thốt lên và mỉm
cười, rồi quay trở lại với bài giảng của minh.
Giao thông trước mắt vẫn
thông suốt. Đột ngột tiếng còi của một chiếc xe rú lên, ngay lập tức kéo tôi
khỏi dòng suy tưởng. Vẫn được bao phủ trong sự thanh thản ấm áp, tôi chuyển
chiếc Peugeot bé nhỏ vào làn dành cho tốc độ cao hơn và nhấn ga tăng tốc rồi
điều chỉnh vai dựa lên ghế lái một cách thoải mái với tiếng thở dài hầu như
không rõ tiếng. Phần còn lại của quãng đường, tôi lái xe trong im lặng.
Khi tôi vọt chiếc xe qua cây cầu
nhỏ đánh dấu sắp về đến Exbury, sự hài lòng như tấm chăn thít chặt quanh người
tôi, một chút rộn rã vì mong đợi xộc khắp cơ thể rã rời vì chuyến đi của tôi.
Sắp về đến nhà. Những từ ngữ đó choán hết đầu óc tôi như một tiếng nói, ngọt
ngào và êm dịu.
Lại là từ đó, tôi nghĩ. Nhà. Nó
xuất hiện quá dễ dàng và tự nhiên trong tâm trí tôi, gần như thế...
“Tôi không biết”, tôi nói to với
tấm kính chắn gió lốm đốm bẩn trước mặt, “thật sự tôi đã từng sống ở đây trước
kia, trong một cuộc đời khác ư?”. Lời đáp trôi trở lại, nhanh chóng và đơn
giản, từ những gì có thể là do trí tưởng tượng của tôi hoặc từ nơi sâu kín nhất
trong tiềm thức: Phải.
Xinh đẹp trong ánh nắng đã lên cao
của buổi sáng với những bông hoa đầu xuân nở rộ dọc theo bức tường phía bắc,
con đường cong cong và ngôi nhà hiện lên đầy uy nghi như chào đón tôi. Luôn
luôn trở về với ngôi nhà, tôi nghĩ, khi rẽ lên lối lái xe hẹp. Tôi không chọn
ngôi nhà này, như những người khác, với tâm lý thoải mái và đầy lý trí; ngôi
nhà đã chọn tôi. Nếu quả thật nơi đây hấp dẫn tôi là có chủ đích, thì tốt hơn
hết tôi nên cố hết sức tìm ra chủ đích đó là gì, bắt đầu từ hôm nay. Bắt đầu
ngay lúc này.
“Được rồi”, tôi kiên quyết nói,
nâng cằm lên. “Tao đã về rồi đây. Giờ cho tao thấy mày muốn tao làm gì đi
xem nào.”
Quả thật, ra vẻ hiên ngang thế này
có hơi đáng xấu hổ. Tôi thậm chí chẳng mấy chắc chắn những lời nói của mình là
hướng đến hồn ma, ngôi nhà hay chính bản thân nữa. Và tôi chắc chắn không hề
mong đợi nghe thấy câu trả lời.
Nhưng khi đỗ xe vào chuồng ngựa
được cải tạo ở sau nhà, một chuyển động mơ hồ lọt vào mắt tôi. Và khi quay đầu
lại, tôi thấy hình dáng của một người phụ nữ trẻ trong khu vườn có chuồng bồ
câu. Hình dáng bất động và tĩnh lặng của một người phụ nữ trẻ trong bộ đồ màu
xanh. Trong giây lát, tôi hoảng sợ, ngực thít lại. Rồi người phụ nữ quay lại
mỉm cười và vẫy tay, tôi thấy đó hoàn toàn không phải một hồn ma, chỉ là Vivien
trong bộ đồ cũ màu xanh kỳ quái, với mái tóc xõa tùy tiện quanh vai và gương
mặt sáng hồng rạng rỡ. Nhẹ nhõm hẳn, tôi chậm rãi băng qua bãi cỏ dài về phía
chiếc chuồng bồ câu đổ nát. Vivien ngừng làm việc và tựa người lên cái cào,
hướng đôi mắt thân thiện nhìn tôi đến gần.
“Vậy là cô ở nhà”, cô ấy nói, một
cách thừa thãi. “Mọi chuyện vẫn ổn với gia đình cô chứ?”
“Vâng, cảm ơn cô.” Tin tức lan
truyền rất nhanh. Cô ấy trông như thể muốn biết thêm, nhưng tôi đã thay đổi chủ
đề. Tôi chưa bao giờ thích nói dối, nhiều như lúc này. “Tôi không biết cô cũng
bắt chước làm vườn đấy”, tôi nói.
“Không thường xuyên lắm. Tôi chỉ
giúp Iain nhổ cỏ thôi. Sáng nay đẹp quá”, cô ấy giải thích, chỉ lên bầu trời
trong xanh hoàn mỹ. “Tôi ghét bị nhốt trong nhà.”
“Cái tay em không giúp được nhiều
lắm đâu, cưng ạ”, giọng nói của Iain Sumner vọng lại khô khốc. Tôi không thể
nhìn thấy anh ta ở chỗ bức tường đá, nhưng khi tôi tiến lại gần khu vườn hơn,
anh ta đứng thẳng dậy và vươn vai. “Hai mươi phút vừa rồi em vẫn chỉ đang cào y
nguyên tí tẹo đất ấy”, anh ta buộc tội Vivien.
Cô ấy thuần thục xới đất. “Đấy là
em cẩn thận.”
“Phải rồi. Anh sẽ không tranh cãi
với em ở đây.” Đôi mắt anh ta trượt ra xa khỏi Vivien, mỉm cười chào tôi, ném
một búi cỏ đầy đất lên cái đống mỗi lúc một chất cao sau lưng. Sáng nay, anh ta
trông hệt một chàng nông dân đích thực, trong chiếc quần thô và áo sơ mi xanh
bạc màu, với găng tay dài bằng da kéo lên hết cẳng tay. Anh ta cũng trông mệt
rã rời. Đôi mắt xám căng thẳng và trũng sâu trên gương mặt nghiêm túc. Tôi nghĩ
đến người anh họ Ronald của mình, ở Cornwall, người mỗi sáng đều thức dậy từ
bốn giờ để vắt sữa ba mươi con bò, và tự hỏi lần thứ một trăm vì sao lại có ai
đó lựa chọn trở thành một người nông dân.
Iain giật mạnh một chiếc găng tay bong
tróc ra và dùng bàn tay rám nắng to lớn quệt mồ hôi khỏi trán. “Tôi đã chuyển
lời nhắn của cô đến Geoff”, anh ta báo tin cho tôi biết. “Không vẫn đề gì đâu.
Cậu ta cũng đang đi vắng, lên phương bắc vì chuyện làm ăn, trong vài ngày tới,
nhưng cậu ta nói sẽ gọi cho cô khi nào quay lại.”
“Ồ, vậy à?” Vivien tinh quái ngẩng
đầu.
“Anh ấy hứa sẽ dẫn tôi tham quan
một vòng quanh lâu đài”, tôi giải thích, hy vọng không ai chú ý đến sắc hồng
trên mặt mình giữa ánh mặt trời chói chang. Lần thứ hai, tôi thay đổi chủ đề.
“Khu vườn trông đáng yêu quá”, tôi nói.
Nó thật sự đáng yêu. Những hàng cây
non màu xanh tí hon ngay ngắn giờ được bao quanh bởi những lùm dạ lan hương và
hoa anh thảo mướt mát. Anh ta cũng thêm vào một cụm hồng leo, có lẽ đã được
chiết từ vườn hồng nổi tiếng ở lâu đài Crofton, đám dây leo của nó lười biếng
bám lưng chừng các tầng nhà được ánh mặt trời sưởi ấm. Trong vòng một, hai
tháng nữa, mảnh đất nhỏ này chắc chắn sẽ nở rộ đầy sức sống và sắc màu.
Iain nhìn theo ánh mắt thưởng thức
của tôi và nhún đôi vai rộng. “Đúng vậy”, anh ta ngượng ngùng nói.
Tôi liếc xuống đồng hồ đeo tay. Đã
gần mười một giờ. “Có ai muốn một tách trà không?” Tôi ngỏ lời.
“Thế thì tuyệt quá.” Vivien nhẹ
nhõm vứt bỏ luôn cái cào, Iain dành cho cô ấy một ánh nhìn trìu mến đầy khoan
dung trước khi đôi mắt xám mệt mỏi chạm phải mắt tôi và anh ta mỉm cười.
“Tôi phải từ chối rồi”, anh ta trả
lời.
Thành thực mà nói, tôi không phải
thừa nhận với ai, ít nhất là với bản thân, nhưng tôi mừng vì mình không còn ở
một mình khi mở khóa cửa ngôi nhà xám im lặng. Hít một hơi thật sâu đầy kiên
quyết, tôi băng qua ngưỡng cửa đang chờ đợi.

