Mariana - Chương 27

Chương 27

Cuối cùng, hầu như chỉ có một mình
tôi nói. Geoff ngồi đối diện với tôi trong phòng khách trang trí lộng lẫy, nơi
chúng tôi nói chuyện lần đầu tiên. Gương mặt anh mệt mỏi dưới ánh đèn, cho thấy
rõ ràng tình trạng căng thẳng do chuyến lái xe đường dài từ Luân Đôn trở về.
Nhưng đôi mắt anh vẫn kiên định và ân cần. Thi thoảng anh ngắt ngang bài tường
thuật huyên thuyên của tôi và đặt một câu hỏi, hay làm rõ một điểm nào đấy,
nhưng không di chuyển khỏi ghế ngoại trừ để đổ đầy ly rượu của chúng tôi từ
chiếc chai đặt trên bàn ngăn giữa hai người. Đến lúc tôi kể xong thì mặt trời
buổi sáng đã nhô lên, một con chim chiền chiện cất tiếng hót trong trẻo trên
một cái cây bên ngoài cửa sổ, và chai rượu đã rỗng không.

Geoff không đưa ra đánh giá ngay
lập tức. Anh áp hai lòng bàn tay lại với nhau và nhăn mày nhìn xuống đôi giày.

“Anh nghĩ em điên chăng”, tôi đoán.

“Đương nhiên là không.”

“Thế thì tốt”, tôi vừa nói vừa dùng
bàn tay rã rời bóp trán. “Đôi khi chính em cũng nghĩ mình bị điên.”

“Không phải anh
nghi ngờ những gì đang xảy đến với em. Ừ”anh mỉm
cười, “có lẽ anh cũng có chút nghi ngờ, nhưng không nghi ngờ điều em tin tưởng,
mà thật sự tin vào những gì em đã nhìn thấy. Anh chỉ không chắc sẽ đón nhận nó
thế nào”. Anh dựa lưng lên ghế và lại nhăn mày. “Richard”, anh lơ đãng nói to.
“Giá như chúng ta có vài ghi chép về Richard deMornay…”

“Không có gì trong các tập hồ sơ
của cha anh sao?”

“Chắc chắn là không có. Anh có thể
kiểm tra lại nếu em muốn, nhưng anh đảm bảo nếu có thì anh đã nhớ rồi…” Anh
đứng dậy và mang tới một chồng giấy tờ từ chiếc bàn viết gần đó. Khi anh trải chúng
lên chiếc bàn thấp ngang đầu gối chúng tôi, tôi nhận ra chúng là những giấy tờ
anh đã cho tôi xem vào cái đêm chúng tôi ở chỗ của Vivien. Anh im lặng giở
chúng trong vài phút, rồi đóng tập tài liệu và lặp lại lời củng cố của mình.
“Không có gì. Em có chắc đấy là Richard không?”

Tôi gật đầu dứt khoát. “Chắc chắn.
William de Mornay là cha anh ấy.”

“Hừm, cũng không giúp ích được
nhiều lắm. Cha anh không tìm thấy bất cứ tư liệu gì về những đứa con của
William, chỉ có vài tấm chân dung trông có vẻ hợp với niên đại thôi, có thể còn
sót giấy tờ ở đâu đó, nhưng anh e mình không giữ chúng.”

“Anh không thể kiểm tra di chúc của
cha họ hay thứ gì đó sao?”

“Ông ta không để lại di chúc.”
Miệng Geoff mím lại. “Phần lớn đều khá sơ sài, nếu nhìn từ góc độ quan sát cây
phả hệ mà nói. Anh chỉ biết sau cái chết của William thì ghi chép về người chủ
tiếp theo của lâu đài Crofton là Arthur, cháu trai ông ấy.”

“Arthur…” Tôi vồ lấy cái tên đó.
“Richard đã cho em xem bức chân dung của Arthur, trong hành lang trưng bày
tranh. Đứa trẻ trông không dễ chịu cho lắm. Cậu ta sống ở Hà Lan, em nghĩ vậy,
với mẹ cậu ta. Ồ, còn cha cậu ta tên là gì thế?” Tôi hỏi, ấn những
ngón tay lên bầu mắt. “Richard cùng từng đề cập đến một lần… cái tên cũng bắt
đầu với chữ R… Robert? Robert”, Tôi khẳng định. “Robert là em trai của
Richard.”

Geoff kiểm tra các ghi chép lại lần
nữa. “Xin lỗi. Có thể em đã đúng, chắc chắn là em đúng, nhưng anh không thể xác
nhận nếu không có bản ghi lại nào.” “Hẳn vẫn còn gì đó”, tôi nói. “Thế bức chân
dung trong thư viện thì sao? Có bắt cứ manh mối nào ở đókhông?”

Anh nhún vai. “Cũng đáng để thử
lắm.”

Tôi bồn chồn quay sang nói trong
khi cả hai băng qua đại sảnh, cố gắng duy trì cuộc nói chuyện. “Làm sao anh
biết em ở trên tầng?”

“Anh tìm thấy áo mưa của em trong
bếp. Biết thể nào em cũng ở đâu đó quanh đây. Freda hẳn đã để em vào, phải
không?”

“Vâng.” Tôi gật đầu. Tôi không hề
đề cập tới bà Hutherson lúc trước. Vì vài lý do, tôi chưa sẵn sàng chia sẻ với
anh những cuộc nói chuyện riêng tư giữa tôi và bà ấy. Thay vào đó, tôi nói đơn
giản: “Bác ấy và em đã uống trà với nhau, rồi em đi ngó nghiêng một chút trên
gác. Bác ấy hẳn đã nghĩ em đã về nhà rồi nên mới khóa cửa khi bác ấy rời đi.”

Anh lơ đãng thốt lên một âm thanh
vô thưởng vô phạt và thúc khuỷu tay mở cánh cửa thư viện. “Anh sẽ đi theo em”,
anh đề nghị và theo tôi băng qua tấm thảm rộng để đứng bên dưới bức chân dung
cao lừng lững. “Em hy vọng sẽ tìm thấy loại manh mối nào đây?” Anh ngước lên
nhìn và hỏi tôi.

“Em không biết nữa. Bất cứ thứ gì
có thể giúp em chứng minh với anh đây là Richard.”

“Đây có đúng là loại quần áo anh ta
đã mặc khi em… nhìn thấy anh ta không?”

“Không.” Tôi đứng gần đẻ quan sát
kỹ hơn.

“Đương nhiên chúng cũng có màu đen,
nhưng kiểu dáng thì khác hẳn. Cũ hơn, em nghĩ vậy. Sau cùng, bức chân dung này được
vẽ gần năm năm trước khi em gặp anh ấy.”

Tôi cảm nhận được cái nhìn dò xét
thoáng qua từ anh. “Anh hiểu rồi.”

“Anh ấy đeo một cái nhẫn ở ngón út
bàn tay bên trái” tôi nói. “Một chiếc nhẫn khá nặng. Bằng bạc. Có khắc gia huy,
đầu con diều hâu đội mũ giáp nằm trên dải hoa bao quanh nhẫn. Anh có thể nhìn
thấy nó, trong bức tranh này.”

Tôi chỉ, và Geoff nhìn theo.

“Cũng không thực sự quan trọng
lắm”, tôi tiếp tục, “bởi nó chỉ cho thấy anh ấy là người đứng đầu gia đình. Chứ
không chứng minh tên anh ấy là Richard”.

“Đúng vậy”, Geoff thừa nhận, và
ngẩng đầu lên, “nhưng có thể chứng mình rằng ai đó là người đã sở hữu lâu đài
giữa khoảng thời gian William qua đời và Arthur được thừa kế. Đương nhiên là
trừ khi chúng ta đang nhìn vào tấm chân dung của Arthur”.

Tôi kiên quyết lắc đầu, những lọn
tóc đung đưa. “Không thể nào. Arthur có gương mặt như chồn, trông hệt như một
con chuột.”

“Cẩn thận đấy”. Geoff cười nhe răng
cảnh báo. “Anh là con cháu trực hệ của kẻ như chuột như chồn ấy đấy nhé.”

“Xin lỗi.”

Anh dựa vào sát hơn, cho đến khi
mũi chỉ cách vài centimet so với nét vẽ. “Quả là đáng thương khi người mẹ anh
chàng này không thêu tên anh ta lên áo khoác”, anh châm biếm.

“Đúng rồi!”

“Sao vậy?” Anh ngạc nhiên quay đầu
lại.

“Mẹ của Richard”, tôi nói, sự kích
động tăng vọt. “Coi nào, em nghĩ mình có thể chứng minh với anh rằng em biết
vài điều, vài điều em không thể biết được ở đâu trừ khi trực tiếp nhìn thấy, em
nghĩ mình có thể đưa ra bằng cớ, một bằng cớ chân thực. Thì lúc ấy anh sẽ
tin Richard có thật chứ?”

“Giờ anh cũng tin rồi mà.”

“Không, anh không tin đâu. Không
thực sự tin. Nhưng nếu em có thể chỉ cho anh thấy một phần trong câu chuyện của
em là xác thực, thì có thể anh sẽ chấp nhận được phần còn lại cũng là sự thật.”

“Ý của em là theo quy luật logic.”
Anh cười nhẹ. “Được rồi, Ngài Sherlock. Ngài có gì trong đầu rồi?”

“Chúng ta sẽ cần một cái xẻng”, tôi
nói và nụ cười nhạt hẳn.

“Một cái xẻng ư?”

“Thứ gì đó dùng để đào.”

Mặt trời dần lên cao đến đỉnh đầu,
chắc chắn chẳng thể tìm được cái bóng nào trong sân sau cả. Chỗ tôi đứng ngập
cỏ và thạch nam đến đầu gối, tôi ngước nhìn những dụng cụ trong tay Geoff.

“Em không chắc thế này đã đủ chưa”
giọng nói của tôi đầy nghi ngờ, anh cũng nhìn xuống, nhíu mày trước chiếc dùi
đập đá cùng một cái bay.

“Ừm, dù sao chúng cũng phải thực
hiện nhiệm vụ thôi”, anh đáp. “Không phải lỗi của anh khi Iain giấu tiệt mọi
dụng cụ đi như thế. Cậu ta có đủ thể loại từ thuổng, xẻng nhét ở đâu đó, nhưng
anh chịu không đoán được ở đâu.”

“Thôi được rồi.” Tôi nhún vai, tiến
thêm một bước lên trước và thử nâng tấm thảm thực vật bằng một chân. “Em nghĩ
nó ở đâu đó quanh đây.”

“Cái gì?”

“Bia mộ”, tôi nói thẳng. “Bia mộ
của mẹ Richard. Họ không chôn bà trong nghĩa trang nhà thờ vì bà theo đạo Công
giáo, cho nên William de Mornay đã chôn bà ấy ở đây.”

“Hẳn em đang đùa.”

“Không đâu. Đó là một phiếu đá màu
trắng, rộng khoảng chừng này”, tôi xòe tay cách nhau khoảng hơn nửa mét, “và
tên của bà được khắc trên đó”.

Đôi mắt anh bắt được ánh nhìn kích
động lấp lánh của tôi. “Em vừa nói là ngay ở đây hả?”

“Em nghĩ vậy. Có thể bên dưới rất
nhiều đất đá”, tôi thận trọng nói rồi nhìn quanh. “Mặt đất trông có vẻ cao hơn
so với bức tường nếu so với lúc đó, nhưng cũng có thể là do em quá tưởng
tượng.”

“Thế nếu dùng cánh cửa làm điểm
tham khảo thì sao?” Anh đề nghị, hất đầu qua vai về phía ngôi nhà. “Hồi đấy mặt
đất có cân với cánh cửa đó không?”

“Thế thì cánh cửa không nằm ở đó.
Toàn bộ hành lang phía tây từng được sử dụng thông ra mặt này, giống hàng hiên
trong một tu viện vậy.”

Geoff đồng ý với lời tuyên bố mang
tính triết lý của tôi. “Vậy thì chúng ta đành phải kỳ vọng vào những gì có
trong tay thôi. Chiếc dùi đập đá này có lưỡi dài mười lăm phân, có lẽ thế là đủ
rồi.”

Tôi cảm giác cơn thôi thúc chạy rần
rật qua những ngón tay khi nhìn anh ngồi xuống và bắt đầu dùng chiếc dùi đập đá
thăm dò mặt đất mọc tràn thực vật, những cử động của anh thận trọng, dường như
đã tin tưởng một nửa những gì tôi nói. Tôi nghĩ mình đang thầm hy vọng rằng
ngay từ đầu Geoff cũng biết anh đã từng là Richard. Tôi đã tưởng tượng ra những
ảo ảnh sống động về khoảnh khắc hạnh phúc tột độ lúc mọi thứ được tiết lộ, với
việc hai chúng tôi tay trong tay như những cặp đôi nhàm chán trên tivi, hãnh
diện trước sự thật rằng chúng tôi lại tìm thấy nhau sau hơn ba thế kỷ chờ đợi
mỏi mòn… Đương nhiên, điều đó sẽ không xảy ra giống như vậy. Từ kinh nghiệm,
tôi biết rằng thực tế hiếm khi chiều theo ảo tưởng. Nhưng biết đâu đấy, tôi
nghĩ, nếu có thể thuyết phục anh rằng ít nhất tôi không hề điên, rằng Richard
de Mornay là có thật, vậy thì rồi cũng đến lúc anh nhận ra anh là ai. Nhận ra
chúng tôi là ai.

Giọng nói của anh lạc vào những
dòng suy nghĩ của tôi. “Em nghĩ anh là Richard đúng không?”

“Điều gì khiến anh nói thế?”

“Thì do suy diễn thôi”, anh nói, nụ
cười chênh chếch về phía tôi. “Nếu em đã từng là Mariana,
thì…” Anh thận trọng ngừng lại.

“Em không thể nói ý tưởng ấy chưa
từng đến với mình”, tôi thừa nhận, chọn lựa từ ngữ một cách cẩn thận. “Chúng ta
đã trở nên hơn cả thân thiết, em và anh, họ của anh cũng là de Mornay, chưa kể
tình yêu với nước Pháp của anh cũng nhiều gần như anh ấy vậy.”

“Thế làm sao em biết anh ấy không
trở lại với thân phận là một người đàn ông Pháp?”

Tôi nhìn xuống mái đầu đen đang cặm
cụi làm việc của anh nên không thể thấy được biểu cảm của anh. “Và anh trông
giống hệt anh ấy”, tôi kết thúc bằng một giọng nói điềm tĩnh.

Anh để chủ đề đó trôi qua, và đi xa
hơn một chút khỏi ngôi nhà. “Rất có thể không còn ở đây nữa”, anh cảnh báo. “Ý
anh là ngôi mộ ấy. Nó có thể đã bị vỡ, hoặc sau nhiều năm ai đó có thể đã đào
lên và bỏ ngôi mộ đi, nghe thật báng bổ. Hoặc có thể nó đã lún sâu xuống đất
thêm mười lăm phân nữa.” Anh liếc nhìn mặt tôi và nhe răng cười. “Nhưng em sẽ
tiếp tục bắt anh ở ngoài này cho đến khi anh tìm ra cái vật quỷ quái đó, phải
không?”

Mắt tôi nghiêm túc nài nỉ anh.
“Quan trọng mà anh.”

“Thôi được rồi”, anh nói, “Anh đoán
tốt hơn hết mình nên tìm ra nó, phải không?”.

Anh chống mạnh đầu gối xuống đất ra
chiều quyết tâm, gỡ một chùm hoa dại li ti đang chấp chới trong gió, chúng tôi
đều nghe thấy âm thanh sắc nhọn, vang vang khi chiếc dùi đâm vào đá.

Cả hai đều không lên tiếng trong cả
một phút, rồi tôi quỳ gối bên cạnh anh, dùng tay và chiếc bay vạch tìm trên mặt
đất, gạt hết lớp cỏ sang một bên để phơi bày ra tảng đá trắng trơn nhẵn bên
dưới. Khi Geoff vươn tay qua tôi để phủi lớp đất bẩn khỏi dòng chữ mòn vẹt,
những ngón tay của anh không còn vững nữa.

“Louise de Mornay”, anh đọc to dòng
chữ, gạt thêm đất khỏi bề mặt và ngồi xổm, quay đầu sang nhìn vào mắt tôi. “Lạy
Chúa”, anh thốt lên.

“Em biết. Gia nhập câu lạc bộ với
em đi." Tôi vén tóc khỏi mắt. “Anh nên thử tưởng tượng từ góc độ của em mà
xem.”

Anh liếc mắt nhìn mặt trời một lúc,
rồi chùi cả hai bàn tay lem luốc lên quần jean và chậm rãi đứng dậy. “Chúng ta
có nên đi hít thở một chút không?”, anh nói khe khẽ đầy chủ ý. “Dùng bữa luôn.
Cho anh chút thời gian để tiếp thu tất cả những chuyện này.”

“Được.”

Trở lại hành lang phía tây, khi tôi
tự động đi thẳng về phía nhà bếp thì Geoff túm lấy khuỷu tay tôi.

“Không phải ở đây”, anh nói. “Anh
muốn thoát khỏi đây một vài giờ, nếu em không phiền. Đến quán Sư Tử Đỏ đi.”

Đó là một chuyến đi bộ ngắn trong
trạng thái im lặng. Tôi thì quá mải mê nghĩ ngợi đến mức suýt tông thẳng vào
ghế ngồi của anh trai, rõ ràng tôi đã làm như vậy nếu Vivien không nói gì đó.

“Xem ai này!”, cô ấy nói. “Anh ấy
không nghe thấy ai trả lời ở nhà cô nên đến đây với chúng tôi."

“Anh hình dung dù sớm dù muộn thì
thể nào em cũng đến đây”. Tom nói. Hơi thở của anh có vị rượu Scot, lúc tách ra
tôi liền quay sang ném ánh nhìn buộc tội cho Iain, người đang ngồi một mình ở
vị trí quen thuộc trên quầy bar.

“Anh làm anh trai tôi say đấy à?”
Tôi hỏi.

“Thành thực mà nói", anh ta
đáp, với cái nháy mắt chậm rãi. “Tôi đang cố theo kịp anh ta đây này.”

“Ừm. Thêm một ngày nghỉ nữa hả
anh?” Tôi hỏi Tom làm anh mỉm cười.

“Ừ. Các cha phó không tuyệt vời
sao?” Ánh mắt anh trượt qua tôi. “Đây là Geoff phải không?” Anh vừa hỏi vừa
chìa tay ra bắt. “Rất vui vì lại được gặp cậu. Tôi có thể mời cậu một vại
không?”

Quả là anh trai tôi, tôi ấm lòng
nghĩ, khi anh thò tay vào những chiếc túi nông của mình để đãi một tỷ phú một
vại bia. Geoff nhã nhặn chấp nhận lời đề nghị, trong vòng vài phút cả bốn
chúng tôi đã ngồi thành một hàng dọc theo quầy, Vivien đứng chống tay đối diện.

Iain nâng cốc lên và thúc vào cánh
tay Tom.

“Mà anh vừa nói gì về Morrisey ấy
nhỉ?” Anh ta hỏi anh trai tôi.

“Cậu ta chưa bao giờ đối đầu với
Conner cả.”

Geoff quay sang Vivien thắc mắc,
mắt Vivien đảo tròn nhìn chúng tôi. “Cờ vua”, cô ấy giải thích. “Nếu hai
người tin được. Bọn tôi đã nói về chủ đề này cả tiếng vừa rồi.”

Tom không nghe. “Ned”, anh gọi về
phía cuối quầy bar, “người ta nói gì về những cơ hội của Morrisey?”.

Ned lật tờ báo và đáp mà không buồn
ngẩng đầu. “Không có một cơ hội mong manh nào hết”, anh ta trả lời, Tom chỉ ra.

“Thấy chưa?”

“Anh sai bét.” Iain lắc đầu. “Sau
cùng, Morrisey là người Scotland.”

“Chính xác.” Anh trai tôi mỉm cười
với vại bia, ánh nhìn ranh mãnh lọt vào đôi mắt xám của Iain.

“Anh có muốn đánh cuộc một khoản
nho nhỏ không?”

Geoff giơ một bàn tay cảnh báo
chen ngang. “Cẩn thận đấy, Tom”, anh khuyên anh trai tôi. “Tôi đã mất
nhiều tiền với người đàn ông này nếu liệt kê chi tiết ra.”

Tom nao núng, nhưng chỉ trong chốc
lát. Anh không thể kháng cự lại cụm từ “đánh cược một khoản nho nhỏ”.

“Năm bảng”, anh đề nghị.

“Xong.”

Iain chốt hạ lần đánh cược với một
cái bắt tay, đôi mắt thoáng sáng lên khi nhìn Geoff, và châm một điếu thuốc.
“Cậu trông kinh thế”, anh ta lỗ mãng nói với bạn. “Cái quái gì khiến cậu ra thế
này đấy?”

“Thực ra là lỗi của Julia”, Geoff
vừa đáp vừa đẩy hết trách nhiệm đi. “Tôi không được ngủ từ lúc trở về từ Luân
Đôn.”

Tôi co rúm người lại trước cách lựa
chọn từ ngữ của anh. Ba cặp mắt tò mò quay phắt về phía chúng tôi. Đến cả Ned
cũng phải liếc nhìn hai đứa tôi một cái trước khi quay trở lại với trang báo
vừa lật. Geoff cũng nhận ra sai lầm và cười ngoác miệng.

“Này, mấy người bỏ hết đống suy
nghĩ đen tối khỏi đầu đi. Thực tế bọn tôi đã thức suốt đêm để lục lại lịch sử
của lâu đài đấy.”

Không hẳn là một lời nói dối, tôi
nghĩ và thầm tán thưởng khả năng che giấu sự thật của anh. Bên cạnh tôi, Tom
thắc mắc rướn một bên lông mày lên, làm tôi phải gật nhẹ đầu. Tin tức xẹt
qua rõ ràng giữa hai chúng tôi là: Phải, em kể anh ấy nghe rồi, Tom
chuyển mắt khỏi tôi để nhìn Geoff với vẻ hứng thú mới mẻ và đột ngột.

“Thực sự thì chúng tôi tìm thấy một
thứ rất thú vị”, Geoff tiếp tục, thi thoảng đùa nghịch với vại bia trong tay.
Anh nhìn Iain. “Có nhớ cậu luôn bảo sân sau nhà tôi giống một ngôi mộ không?”

“Có”

“Ừm, đúng là vậy đấy. Bọn tôi đã
tìm thấy một tấm bia mộ bị vùi bên dưới vạt cỏ. Vợ của William de Mornay.”

“Thứ nhất hay thứ hai?” Vivien hỏi,
Geoff nhănmày.

“Cái gì, vợ á?”

“Không, là William. Cha hay con?”

“Ồ.” Gương mặt Geoff sáng lên.
“Con. Người ở phe Kỵ sĩ đã bị nhốt vào tháp Luân Đôn.”

Vivien nhướn hàng lông mày.
“Vì sao họ lại chôn bà ấy trong sân sau? Không phải thường chôn cất ở nhà
thờ sao?”

“Không biết nữa”, Geoff đáp. “Có lẽ
là do bà ấy theo Công giáo. tên của bà ấy là Louise, một cái tên Pháp.”

Hoan hô, tôi lại lẳng lặng khen
anh. Anh thậm chí còn giỏi thu xếp chuyện này hơn tôi rất nhiều.

Iain trông không ngạc nhiên chút
nào trước khám phá của chúng tôi. “Dù sao”, anh ta nói, “chúng ta tốt hơn hết
nên dọn dẹp một chút, nếu có ai đó đang yên nghỉ ở đấy. Sáng mai tôi sẽ ghé qua
với dụng cụ làm cỏ và xem có thể làm gì”.

Tiếng thở dài của Vivien lẫn giữa
thích thú và sốt ruột. “Có gì trên danh sách công việc đó của anh rồi?”

Cô ấy hỏi. “Đến số một trăm linh
một chưa?”

“Anh chỉ muốn giữ bản thân bận rộn
thôi”, anh ta đáp trả.

“Tôi sẽ giúp cậu”, Geoff hứa,
Vivien đành bỏ qua với một cái hất nhẹ mái đầu vàng hoe.

Tom vẫn còn mắc kẹt trong một ý
nghĩ trước đó. “Buồn thật đấy nhỉ, khi nghĩ ai đó từ chối được chôn cất trong
khu đất thánh?” Anh trầm ngâm uống một ngụm rượu Scot. “Nhà thờ chắc chắn giữ
nhiều câu trả lời, trong lịch sử.”

“Cứ tiếp tục nói như vậy đi anh”,
tôi trêu, “rồi đến Giáng Sinh anh sẽ bị tước mũ áo cho xem”.

Anh tôi lắc đầu. “Không có cửa đâu.
Tổng giám mục với anh chơi khá thân đấy nhé. Bên cạnh đó, tên của anh cũng
khiến người ta cân nhắc rồi. Anh được sinh ra để trở thành người mặc bộ quần áo
này, em cũng biết anh có cảm giác mãnh liệt thế nào về con đường do định mệnh
sắp sẵn rồi đấy.”

Tôi liếc nhìn Geoff và ánh mắt
chúng tôi gặp nhau trong một thoáng. Lúc Tom và Iain bắt đầu một cuộc thảo luận
riêng về các nội quy trong Cơ Đốc giáo, Geoff vươn người qua tôi để gọi thêm
một vại nữa, anh đặt một bàn tay ấm áp lên vai tôi. Đó là một đụng chạm của sự
cam đoan, của hứa hẹn, của một lời xin lỗi dịu dàng, và trái tim tôi dâng trào
đáp lại.

Tôi có thể chờ lâu hơn một chút,
tôi nhủ thầm. Vì Richard, tôi có thể chờ.

Báo cáo nội dung xấu