Nửa kia của Hitler - Chương 01

Để tưởng nhớ Georg Elser,

người đánh bom thủ công

Phút giây làm thay đổi thế giới...

- Adolf Hitler: trượt. Lời tuyên án giáng xuống như một
chiếc thước sắt quật vào tay đứa trẻ.

- Adolf Hitler: trượt.

Bức màn sắt sập xuống. Hết thật rồi. Không được thi lại nữa.
Đi chỗ khác. Ra ngoài.

Hitler đưa mắt nhìn quanh. Hàng chục thanh niên, tai đỏ dừ,
hàm nghiến chặt, kiễng căng người, nách ướt đầm đìa vì hốt hoảng, đang
đứng nghe người giáo vụ xướng lên định mệnh của họ. Không ai chú ý đến
hắn. Không ai để ý đến tầm mức khủng khiếp của điều vừa thông báo, thảm họa vừa
xé toang sảnh Học viện Mỹ thuật, vụ nổ lớn chọc thủng vũ trụ: Adolf Hitler
đã trượt.

Trước sự thờ ơ ấy, Hitler đâm nghi ngờ không biết mình nghe
có đúng không. Ta đau đớn. Một thanh gươm buốt giá đang rạch từ tim đến
gan ruột ta, máu ta lai láng, vậy mà không ai nhận ra điều đó ư? Không ai
nhìn thấy nỗi bất hạnh đang đè nặng lên ta ư? Liệu ta có phải người duy
nhất trên thế giới này phải sống với chừng ấy nỗi bất hạnh dồn dập? Ta và họ có
sống trong cùng một thế giới không?

Người giáo vụ đã đọc xong phần thông báo kết quả. Ông ta gập
tờ giấy lại và nở một nụ cười vô định. Đó là một người đàn ông da vàng
vàng, gầy như xe điếu, chân tay cứng đơ, dài thuồn thuột, lóng ngóng,
không hiểu nhờ đâu dính được vào người. Ông ta bước xuống bục, đi về phía các
đồng nghiệp của mình, coi như công việc đã hoàn tất. Dáng vẻ thì không,
nhưng tâm địa đúng là một tên đao phủ. Tin chắc mình vừa phát ngôn ra chân
lý. Một gã đần dạng này có thể sợ cả một con chuột nhắt nhưng lại không hề
ngần ngừ khi xướng lên một cách thản nhiên, không một giây run rẩy: “Adolf
Hitler:trượt.”

Năm ngoái, đã một lần ông ta thông báo điều khủng khiếp này.
Nhưng khi đó thì đỡ hơn bởi năm đó Hitler không ôn luyện cẩn thận và mới
dự thi lần đầu. Năm nay, cũng vẫn câu nói ấy đã biến thành một bản án tử
hình: không ai có quyền dự thi quá hai lần.

Hitler không rời mắt khỏi người giáo vụ giờ đang đứng tán
chuyện với các giám thị, một đám lảnh khảnh độ ba mươi tuổi, mặc áo bờ lu
màu ghi, một đám già cốc đế trong mắt Hitler mười chín tuổi. Với họ, đó là
một ngày bình thường, một ngày vừa qua đi nữa, một ngày làm việc để biện minh
cho khoản lương nhận được cuối tháng. Với Hitler, đó là ngày đặt dấu chấm
hết cho tuổi thơ, ngày cuối cùng hắn còn tin rằng giấc mơ và hiện thực
trùng hợp với nhau.

Sảnh trường Mỹ thuật thưa dần như một cái chuông đồng nhả âm
thanh tỏa đi khắp thành phố. Để ăn mừng đã đỗ hay nhấm nháp nỗi buồn thi
trượt, đám thanh niên tản ra lấp đầy các quán cà phê trong thành Viên.

Chỉ còn mỗi Hitler đứng lại, bất động, choáng váng, nhợt
nhạt. Đột nhiên, hắn nhìn thấy chính mình từ bên ngoài, như một nhân vật
trong tiểu thuyết: mồ côi cha từ nhiều năm nay, mất mẹ từ mùa đông năm
ngoái, chỉ còn vẻn vẹn một trăm curon trong túi, ba chiếc sơ mi và một bộ toàn
tập các tác phẩm của Nietzsche trong vali, cái nghèo hứa hẹn sẽ mang tới
cái rét và người ta vừa từ chối không cho hắn quyền học lấy một cái nghề.
Hắn có gì cho mình? Chẳng có gì. Một thân hình xương xương, bàn chân
quá khổ và đôi tay bé tí. Một người bạn mà hắn sẽ không dám thừa nhận thất
bại của mình vì đã trót huênh hoang rằng mình sẽ thành công. Một người vợ chưa
cưới, Stephanie, mà hắn thường xuyên viết thư nhưng chẳng bao giờ được hồi âm.
Hitler nhìn vào hoàn cảnh thực của hắn và thấy thương hại chính mình. Đó
chính là cảm giác cuối cùng hắn muốn có.

Đám nhân viên giáo vụ tiến về phía người thanh niên mắt đang
rân rấn. Họ mời anh ta đi uống một cốc sôcôla trong phòng người gác cổng.
Người thanh niên để mặc họ kéo đi, tiếp tục khóc thầm.

Ngoài kia, nắng chói chang, vui tươi, da trời xanh ngắt rập
rờn chim bay. Qua cửa sổ, Hitler nhìn thấy khung cảnh thiên nhiên và không
tài nào hiểu nổi. Vậy là, cả con người, cả thiên nhiên cũng vậy ư?
Không ai buồn đồng cảm với nỗi đau của ta ư?

Hitler uống cốc sôcôla, lịch sự cảm ơn những người giám thị
rồi ra về. Thái độ ân cần ấy không an ủi được hắn; giống như mọi thái độ
khác của con người, nó là cái gì đó chung chung, là cái người ta làm cho
phải đạo, tình cảm ấy không dành cho đích danh hắn. Hắn không muốn phải chịu
đựng nó thêm nữa.

Vai rũ xuống, Hitler lê từng bước rời trường Mỹ thuật và
chìm vào dòng người ở thành Viên. Có lúc hắn đã thấy thành phố này đẹp,
trữ tình, uy nghiêm, đượm chất Ba-rốc, nơi gửi gắm biết bao hi vọng; nay
nó đã thu hẹp lại chật chội, vừa đủ đóng khung lấy thất bại của Hitler. Hắn có
còn yêu thành Viên nữa không? Hắn có còn yêu hắn nữa không?

Đó là chuyện đã diễn ra ngày 8 tháng Mười năm 1908. Một ban
giám khảo gồm các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà thiết kế và kiến trúc sư đã
quyết định không chút do dự về trường hợp của người thanh niên này. Đường
nét vụng về. Bố cục lộn xộn. Kỹ thuật không có chút nào. Tưởng tượng sáo mòn.
Chỉ mất có một phút để họ tuyên bố không ngần ngại: thí sinh Adolf Hitler
không có chút tương lai nào trong mỹ thuật.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Học viện Mỹ thuật đã quyết định khác
đi? Điều gì sẽ xảy ra khi, vào đúng cái phút ấy, ban giám khảo quyết định
nhận Adolf Hitler? Cái phút ấy đã có thể thay đổi số phận một con người mà
cũng có thể làm thay đổi vận mệnh của cả thế giới. Thế kỷ XX sẽ như thế nào nếu
chủ nghĩa quốc xã không tồn tại? Liệu có xảy ra Đại chiến thế giới thứ hai
và liệu năm mươi lăm triệu người trong đó có sáu triệu người Do Thái có
phải chết, trong một thế giới mà Adolf Hitler làm họa sĩ?

*

* *

- Adolf H.: trúng tuyển.

Một luồng khí nóng tỏa lan khắp cơ thể người thanh niên.
Niềm hạnh phúc tràn dâng trong người làm thái dương hắn rần rật, tai ù đi,
ngực căng lên và tim đập thình thịch. Đó là một khoảnh khắc dài, đầy đặn
và căng tràn, cơ bắp cương lên, một sự co thắt ngây ngất, một lạc thú thuần
khiết như lần cực khoái đầu tiên vô tình đến khi hắn mười ba tuổi.

Khi cơn sóng hạnh phúc qua đi, Adolf H. định thần lại và
nhận thấy toàn thân mình ướt đẫm. Một thứ mồ hôi nồng hơi chanh làm quần
áo của hắn dính nham nháp. Hắn không có quần áo thay nhưng chẳng hề gì:
hắn đã đỗ!

Người giáo vụ gấp tờ giấy lại và nháy mắt với hắn. Adolf đáp
lại bằng một nụ cười rạng rỡ. Đó, không chỉ các giáo sư mà ngay cả những
nhân viên cấp thấp, ngay cả các giám thị cũng đều vui vẻ đón chào hắn tại
trường Mỹ thuật!

Adolf H. quay lại và nhìn thấy một nhóm thanh niên đang chúc
mừng nhau. Hắn bước tới không ngần ngại và chìa tay về phía họ.

- Xin chào, tôi là Adolf H. Tôi cũng vừa được nhận vào
trường.

Mọi người giãn ra để hắn đứng vào vòng tròn với họ. Tiếng
nói chuyện ngày càng rôm rả. Đám thanh niên tạo thành một vòng tròn bá vai
bá cổ nhau, vang tiếng cười nói, vang những cái tên lần đầu tiên nghe thấy
để rồi không ai có thời gian để nhớ nhưng dẫu sao, họ vẫn còn cả một năm trước
mắt để tìm hiểu nhau kỹ hơn...

Trời đang vào thu nhưng ngày hôm đó đã có cái tươi trẻ của
một sự khởi đầu thực sự và mặt trời, đồng điệu, dường như đang cười trên
bầu trời xanh thẳm.

Tất cả nói cùng một lúc, không ai nghe ai, mỗi người chỉ
nghe thấy tiếng mình nhưng điều đó cũng có nghĩa là đang nghe người khác
nói bởi tất cả những người trúng tuyển đều thể hiện một niềm
vui giống nhau.

Tuy nhiên, một trong số họ lớn tiếng át hết tất cả, hét lên
rủ mọi người đến quán Kanter để ăn mừng.

- Đi thôi nào!

Adolf để mặc đám bạn kéo đi. Từ một người đơn độc, hắn đã là
thành viên của một nhóm.

Khi đi qua cổng trường, hắn để ý thấy phía sau mình một
thanh niên đứng bất động, đang rưng rức khóc một mình giữa cái sảnh rộng
mênh mông của trường.

Cảm giác thương hại thoáng lướt qua đầu Adolf H., hắn chỉ
kịp tự nói với mình “tội nghiệp anh ta” trước khi niềm hứng khởi lại xâm
chiếm dữ dội người hắn, đợt sóng hạnh phúc thứ hai có sức mạnh tàn phá,
còn mạnh hơn lần trước, bởi bây giờ nó là một sự hoan hỉ được tăng cường, đắp
bồi, được tăng lên gấp đôi: niềm vui thi đỗ trộn lẫn với niềm vui vì đã
không thất bại. Adolf H. chợt nhận ra rằng ở đời có kẻ khóc thì mới có
người cười.

Hắn quay lại với đám bạn. Liệu dân thành Viên có biết rằng
chiều nay họ đã nhìn thấy một nhóm thiên tài trẻ tuổi đi qua trước mắt họ
hay không? “Hãy kiên nhẫn,” Adolf tự nhủ, “một ngày kia họ sẽ nhận ra
điều đó.”

Tiếng huyên náo và niềm hân hoan sôi lên dưới mái quán rượu
Kanter nơi bia đang chảy tràn trên những chiếc vại. Adolf H. uống như chưa
bao giờ được uống. Tối nay, hắn đã thực sự trở thành một người trưởng
thành. Adolf và đám bạn mới tưởng tượng xem mình sẽ trở thành một họa sĩ tầm cỡ
nào, rằng mình chắc chắn sẽ ghi dấu ấn vào thế kỷ này ra sao, và thậm chí
họ đã bắt đầu nói xấu lớp họa sĩ đi trước. Đó là một buổi tối lịch sử.
Adolf H. uống hết cốc này đến cốc khác, uống như một nhạc công chơi nhạc,
uống để nhập làm một với những người khác, để tan vào họ.

Đó là lần đầu tiên trong đời Adolf khẳng định mình không
phải để đối chọi mà là để hòa nhập với người khác. Từ nhiều năm nay, Adolf
biết mình là một họa sĩ, hắn chưa bao giờ nghi ngờ điều ấy, tuy nhiên, sau
thất bại năm trước, hắn chờ đợi ngày thực tế chứng minh điều hắn tin là đúng.
Vậy đấy! Từ nay, tất cả đều trùng hợp! Hắn đã tái hòa nhập được với thế
giới, người ta đã nhìn nhận hắn như hắn đã mơ ước về mình! Cuộc đời trở
nên công bằng và tươi đẹp. Từ tối nay, hắn có thể cho phép mình có bạn.

Hắn lại tiếp tục uống.

Sau khi nói những chuyện đao to búa lớn, đám thanh niên quay
sang hỏi nhau quê quán và gia đình. Đến lượt mình, Adolf bỗng có cảm giác
thèm đi tiểu vô cùng, hắn bèn chạy ra nhà vệ sinh.

Dòng nước trong người hắn xối vào bồn tiểu bằng sành, xả
mạnh, hắn cảm thấy mình rắn rỏi biết bao.

Trước tấm gương rỗ xanh, Adolf thử xem mặt của một tân sinh
viên trường Mỹ thuật ra sao. Dường như hắn đã nhìn thấy ngày hôm nay từ
trước đó và trong con ngươi của hắn long lanh một thứ ánh sáng chưa từng
có. Hắn thỏa mãn tự ngắm mình, thử đứng tạo dáng một chút và tự nhìn mình với
con mắt của hậu thế: đây Adolf H., họa sĩ tài danh...

Bỗng một cơn đau làm hàm hắn cứng lại, bọt sùi ra hai bên
mép và Adolf cúi gập người bên bồn rửa mặt. Những cơn đau buốt chạy khắp
hai vai, nước mắt làm lem luốc cả khuôn mặt: hắn vừa nghĩ đến mẹ mình.

Mẹ ơi... Nếu ở đây tối nay, bà sẽ vui đến nhường nào!
Bà sẽ thấy tự hào biết bao! Bà sẽ ghì hắn vào bầu ngực đang bị bệnh tật
hành hạ của mình.

Mẹ ơi, con đã đỗ vào Học viện Mỹ thuật.

Hắn hình dung rõ mồn một niềm hạnh phúc của bà. Khi nghĩ đến
điều ấy, tất cả tình mẫu tử cuối cùng cũng được trả lại cho đứa bé
mồ côi.

Mẹ ơi, con đã đỗ vào Học viện Mỹ thuật.

Hắn lầm rầm nhắc đi nhắc lại câu nói ấy, như thể đang niệm
một câu thần chú, cho đến khi cơn bão lòng qua đi.

Sau đó, hắn quay trở lại với bạn bè.

- Ê Adolf, từ nãy đến giờ ở đâu đấy? Nôn à?

Thì ra mọi người đã đợi hắn từ nãy! Họ đã gọi hắn là Adolf!
Họ đã lo lắng! Cậu thanh niên cảm động đến mức nhanh chóng cất lời:

- Mình nghĩ rằng ngày nay ta không thể vẽ như cách đây hai
mươi năm được nữa. Sự xuất hiện của nhiếp ảnh buộc chúng ta phải chú trọng
vào màu sắc. Mình không nghĩ rằng màu sắc trong tranh nhất thiết phải là
màu tự nhiên!

- Cậu nói gì thế? Đâu phải vậy! Meyer đã chẳng bảo...

Và thế là cuộc tranh luận lại bắt đầu, sôi nổi, bùng cháy
như ngọn lửa trong lò sưởi. Adolf H. phấn khích vì những ý nghĩ mới mà năm
phút trước hắn còn chưa có, lao vào những lý thuyết mới mà ngay lập tức
hắn đã coi như chân lý vĩnh hằng. Những người kia đập lại một cách
mạnh mẽ.

Trong những khoảng thời gian ngắn ngủi hắn dừng nói, Adolf
H. không nghe các bạn nói gì mà khoái trá nghĩ về những lá thư sẽ viết vào
ngày mai: một bức cho Stephanie, người vợ chưa cưới, nàng sẽ không còn lý
do gì để tỏ ra cao ngạo như thế nữa, một cho dì Johanna người chưa bao giờ tin
vào tài năng hội họa của hắn, một cho ông giám hộ Mayrhofer, người tự cho
mình cái quyền khuyên hắn nên học lấy “một cái nghề thực sự”, một cho
Paula, con em gái vừa xấu vừa hỗn, người mà hắn chẳng bao giờ để ý tới,
tuy nhiên nó vẫn cần phải biết rằng mình có một người anh vĩ đại nhường nào, rồi
một bức cho ông thầy Rauber, lão già ngu xuẩn này cho hắn toàn điểm xấu
trong các giờ hình họa, và cả ông thầy Krontz dạy hắn ở bậc trung học, lão
này cũng tự cho phép mình chê cách phối màu của hắn, một cho ông thầy cấp
một ở Linz nữa, ông này đã sỉ nhục hắn khi hắn lên tám bằng cách cho cả lớp xem
hình con bài tép màu đỏ năm cánh rất đẹp của hắn... Niềm vui lèo lái những bức
thư của hắn như người ta ngắm bắn, chúng sẽ là những vũ khí làm bị thương
tất cả những ai đã không chịu tin vào hắn. Một niềm khoái trá tàn bạo dâng
lên trong hắn. Tối nay, hắn cảm thấy thoải mái vô cùng nhưng ngày mai, hắn sẽ
còn cảm thấy dễ chịu hơn khi làm người khác đau đớn. Sống nghĩa là giết đi
một ít.

Thế là ngày 8 tháng Mười năm 1908, trong tiếng ồn ĩ nồng nặc
hơi men của quán Kanter, dù chưa thực hiện được bất kỳ một tác phẩm quan
trọng nào và mới chỉ có được quyền học vẽ, chàng trai trẻ Adolf H. vừa
vượt qua một giai đoạn quan trọng mà không có nó sẽ không có nghệ sĩ: từ nay,
hắn vĩnh viễn tự coi mình là trung tâm của thế giới.

*

* *

- Chào cậu Hitler. Thế nào? Cậu đỗ rồi chứ?

Zakreys, chủ quán trọ, mụ phù thủy người Séc rời chiếc máy
khâu, nhao ra hành lang ngay khi nghe tiếng khóa tra vào ổ. May thay, hành
lang tranh tối tranh sáng nên Hitler nghĩ rằng cái khối thịt đồ sộ với cặp
mắt ti hí vàng vàng kia khó nhìn rõ mặt mình.

- Còn chưa biết, bà Zakreys à. Họ còn chưa thông báo kết quả
vì một ông giám khảo bị ốm chưa trả điểm cho trường.

Zakreys ho khẽ tỏ vẻ thông cảm. Hitler biết rằng hễ cứ nói
đến chuyện bệnh tật thì ngay lập tức bà ta sẽ sợ, đồng thời sẽ thông cảm
với người nói.

- Thế ông giáo ấy bị làm sao?

- Bị cúm. Hình như đang có dịch trong thành phố mình thì
phải.

Theo bản năng, bà Zakreys lùi về phía bếp, ngay lập tức đã
sợ rằng Hitler đang mang mầm bệnh nguy hiểm trên người rồi.

Hitler đã ghi một điểm quyết định. Mấy năm trước, chồng bà
Zakreys đã chết vì bệnh cúm do không được chữa trị đầy đủ. Bà ta sẽ tránh
tiếp xúc với Hitler và thậm chí không cả mời hắn uống trà. Chắc chắn bà ta
sẽ tránh xa hắn trong mấy ngày tới. Cừ thật! Hắn sẽ không phải nhọc thân, nói
dối, trau chuốt vai kịch một kẻ đang đợi kết quả nữa.

Vừa treo áo lên mắc, Hitler đã nghe thấy bà chủ nhà bật ga,
sắc nước húng tây để uống. Có lẽ cảm thấy áy náy vì đã bỏ đi nhanh như
thế, bà ta thò đầu ra hành lang lịch sự hỏi:

- Chắc cậu phải thất vọng lắm nhỉ?

Hitler giật nảy mình.

- Về chuyện gì cơ?

- Việc phải đợi... kết quả ấy mà...

- Vâng. Đúng là khó chịu thật.

Bà Zakreys dò xét hắn từ xa và chờ hắn nói thêm gì đó, nhưng
khi thấy hắn im lặng, bà ta cảm thấy mình tử tế thế là đủ và quay
lại bếp.

Hitler giam mình trong phòng.

Hắn ngồi khoanh chân trên giường và hút thuốc theo đúng bài
bản. Hắn rít thuốc, cho khói xoay cuộn trong phổi rồi nhả ra những vòng
khói dày. Hắn ngây ngất cảm giác như máu huyết mình đang sưởi
ấm căn phòng.

Xung quanh hắn, cơ man những bức vẽ của hắn, áp phích các vở
opera - Wagner, Wagner, Wagner, Weber,Wagner, Wagner, các bức phác thảo trang
trí cho những vở kịch trữ tình và thần thoại mà hắn muốn viết với Kubizek
bạn hắn, sách của Kubizek, những bản nhạc của Kubizek.

Cần phải viết cho Kubizek hiện đang thực hiện nghĩa vụ quân
sự trong một doanh trại. Viết... nói với cậu ấy rằng...

Hitler cảm thấy việc này quá sức hắn. Chính hắn là người đã
thuyết phục Kubizek theo hắn rời Linz tới Viên, đảm bảo rằng cậu ta phải
trở thành nhạc sĩ, thậm chí còn đăng ký cho cậu ta vào Nhạc viện, nơi đã
nhận Kubizek ngay lập tức vào khoa xướng âm, sáng tác và piano, chính hắn là
người đầu têu chống lại những lời phản đối kịch liệt của hai gia đình, vậy
mà giờ đây, hắn sắp phải thú nhận rằng, về phần mình, hắn đã không thành
công trong bất cứ dự định nào.

Bà Zakreys gõ gõ vào cửa.

- Việc gì đấy? Hitler quàu quạu hỏi để khỏi bị làm phiền.

- Phải trả tiền phòng cho tôi đấy nhé.

- Vâng, thứ Hai tôi trả.

- Đồng ý. Nhưng không được chậm đâu đấy.

Nói rồi bà ta loẹt quẹt bỏ đi.

Hitler hoảng hốt nhìn quanh. Liệu hắn có thể tiếp tục trả
tiền phòng được không? Nếu đỗ vào trường Mỹ thuật thì hắn đã có học bổng
dành cho sinh viên mồ côi. Nhưng nếu không có số tiền ấy thì...

Ta còn có số tiền thừa kế từ cha ta! Tám trăm mười chín
curon cơ mà!

Nhưng số tiền ấy hắn chỉ có thể nhận được khi đã đủ tuổi,
nghĩa là năm năm nữa. Từ giờ đến lúc ấy...

Tim hắn đập loạn xạ.

Hắn buồn bã nhìn quanh phòng. Hắn thậm chí không thể ở lại
đây được nữa. Nếu là sinh viên thì hắn còn có thể hài lòng với cuộc sống
thiếu thốn. Nay không còn là sinh viên nữa, hắn đã trở thành nghèo khó.

Sập ba lần cửa, hắn đi ra phố. Hắn muốn trốn chạy căn phòng
của mình. Hắn phải đi, phải tìm cho ra một phương kế. Giữ lấy thể diện!
Trước tiên phải cứu lấy thể diện cái đã. Sẽ không nói gì với Kubizek cả.
Sau đó là phải moi đâu được tiền. Giữ lấy cái vẻ ngoài bình thường.

Hắn bước những bước dài không tiếng động trên vỉa hè của khu
Mariahilf, một trong những khu phố nghèo nhất thành Viên. Khu phố lẽ ra
trông phải mới vì vừa xây xong nhưng các tòa nhà đã lèn chật người, chưa
gì đã nứt rạn. Một mùi hạt dẻ nóng nồng nặc tỏa ra từ mặt tiền khu phố.

Làm gì đây?

Chơi xổ số!

Hitler hoan hỉ. Đương nhiên rồi! Lối thoát đây rồi! Chính vì
vậy mà ngày hôm nay mới trôi qua nặng nề đến thế! Cái gì cũng có ý nghĩa
của nó. Số mệnh đã không cho hắn trúng tuyển vào trường Mỹ thuật là bởi nó
đã dành cho hắn một sự bất ngờ thú vị hơn: trở thành triệu phú. Sự việc chiều
nay chẳng qua chỉ là một thử thách mở màn, một đoạn đường hiểm trở nhưng
chắc chắn phải dẫn đến nơi có ánh sáng: một tấm vé số! Thực ra, hắn chỉ
thất bại để kiếm được nhiều hơn thôi.

Đương nhiên là phải thế rồi! Làm sao hắn còn nghi ngờ được
cơ chứ? Tấm vé đầu tiên của người bán vé số gặp đầu tiên!... Tiếng
nói cất lên trong thâm tâm bảo hắn. Tấm vé đầu tiên của người bán vé số gặp đầu
tiên!

Vừa đúng lúc đó, sau một cái lò sưởi với những viên than
hồng rực làm đen cả những cây hạt dẻ, xuất hiện một người tàn tật đang bán
vé số cho người qua đường.

Hitler nhìn kẻ bị phù thũng trước mắt mình mà ngỡ như thần
thánh đang hiển linh hay đúng hơn là điềm trời xác tín. Hạnh vận đây rồi,
ngay trước hắn, đang ngồi trên một cái ghế gấp bằng vải bố, hai chân đặt
trong rãnh lề đường, mang hình dạng một kẻ vô gia cư móm mém, chân tay như
những khúc dồi. Như trong một câu chuyện cổ tích mà hồi bé hắn nghe
mẹ đọc.

Hitler bồn chồn rờ tay lên túi. Hắn còn đồng nào không nhỉ?
Diệu kỳ thay, trong túi hắn còn đúng số tiền đang cần. Lại thêm một điềm
may nữa.

Tim đập thình thịch, Hitler tiến lại gần đống thịt mọng nước
và nói:

- Cho tôi một tấm vé.

- Tấm nào, thưa ngài? Người đàn ông cổ quái hỏi và đưa con
mắt lờ đờ cố níu cậu thanh niên lại.

- Cái đầu tiên tay ông chạm phải.

Hitler say mê nhìn bàn tay của con hải cẩu trong bộ dạng
người đang lần lần từng tấm vé, lưỡng lự, rồi dứt khoát rứt phựt một tờ
vé số.

- Đây thưa ngài. Có thể nói rằng ngài đã gặp may đấy.

- Tôi biết, Hitler đáp gọn, mặt đỏ bừng.

Hắn cầm tấm vé, áp vào ngực và chạy biến đi.

Từ nay hắn được cứu rồi. Hắn ôm tương lai vào lòng. Hitler
tin chắc rằng người mẹ quá cố, từ nơi xa xôi nào đó trên trời, đã gửi cho
hắn ý tưởng cứu rỗi ấy.

- Cảm ơn mẹ, đứa con vừa nói vừa chạy, mắt hướng lên những
vì sao bị những mái nhà tối thẫm che khuất.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.