Nửa kia của Hitler - Chương 20
- Anh bị nhiễm độc hơi ngạt. Dần dần anh sẽ lấy lại thị lực.
Bác sĩ Forster trấn an người bị thương trong phòng lớn giữa
bệnh viện đầy ắp tiếng rên la.
- Trái với điều anh nghĩ, mắt anh không hề bị hỏng và anh
không bị mù vĩnh viễn. Đó là một ca viêm kết mạc cấp cộng với việc mí mắt
bị phồng lên.
Hitler nghe bác sĩ nói nhưng thấy khó mà tin vào những gì
anh ta nói. Hắn vẫn bị đóng đinh vào bóng tối. Hắn biết rằng mình đang ở
bệnh viện Pasewalk nhưng hắn không nhìn thấy gì xung quanh, hắn biết rằng
bác sĩ Forster đang chữa trị cho mình nhưng không thể nói anh ta tóc màu nâu,
vàng hoe hay hung đỏ, hắn biết tất cả những người cùng phòng qua tên, qua
giọng nói và những câu chuyện của họ và với hắn, việc nằm giữa chừng ấy
thân thể và khuôn mặt không quen biết là một sự thân mật không thể
tha thứ được.
- Có thể giờ đây anh đã lấy lại thị lực rồi. Thậm chí điều
này là chắc chắn. Song để cẩn thận, tôi vẫn buộc anh phải đeo băng
kín mắt.
- Nhưng còn tay tôi thưa bác sĩ, tại sao anh lại buộc tay
tôi vào giường thế này?
- Tôi không muốn anh dụi mắt. Nếu làm vậy anh có nguy cơ làm
viêm nhãn cầu và mi mắt đến mức làm anh mù thực sự.
- Tôi thề với bác sĩ là...
- Đó là để tốt cho anh thôi, hạ sĩ Hitler ạ. Anh nghĩ là tôi
muốn còng tay một người anh hùng đã được tặng thưởng huân chương Thập tự
sắt hạng nhất hay sao? Tôi muốn chữa khỏi cho anh vì anh xứng đáng với
điều ấy.
Hitler im lặng và đồng ý. Bác sĩ Forster biết rằng Hitler sẽ
ngoan ngoãn nghe lời khi người ta nịnh hắn một cách hợp lý. “Một con người
kỳ lạ, anh nghĩ, có thể chịu đựng tất cả nếu người ta thừa nhận anh ta là
một người xuất sắc. Một sự dũng cảm lạ thường dựa trên sự tự đánh giá cao một
cách lệch lạc về mình. Hiếm khi gặp một người có cái Tôi mạnh như vậy và
yếu như vậy. Mạnh vì anh ta cho rằng mình là trung tâm tuyệt đối của thế
giới, một cái đầu nhồi nhét đầy những điều chắc chắn không gì lay chuyển
nổi, tin chắc rằng mình luôn luôn nghĩ đúng. Yếu vì anh ta có một nhu cầu ghê
gớm được người khác công nhận chiến công của mình, được người khác trấn an
rằng mình là người có giá trị. Đó là cái vòng luẩn quẩn của những người có thói
coi mình là trung tâm: cái Tôi của họ đòi hỏi nhiều đến mức cuối cùng họ
bao giờ cũng cần đến người khác. Điều này có lẽ sẽ làm cho người ta kiệt sức
mất. Chỉ là một người ích kỷ bình thường có lẽ sẽ tốt hơn.“
Bác sĩ Forster rời phòng bệnh để đến gặp ê kíp bác sĩ mà anh
đang cố thuyết phục mọi người chuyển sang áp dụng những phương pháp nghiên
cứu chữa trị mới mà bác sĩ Freud ở Viên đưa ra.
Bên cạnh Hitler, một tay Bruch nào đó nói giọng the thé:
- Không may rồi anh bạn ơi! Nếu anh được chữa khỏi, anh sẽ
thậm chí không được nhận trợ cấp thương tật. Tiếc quá! Với một họa sĩ, lại
bị mù nữa, thì đó có thể là một chút tiền bỏ ống nho nhỏ đến cuối đời.
Hitler không trả lời. Hắn không biết cái gì làm hắn chán nản
nhất vào lúc này: mất thị lực hay phải nghe những ý nghĩ của đám thỏ đế
đục nước béo cò này.
- Các đồng chí ơi, cách mạng sắp đến rồi, Goldschmidt bắt
đầu nói.
Hitler thở dài, sốt ruột. Goldschmidt Đỏ sẽ làm ô nhiễm cả
buổi chiều nay với cái mớ diễn văn mác xít của hắn. Tất cả sẽ được kể ra
trong bài nói ấy: thắng lợi của cuộc cách mạng Nga, kỷ nguyên mới của tự
do và bình đẳng, sự năng động của người lao động cuối cùng cũng được nắm vận
mệnh của mình trong tay, tố cáo bọn tư bản, những kẻ giết người và làm
người khác chết đói... Hitler có những tình cảm mơ hồ đối với ý thức hệ
mới này; hắn còn chưa quyết định ngả theo hướng nào vì thiếu một bản
tổng hợp. Một vài điểm làm hắn thích, một vài điểm khác thì không. Hắn
đánh giá cao việc tố cáo giới tư sản ở các thành phố, những lời lẽ chống
lại bọn cơ hội, thị trường chứng khoán, nền tài chính thế giới. Nhưng hắn
đã bị sốc vì cuộc đình công cung cấp đạn dược cho mặt trận do các nghiệp đoàn
khởi phát để có hòa bình sớm hơn và hắn quyết liệt chống chủ nghĩa quốc
tế. Cái học thuyết gốc Do Thái và Slavơ này muốn xóa bỏ sự khác biệt giữa
các quốc gia và thành lập một trật tự thượng đẳng không đếm xỉa đến khái
niệm Tổ quốc nữa. Vậy thì, Hitler nghĩ, cuộc chiến này có ích gì? Vậy thì việc
là người Đức không còn là một sự ưu việt ư? Người ta có bỏ chế độ quân chủ
đi không? Hai hay ba lần, hắn đã muốn tham gia vào cuộc tranh luận cuốn
hút tất cả thương binh ở Pasewalk nhưng vẫn như mọi khi, vụng về, lộn xộn,
không có uy, hắn không làm cho người khác phải chú ý nghe mình được và nhanh
chóng chọn việc bó mình lại trong sự im lặng.
Ngày hôm sau, hắn thấy ai đó nhẹ nhàng ấn lên tay hắn.
- Hạ sĩ Hitler, chúng tôi sẽ kiểm tra xem thị lực của anh
phục hồi chưa. Tôi sẽ bỏ băng ra cho anh. Chú ý, nghiến răng vào, có thể
sẽ đau đấy.
Hitler sợ kết quả đến mức hắn suýt yêu cầu người ta để
nguyên gạc và vải băng cho hắn. Nhỡ đâu hắn không nhìn thấy gì nữa
thì sao?
Nhưng khuôn mặt của bác sĩ Forster hiện lên trong một thế
giới mờ đục đầy chấm đỏ. Khuôn mặt của người bác sĩ to một cách lạ kỳ, trẻ
và hồng hồng; anh ta để một vòng râu cằm và đeo kính vào để trông già hơn
nhưng những sợi râu tơ màu hung và cặp kính tròn một cách đáng ngạc nhiên lại
góp phần làm anh ta trẻ đi, cho anh ta dáng vẻ của một đứa trẻ sơ sinh hóa
trang thành sinh viên.
- Tôi nhìn thấy rồi, Adolf nói.
- Tôi có bao nhiêu ngón tay đây? Bác sĩ Forster hỏi và chìa
ba ngón ra.
- Ba ngón, Hitler thì thầm và nghĩ rằng người ta đang thực
sự coi mình là một thằng ngốc.
- Nhìn theo ngón trỏ của tôi đây.
Hitler nhìn theo bàn tay đang di chuyển từ phải qua trái, từ
trên xuống dưới. Điều này làm mặt hắn cau lại vì đau. Hắn nhăn
mặt lại.
- Dần dần rồi mọi chuyện sẽ ổn, anh đừng lo lắng gì.
- Liệu tôi được phát báo không?
- Được, nhưng tôi không nghĩ là anh có thể đọc được.
- Tôi cần phải có báo. Ở đây, rặt toàn tin vô căn cứ về tình
hình của nước Đức. Tôi cần phải có thông tin.
Bác sĩ Forster đặt hai tờ nhật báo lên giường hắn rồi đi ra
xa. Hitler cay đắng nhìn những dòng chữ tạo thành một đường liền, chữ nọ
dính vào chữ kia mà hắn không tài nào giải mã được. Hắn thở
dài ngao ngán.
- Các đồng chí ơi, Goldschmidt hét tướng lên, những người cách
mạng vừa đến bệnh viện này. Đó là những người lính thủy đã nổi dậy. Chúng
ta cần phải thể hiện sự ủng hộ của mình với họ.
Hitler nhìn những người cùng phòng đang sôi sục sau những
câu nói của Goldschmidt. Xem nào, trước đó, hắn chưa từng chú ý tới vẻ ngoài
của Goldschmidt, Bruch và cái gã gầy nhẳng ở kia, ba người lãnh đạo đỏ
trong phòng, họ đều là người Do Thái. Điều này có ý nghĩa gì không?
Một mục sư bước vào và căn phòng trở nên im lặng. Khuôn mặt
ông ta rầu rĩ báo hiệu tin tức chẳng lành.
- Các con! Ông nói giọng run run, nước Đức đã đầu hàng.
Chúng ta đã thua.
Một sự yên lặng kéo dài sau những lời nói này. Mỗi thương
binh đều tự nhủ rằng mình đã đau đớn và chiến đấu chẳng vì cái gì cả.
- Vậy là số phận chúng ta hoàn toàn nằm trong tay kẻ chiến
thắng và chúng ta cần phải cầu Chúa để trông mong vào sự hào hiệp
của họ.
Điều đó còn nghiệt ngã hơn nữa: thua trận là một chuyện
nhưng phục tùng kẻ thù lại là chuyện khác. Số phận nô lệ đang chờ đợi
nước Đức.
- Đó chưa phải là tất cả, vị mục sư nói thêm. Nền quân chủ
đã không còn. Hoàng đế Đức đã thoái vị. Nước Đức từ nay sẽ là một nước
cộng hòa.
- Hu ra! Goldschmidt hô vang.
- Hu ra! Bruch phụ họa theo.
- Câm mồm đi! Một người cụt hét lên.
Nếu vị mục sư muốn nói thêm thì ông ta cũng không làm nổi vì
căn phòng đã biến thành chốn nghị trường nơi các nghị viên đang chửi bới
nhau thậm tệ.
Hitler, mắt giàn giụa nước, nghĩ rằng hắn sẽ chết ngay lập
tức. Hắn xoay người, vùi đầu trên gối và khóc nhiều như ngày mẹ mất hay
khi Foxl hấp hối. Nước Đức không thể rơi từ trên cao đến thế. Ta
cũng không thể vậy.
Đột nhiên, bóng tối lại bao bọc lấy hắn. Hắn đưa tay lên
trước mắt và huơ huơ, hắn không nhìn thấy gì nữa. Đó là một bóng tối màu
nâu sẫm, giống như cái nền đất sét nơi hắn đã ngủ trong suốt bốn năm, đã
bảo vệ trong suốt bốn năm, đã ôm mỗi khi bom đạn trút xuống. Hắn đã trở thành
đất, được trả về với đất. Chắc chắn rồi, hắn phải chết.
- Mắt tôi! Mắt tôi!
Hắn hét toáng lên.
Những người y tá lao đến để ngăn hắn không tự đập vào hốc
mắt. Bác sĩ Forster chạy đến tiêm cho hắn một mũi an thần và yêu cầu đưa
hắn vào một phòng nhỏ cách ly.
Hitler chìm trong một trạng thái phi lý, một cơn phẫn nộ bị
gián đoạn bởi những đợt hôn mê. Hắn nghe thấy, từ xa vẳng lại nhưng không
hiểu gì, cuộc tranh luận của bác sĩ trẻ Forster và ông Steiner, viện
trưởng bệnh viện quân sự ở Pasewalk.
- Tôi đã nói với viện trưởng rằng đó là một phản ứng tâm lý.
- Anh thôi ngay cái việc lúc nào cũng trương tâm lý học ra
đi, Forster. Xem tình trạng viêm kết niêm mạc vừa rồi của anh ta nặng thế
nào thì biết, chỉ cần một cơn rối loạn nước mắt là đủ để bệnh tái phát.
Đây là cùng một dạng mù giống lần trước.
- Tôi đảm bảo với ông là không. Lần này, đây là một dạng mù
lòa khác hẳn. Bệnh nhân từ chối nhìn thấy mọi vật. Anh ta muốn phủ nhận
rằng chúng ta đã thua trong cuộc chiến. Đó là một ca mù có nguồn gốc từ
chứng hysteria. Giáo sư Steiner, tôi đề nghị ông cho phép tôi thôi miên bệnh
nhân này.
- Tôi cấm anh.
- Nhưng tại sao?
- Tôi không tin vào những phương pháp lang băm của anh.
- Nếu ông không tin có nghĩa ông coi chúng là vô hại. Vậy
hãy cứ để tôi thử xem.
- Không. Bệnh viện của tôi không bao giờ biến thành ổ chứa
lũ thầy bói, lang băm. Anh hãy để bệnh nhân tự tìm lại thị lực.
Giáo sư Steiner sập cửa đi ra, tin chắc rằng lời nói của
mình sẽ được tuân theo.
- Lão già ngu ngốc, Forster thì thầm qua kẽ răng.
Với bác sĩ Forster, đó là một cuộc xung đột giữa các thế hệ:
thế hệ bác sĩ già không chịu đựng được những tiến bộ công nghệ và thẳng
thừng từ chối tất cả. Anh ta tiến đến gần Hitler đang rên rỉ, tay đập đập
xuống giường.
- Quá thú vị.
Đúng vậy, thực vậy, ai có thể ngăn anh ta làm cái mà anh ta
muốn với người bệnh nhân này? Chắn chắn không phải cái lão rậm râu hủ lậu
Steiner, giờ này hẳn đã về nhà và đang nhấm nháp cốc rượu mạnh của lão, để
anh ta phụ trách toàn bộ bệnh viện, như mọi đêm.
- Mặc kệ. Ta cứ làm. Một ngày nào đó, ông ta sẽ buộc lòng
phải công nhận rằng ta đã đúng.
Bác sĩ Forster rút quyển sổ tay có ghi chép bí mật số lượng
những bệnh nhân mà anh ta đã chữa trị theo phương pháp của mình là thôi
miên ám thị. Trong bốn năm chiến tranh, có ba mươi lăm ca được anh ta ghi
nhận, cho là đã được chữa khỏi bằng phương pháp này. Hạ sĩ Hitler chắc chắn sẽ
là người cuối cùng trước khi bác sĩ Forster mở phòng mạch riêng
tại Berlin.
Bác sĩ Forster khóa trái cửa rồi cúi xuống hỏi Hitler. Thực
hiện thôi miên một bệnh nhân mù không phải dễ. Forster gặp nhiều khó khăn.
Cuối cùng, sau hai mươi phút, anh ta cảm thấy mình đã thu hút được sự chú
ý của bệnh nhân và người này bắt đầu nghe lệnh anh ta.
- Giơ tay trái lên.
Hitler giơ tay trái lên.
- Xoa tai phải.
Bàn tay trái của Hitler từ từ đưa lên tìm tai phải rồi xoa
nó.
- Rất tốt. Bây giờ, anh hãy ghi khắc vào trí nhớ của mình
tất cả những gì tôi nói. Đây sẽ là Thánh kinh(16)của anh trong những năm
tới. Nếu anh đồng ý, hãy gật nhẹ đầu.
Hitler gật đầu. Forster cảm nhận thấy mối liên hệ thôi miên
đã được thành lập.
- Adolf Hitler, nước Đức cần đến anh. Nước Đức đang bị ốm,
cũng như anh. Nó cần được chữa khỏi, cũng như anh. Anh không nên giấu mình
sự thật nữa, anh không nên làm mờ mắt mình nữa, anh phải trở nên minh mẫn.
Hãy tin vào số mệnh của mình, Adolf Hitler, hãy thôi làm kẻ mù lòa và anh sẽ
lấy lại thị lực. Hãy tìm lại lòng tin, Adolf Hitler, hãy tin ở chính mình.
Những điều trọng đại đang chờ anh, một thế giới cần xây dựng lại, một cuộc
sống cần hoàn thành. Đừng bao giờ do dự nữa. Đừng bao giờ để mình lung lay
vì các sự kiện. Hãy đi theo con đường của anh. Không nghi ngờ gì cả. Tương lai
thuộc về anh. Sáng mai, tôi muốn khi tỉnh giấc, anh sẽ nhìn lại được như
xưa. Nước Đức muốn điều đó. Anh phải làm điều đó vì nước Đức.
Bác sĩ Forster cúi xuống gần người thương binh.
- Hãy ra hiệu cho tôi rằng anh đã hiểu. Hãy ngẩng đầu lên.
Hitler ngẩng đầu lên.
- Tôi để anh nghỉ, Adolf Hitler. Tôi sẽ quay lại kiểm tra
vào buổi sáng xem anh có nghe lời tôi không.
Anh ta mở cửa và để bệnh nhân lại trong bóng tối.
Sau nửa giờ, Hitler đột nhiên tỉnh giấc trên giường. Hắn cứ
ngồi, choáng ngợp bởi sức mạnh của những suy nghĩ trong đầu. Các ý nghĩ
xáo trộn dập dồn trong tâm trí hắn nhưng dòng thác ấy làm hắn cảm thấy
thoải mái; hắn có cảm giác rằng mọi việc đột nhiên trở nên sáng tỏ.
- Gutmann, Bruch, Goldschmidt... tất cả đều là người Do
Thái. Chúng ta đã thua trận vì lũ người Do Thái. Làm thế nào mà ta không
nhận ra điều ấy sớm hơn nhỉ? A, Gutmann, ta nhìn thấy lại vẻ lúng túng của
ngươi khi ta nhặt cái mũ kippa rơi ra từ túi áo ngươi; và ta, một thằng ngốc,
đã không hiểu sự phản trắc của ngươi. Chúng ta đã thua trận vì trong ban
tham mưu có đầy người Do Thái như ngươi và người ta không thể nào vừa là
người Đức vừa là người Do Thái. Chúng ta đã bị một lũ phản trắc chỉ huy.
Chúng có mặt ở tất cả các bên, ở tất cả các nước, chúng không tin vào gì cả vì
chúng là Do Thái. Máng nào chúng cũng ăn vì chúng là người Do Thái. Chúng
làm nhiễm trùng máu và quốc tịch của chúng ta. Những tên Do Thái ở chiến
trường, ở hậu phương - tấn công vào khu vực hành chính và chính trị,
tổ chức những cuộc đình công để ngưng cung cấp đạn dược. Thế ngành tài
chính, rồi nền kinh tế chẳng phải nằm trong tay bọn Do Thái ư? Có đất đai
trong tay mới là cao quý. Thế mà chúng đã thay thế bằng thị trường chứng
khoán và các nhóm cổ đông. Ngoạn mục làm sao! Chúng đã ngấm ngầm phá hoại và
gặm nhấm thế giới của chúng ta mà chúng ta không biết. Bậc thầy giả tạo.
Những kẻ đóng kịch bậc thầy. Ôi Schopenhauer, thứ lỗi cho tôi. Tôi đã
không hiểu vì sao ngài viết rằng đám Do Thái là “những bậc thầy về nói
dối“. Chúng là quân hai mặt, bề ngoài là người Đức, bên trong là Do Thái. Xin
lỗi Nietzsche, xin lỗi Wagner! Tôi đã không nắm bắt được tầm vóc sự minh
mẫn của các vị... Các vị đã có thể khai sáng cho tôi bằng quan điểm bài Do
Thái của các vị. Thay vào đó, tôi đã lảng tránh lòng hận thù của các vị,
tôi thấy nó lủng củng. Xin thứ lỗi! Chính bản thân tôi đã bị nhiễm văn hóa Do
Thái, nhiễm tình cảm thế giới đại đồng, nhiễm thói quen nhìn nhận mọi
chuyện với tinh thần phê phán. Chúng đã làm mất đi sinh lực của trí tuệ
Đức bằng cách biến dân tộc chúng ta thành những vị giáo sư tỉ mẩn,
những nhà thông thái mà người ta thờ phụng khắp thế giới. Giả tạo làm sao!
Cái bẫy mới tinh vi làm sao! Sự giáo dục thực sự phải là giáo dục của sức
mạnh và ý chí! A, đại tá Repington, ngươi là một sĩ quan Anh cũng chẳng
sao, ngươi đã không sai khi tuyên bố trên báo chí: “Cứ ba người Đức có một kẻ
phản bội”. Ngươi đã có lý. Một tên phản bội và hai thằng ngu. Một tên Do
Thái và hai kẻ ngây thơ bị lợi dụng, lừa bịp, bị phết văn hóa Do Thái đến
tận mõm. Nhưng từ nay đã có ta. Ta tin ở ta. Ta sẽ chỉ ra con đường. Ta sẽ
giương cao ngọn đuốc của ta trong các chiến hào lúc nhúc chuột, ta sẽ chỉ ra hệ
thống ngầm sẽ nuốt chửng chúng ta nếu chúng ta không hành động. Dù gì,
thất bại này sẽ là một điều tốt cho nước Đức. Một cuộc khủng hoảng thực sự
sẽ bóc trần ra ánh sáng con vi rút cho đến nay vẫn còn chưa lộ diện. Xin
lỗi Nietzsche! Xin lỗi Wagner! Xin lỗi Schopenhauer! Các vị đã nói với ta cả
trăm lần cái điều mà ta tiếp nhận tối nay như một sự giác ngộ. Một sự thần
khải. Các bác sĩ cứ dự báo trước chẳng ích gì, người ta sợ dịch hạch hơn
sợ bệnh lao. Bởi dịch hạch làm người ta choáng ngợp, tàn phá nhanh chóng
trong khi bệnh lao lại âm thầm và dai dẳng. Do đó, con người chế ngự bệnh dịch
hạch nhưng bệnh lao lại chế ngự con người. Thảm kịch này cần cho chúng ta.
Nay các con vi trùng đã lộ mặt. Cần phải tổ chức chữa chạy. Ta sẽ là bác
sĩ của nước Đức. Ta sẽ tận diệt loài Do Thái. Ta sẽ tố cáo chúng, ngăn cản
chúng sinh sản và sẽ đưa chúng đi chỗ khác. Chúng cứ việc làm ô uế những gì
không phải là nước Đức. Ta sẽ không yếu lòng. Ta tin vào sứ mệnh của mình.
Kể từ tối nay, ta vĩnh biệt với sự bàng quan. Bàng quan, kiềm chế, đó là
những trò bịp của bọn Do Thái. Ta sẽ làm một cách có hệ thống, trên diện
rộng và không khoan nhượng. Hãy nhìn vũ trụ xem: liệu ở đó có chỗ cho tinh thần
phê phán không? Không. Tất cả đều được chi phối bởi sức mạnh. Mặt trăng
quay quanh trái đất vì trái đất là mạnh nhất. Trái đất quay quanh mặt trời
vì mặt trời là mạnh nhất. Lực hấp dẫn, đó chính là sức mạnh đang ngự trị.
Con người không thể tách rời khỏi vũ trụ. Ta sẽ thẳng tiến và không thất bại. Ta
đã hiểu sứ mệnh của mình rồi.
Tám giờ, bác sĩ Forster bước vào phòng, kéo ri đô ra và đánh
thức người đang ngủ. Hitler mở mắt. Hắn nhìn theo những tia nắng mặt trời
đang chảy tràn qua cửa sổ mái xuống giường. Hắn mỉm cười với bác sĩ
Forster. Hắn đã nhìn thấy.
Vị bác sĩ ra khỏi phòng, tựa lưng vào tường hành lang, rút
quyển sổ bí mật của mình ra và hài lòng viết bốn chữ nhỏ sau: “Adolf
Hitler: khỏi bệnh.”
*
* *
“Lucie thương mến,
Làm sao tôi có thể tưởng tượng được ngày về sau chiến tranh
lại đáng thất vọng đến thế? Suốt bốn năm, dưới lửa đạn chiến hào, ở bệnh
viện gần Lucie, tôi đã lên lại dây cót tinh thần của mình khi
nghĩ đến sau này. Sau này đến sau tất cả những nỗi ghê sợ
của chiến tranh, cái sau này vì nó mà chúng ta đã chống chọi vì tất
cả và với tất cả. Cái sau này rốt cuộc cũng đến. Trống không. Rỗng tuếch.
Đớn đau.
Sau khi chôn cất Bernstein, chúng tôi đã quay lại Viên,
Neumann và tôi. Không thể chịu đựng được, chúng tôi có cảm giác bị đóng
đinh vào ký ức của mình khi vẫn còn sống. Nhìn đâu cũng thấy Bernstein, trong
xưởng vẽ mà chúng tôi đã lấy lại, trong những bức tranh của anh ấy mà chúng tôi
lại có dịp chiêm ngưỡng, trong những quán cà phê nơi chúng tôi đã ghé cùng
nhau, ở trường Mỹ thuật nơi người ta đã đề nghị chúng tôi đọc bài ca ngợi
“người đồng chí can trường đã ngã xuống trong trận đánh” của chúng ta, cứ
như thể chúng tôi muốn tôn vinh người lính Bernstein lắm ấy... Chúng tôi đã tìm
lại được thế giới của mình nhưng nó đã biến dạng khi trở về với chúng tôi.
Tất cả mọi điều ở cái thành Viên năm 1919 này đều làm chúng tôi thương
tổn: sự phồn hoa của nó - cứ như thể nó chưa từng bị ảnh hưởng bởi chiến
tranh - thế hệ trẻ của nó - tôi vừa nhận ra rằng mình đã ba mươi - thói bài
ngoại sâu sắc của nó, khiến cho nguy cơ của những cuộc chiến mới lại lởn
vởn quanh đây, những cuộc tranh luận trí thức không có hồi kết mà tôi
không còn đủ sức để theo dõi sau bốn năm sống trong man rợ.
Neumann làm tôi lo lắng ngay sau khi Bernstein mất đi. Cái
chết của bạn chúng tôi làm anh ấy đau đớn đến nỗi trí óc đảo lộn, không
thể chịu được cú sốc lớn như thế, đã biến sầu não thành thù hận. Từ đầu,
anh ấy đã chửi rủa chiến tranh, bộ chỉ huy, đám bác sĩ bất lực. Khi về đây, anh
ấy quay sang thù ghét những người ở hậu phương, những kẻ được thuyên
chuyển về một vị trí không phải chiến đấu và ở lại hậu phương, những kẻ
lợi dụng, những kẻ đã cả gan làm việc và làm giàu trong khi Bernstein
bị biến thành bia đỡ đạn. Khi chúng tôi vào xưởng vẽ hay đến nhà những
người buôn tranh, lúc nào anh ấy cũng gay gắt chỉ trích những bức tranh dở
“không sánh kịp một bức phác họa của Bernstein”. Có hôm, tôi đã phải giữ
anh ấy lại khi anh ấy định đấm chết một tay sưu tầm đã chẳng may thú nhận là
mình chẳng biết Bernstein là ai cả. Chính anh ấy cũng ngạc nhiên khi thấy
đã tự để cho mình trở nên hung hăng quá đáng đến vậy, anh ấy đã thỏa thuận
với tôi rằng sẽ không để chuyện này tiếp diễn mãi như vậy được. Từ đó, anh
ấy tạo cho tôi cảm giác rằng anh ấy đã bình tĩnh lại cho đến khi tôi phát hiện
ra rằng anh ấy đã dùng sự hung hãn của mình vào một việc khác và rằng...
nhưng điều đó, tôi sẽ kể cho Lucie nghe sau.
Có một điều lạ lùng đã đến với tôi. Tôi đã trải qua một đêm
diệu kỳ như cái đêm với Lucie trong căn phòng nhỏ của những người
chờ chết.
Quay lại xưởng vẽ, tôi nhận ra rằng tay mình, mắt mình, đầu
óc mình và cả những gì nữa tôi không biết đã bị mòn gỉ. Như một người nghệ
sĩ dương cầm trở về sau kỳ nghỉ, tôi chạy gam bằng những bức ký họa nhanh,
tĩnh vật, chép tranh của các danh họa. Tôi đã phung phí giấy và toan để tìm lại
được kỹ thuật vẽ của mình. Từ đáy lòng, tôi tương đối hạnh phúc khi vẽ
những thứ chắc chắn sẽ đi thẳng vào sọt rác vì nó giúp tôi tránh phải nghĩ
đến hai vấn đề cơ bản của một họa sĩ: phong cách và chủ đề.

