Nửa kia của Hitler - Chương 30

Đôi khi Eva Braun đột nhiên xuất hiện trong nhà hắn. Cô được phép làm như vậy. Thậm chí cô còn có cả một căn phòng nhỏ ở đó. Dân chúng không hay biết gì, đám quan chức cũng vậy, chỉ một vài người thân cận biết chuyện đó. Họ coi Hitler và Eva Braun là một cặp. Sự thực là cô yêu hắn say đắm và hắn khinh bỉ cô ra trò.

Eva Braun là một cô gái trẻ vui tươi và rất ưa sự bất hạnh. Lúc tóc vàng, lúc tóc nâu, lúc nào cũng xinh xắn, cô yêu Quốc trưởng cuồng nhiệt và vì ông ta cưỡng lại điều đó, cô đã nhiều lần tự tử không thành. Điều này làm họ xích lại gần nhau. Chính cái chết hơn là sự sống đã gắn kết hai thực thể này với nhau. Súng lục rồi thuốc ngủ, hai dụng cụ hiến sinh mà Eva Braun đã sử dụng để gào lên nỗi bất hạnh của mình vì bị bỏ mặc làm Hitler nhớ đến Mimi và Geli, những kỷ niệm êm đềm, và thế là hắn lại để mặc Eva Braun bước vào đời mình. Hắn coi tự tử là biểu hiện của tình yêu, đó là chủ đề của truyền thuyết Tristan và Iseult(30), điều đó khẳng định với hắn rằng đây là chuyện tình cảm nghiêm túc. Do đó, hắn đã cho phép Eva Braun có thể lảng vảng trong nhà hắn, ăn ở đó, ngủ ở đó, thỉnh thoảng được gặm một cái xương, ngủ trong cũi của mình. Nói cho cùng, Eva đang thể hiện một sự trìu mến vô tận của một con chó, lúc nào cũng sung sướng khi nhìn thấy chủ, ngay cả khi ông chủ đã chểnh mảng, quát mắng, đánh đập nó. Trong thế giới loài người, Eva là hiện thân của sự tuân phục và quyến luyến.

Nhưng Hitler còn tỏ ra trìu mến với lũ béc giê của mình hơn với Eva xinh đẹp. Eva đã phạm một tội ác không thể gột rửa được, cái tội ác đã trói cô vĩnh viễn vào Hitler và đặt cô vào một vị thế mập mờ giữa sự ghê tởm và sự hấp dẫn, cô có được cái mà Hitler đã không trao cho bất kỳ người đàn bà nào khác: làm tình với hắn.

Cô thư ký trẻ của Hoffmann, nhà nhiếp ảnh chính thức của Hitler từ những ngày đầu, mới mười bảy tuổi khi nhìn thấy Hitler bước vào văn phòng ở Munich. Đó là một sự choáng ngợp. Liệu có phải do ánh nắng, mịn màng, tươi vui, gần như trắng bạch của ngày hôm đó đã tìm đến náu mình trong cặp mắt xanh phớt hồng nổi tiếng của hắn? Hay tại vì trước đó, cô chỉ được nhìn thấy hắn trên ảnh, hai chiều, cỡ nhỏ, đen trắng và đột nhiên cuộc đời tái hiện cả con người hắn bằng xương bằng thịt, với đầy đủ màu sắc, như một vị thần từ đỉnh Olympe xuống trần để liều một cuộc phiêu lưu với đám người trần thế? Liệu có phải vì hắn đã tò mò nhìn chăm chăm vào người con gái mới đến, thế rồi, chỉ chốc lát đã nở một nụ cười vừa ga lăng vừa hoang dại với cô như muốn nói “Cô thật là xinh đẹp”? Liệu có phải vì mọi người đều tất bật xoay quanh hắn như thể đó là một ông hoàng? Có thế hay không thì cũng vậy, vào lúc đó, Eva Braun đã nghĩ “Đây chính là người đàn ông của đời ta”. Thực chất, cô đã yêu một cảnh diễn hơn là một con người. Sau đó, xung năng ấy được giữ gìn luôn tươi mới và sống động bằng những khó khăn triền miên mà cô gặp phải. Do đó, quyết tâm của cô gái trẻ đã được thể hiện qua mọi hình thức cổ điển của các trò ve vãn, giao cấu, tự tử, tái hợp, lăng nhục, tóm lại là tất cả những cung bậc, trạng thái thường cho phép những kẻ bệnh hoạn gọi thái độ ương bướng khốn khổ này là một mối tình vĩ đại.

Ham muốn tồn tại được nhờ không thỏa mãn, Hitler có biệt tài duy trì được một ham muốn bất tận. Eva chẳng bao giờ đạt được điều gì, hoặc có chăng thì cũng nhỏ giọt. Không hề nuông chiều quá mức hoặc kể cả làm vừa lòng cô, hắn liên tục giữ Eva trong một trạng thái thèm khát. Một ít tiền, một vị thế mong manh, không được xuất hiện trước công chúng, không bao giờ được âu yếm.

Một đêm nọ, họ đã ngủ cùng nhau. Đó là ít lâu sau khi Hitler trở thành thủ tướng, xóa bỏ tự do báo chí và thiết lập chế độ độc đảng. Họ đã uống sâm banh, Hitler nằm lên người Eva, quần áo họ nhàu nhĩ, đã có vài sự co giật ở đâu đấy và Hitler lãng quên mình trong thân xác Eva. Đêm ấy, Eva ngỡ rằng mình đã chiến thắng. Về phần mình, Hitler rút ra kết luận từ đó là hắn vĩnh viễn khinh bỉ Eva, hắn cũng khinh bỉ thân thể chính mình như thế, hoàn toàn như thế. Tình dục cũng giống như mọi dạng thức vật chất, xác thịt hay chất lỏng, thuộc về những cái hắn được nhận và sẽ bị lấy lại, tóm lại là những cái sẽ thoát ra khỏi hắn. Hắn chỉ yêu mỗi tinh thần của mình. Như vậy, ở tuổi bốn mươi tư, hắn đã có kinh nghiệm tình dục đầu tiên và với hắn, đó là một lúc thiếu kiềm chế. Đêm đó, hắn đã hiểu là tại sao mình đã coi nhẹ việc đó đến chừng ấy, hắn lấy làm mừng vì điều đó và kết luận rằng hắn thực sự là người xuất chúng.

Thỉnh thoảng, hắn lại có một lúc lơi lỏng như thế. Hay đúng hơn là hắn muốn kiểm tra lại. Hắn nằm lên Eva Braun. Hắn siết lấy cô trong bóng tối vì hắn sợ rằng khi thực sự nhìn thấy điều mình đang làm, hắn sẽ hoàn toàn ghê tởm hành động này; hắn đặc biệt e sợ hình ảnh của cái bộ phận sinh dục tham lam của đàn bà. Trong cơn cực khoái của mình, Eva Braun, người con gái ấy, có vẻ như đang cảm thấy hạnh phúc tột đỉnh. Càng tốt! Cô ta vẫn đê mê hàng giờ thậm chí hàng ngày sau đó. Sự chênh lệch về độ thỏa mãn này giữa hắn và cô giúp Hitler khẳng định rằng đàn bà là một giống vật hạ đẳng.

Buổi tối, hắn rời nhà đi ăn với những người quen biết vì hắn ghê sợ những khuôn mặt mới. Hắn tha hồ nói về những thứ mình thích, nghệ thuật, sân khấu, lịch sử. Cuối cùng, hắn chọn một bộ phim trong danh sách của người cung cấp phim, Goebbels, và mọi người cùng đến xem phim trong phòng nhạc, kể cả đám người hầu và lái xe của những vị khách mời. Hắn đặc biệt thích chuột Mickey và Greta Garbo. Sau đó, tất cả nói chuyện tới hai giờ sáng cho đến khi Hitler về phòng.

Tất cả đều mang tính xã giao, nghi lễ, hình thức. Hitler chặt bỏ mọi liên hệ dù nhỏ nhất theo kiểu người với người. Hắn cai trị. Hắn thống trị. Hắn không hạnh phúc vì điều ấy, hắn hài lòng vì điều ấy bởi thế giới đã được thiết kế để hoạt động như vậy, với hắn ở trung tâm.

Hạnh phúc ư? Ý nghĩ mới nực cười làm sao! Có ai lại đi hỏi mặt trời có hạnh phúc không?

*

* *

- Sau bốn mươi tuổi, người nghệ sĩ không còn ảo tưởng về
mình. Anh ta biết mình là một nghệ sĩ lớn hay nhỏ.

Những khuôn mặt non tơ say sưa dõi theo Adolf H. Những giờ
giảng của ông ở Học viện độc lập Berlin lúc nào cũng đầy ắp người. Người ta
đánh giá cao quan điểm cởi mở của vị giáo sư này về nghệ thuật và thời đại ông
đang sống. Người ta có thể học ở ông từ những kỹ thuật cổ điển cho đến những
trào lưu hiện đại vì ông giảng giải với kiến văn rộng rãi có được trong thời
gian sống ở Paris. Picasso, Braque, Léger, Soutine, Chagall, Modigliani,
Foujita, van Dongen, Dali, ông đã gần gũi những nghệ sĩ lớn nhất của thời đại
và ông nói về chuyện đó với một sự giản dị, gần gũi, thân mật mà riêng bản thân
nó đã đủ đảm bảo cho ông một danh tiếng bất tận.

- Lúc hai mươi tuổi, mọi chuyện như trong mơ, treo lơ lửng
trên những tầng mây. Năm bốn mươi tuổi, một phần trong số các giấc mơ của ta đã
trở thành phần hữu cơ trong cuộc sống. Ta đã vẽ, đã sản xuất những tác phẩm
nghệ thuật, đã có thời gian để nhầm, để rút ra bài học kinh nghiệm, ta đã có
được niềm vui là đã đẩy ra xa hơn những ranh giới của mình. Ở tuổi bốn mươi, kỹ
năng vẽ của người họa sĩ cũng đã thành thục và năng lượng vẫn còn nguyên vẹn:
cuối cùng, ta cũng biết mình và biết cái mình còn có thể làm được. Nếu ta chưa
làm được một kiệt tác hay kể cả bắt đầu một kiệt tác thì cố nữa cũng chẳng để
làm gì.

Giọng Adolf run lên vì xúc động. Hắn không biết tại sao mình
lại đề cập đến chủ đề này, nhu cầu phải bộc lộ đã mạnh hơn hắn, hắn tự mình thổ
lộ ra những điều mình nghĩ. Một cảm giác u buồn đau đớn xâm chiếm hắn. Còn những
sinh viên của hắn, họ hiểu rằng mình không còn đang theo dõi một giờ giảng nữa
mà đang nghe những lời tâm sự chân tình. Họ biết rằng thầy giáo của họ là họa
sĩ trong những năm hai mươi và vì những lý do chưa được biết đến, ông đã từ bỏ
nghiệp vẽ khi quay trở về Đức. Không ai từng có dịp được xem các tác phẩm của
ông nhưng rất nhiều người thấy tên ông thường xuyên được dẫn ra trong các cuốn
danh mục và các bài báo về trường phái Paris, và một huyền thoại đã hình thành
trong trường theo đó Adolf H. là một họa sĩ thiên tài nhanh chóng nổi danh rồi
giam kín mình trong im lặng do một nỗi thất vọng huyền bí. Ngày hôm ấy, đám
sinh viên dỏng tai lên để nghe bởi họ đoán rằng có thể mình sẽ tìm được chìa
khóa giải cho bí ẩn này.

- Đúng thế. Khi một họa sĩ chưa thành tài, người ta bỏ qua
việc nét vẽ chưa được rắn rỏi, màu sắc còn e dè, bố cục chưa sắc nét. Đành rằng
có những quái kiệt như Picasso hay Bernstein, ở tuổi mười bảy đã đạt tới mức
thượng thừa. Nhưng, trước những thành công hiển nhiên này, ta tự nhủ rằng họ
sinh ra đã là thiên tài với những năng khiếu thiên bẩm của họ trong khi những
người khác mất hàng năm trời để có được những phương tiện thiên tài của mình.
Ta chờ đợi, vì thế ta hi vọng. Ta tự hỏi mình sẽ đẻ ra cái gì. Công việc sáng
tác sẽ mang lại những gì? Một đứa trẻ đẻ non? Hai đứa trẻ đẻ non? Ba lần sảy
thai? Không quan trọng. Cần phải tiếp tục. Người ta phải tự đẻ ra đứa bé. Ta có
hẹn với một người không quen biết ở nơi xa xôi, đó là họa sĩ mà ta sẽ trở
thành. Ở tuổi bốn mươi, đứa trẻ đã ra đời. Với một số người, đó là một sự ngạc
nhiên lớn, là một người khổng lồ. Với một số người khác, thật dễ chịu, đó là
một sinh vật sống. Với một số người, thật là một thảm kịch, đó là một đứa trẻ
chết ngay lúc sinh ra, một thi thể nhỏ bé nằm lại trên tay họ và hất tất cả
những cố gắng trong nhiều năm ròng của họ xuống sông xuống bể.

Adolf có cảm giác máu đang thoát ra khỏi cơ thể như thể hắn
vừa tự cắt đứt mạch máu trong một bể nước nóng; tuy thế, sự thẫn thờ này mang
lại cho hắn một cảm giác thoải mái, mơ hồ, gần như sung sướng, đến mức hắn để
mình nói thoải mái, không giữ gìn gì nữa.

- Tôi là một người trong số đó. Những kẻ bất đắc chí. Những
kẻ tuyệt vọng. Tôi đã dành nửa đầu cuộc đời mình để chạy theo một giấc mơ của
chính mình, cái sau đó đã cho thấy chỉ là một ảo ảnh. Bất kể việc tôi đã làm
việc nhiều, nghiêm túc, bất kể những thành công mà giới phê bình dành cho tôi
và những thành công vật chất trong một thời gian, ở tuổi bốn mươi, tôi đã nhận
ra rằng mình không phải là một họa sĩ lớn. Thậm chí một bậc thầy nhỏ cũng chẳng
phải. Thực chất, tôi chẳng là gì. Chỉ là một cái bong bóng.

Đám sinh viên muốn phản đối, hoặc vì lòng tin của mình vào
thầy, hoặc vì thương cảm, nhưng thấy thầy giáo khi dốc bầu tâm sự trở nên mỏng
manh và trần trụi đến nhường nào, họ đành giữ im lặng.

- Vậy là, vì yêu hội họa cuồng nhiệt, vì tôi yêu nó hơn nó
yêu tôi, tôi đã quyết định trở thành giáo viên. Giảng viên của các bạn. Truyền
đạt lại. Tôi đã tìm thấy vị trí của mình. Và giờ đây, tôi là người hạnh phúc.

Nhưng khi nói đến chữ “hạnh phúc”, nước mắt trào ra trên
khóe mắt Adolf H. và buộc hắn phải chạy nhanh khỏi bục giảng.

*

* *

- Chuyện như thế không thể tiếp diễn được!

Hitler tỏ ra cực kỳ bực dọc từ khi hắn thức dậy. Những bài
điểm báo ngoại quốc sáng nay làm hắn điên tiết: “điên, thiếu quyết đoán và vô
hại”, đó là những từ ngữ mà báo chí đã dành để nói về hắn. Thông thường, hắn
sung sướng khi nghe những lời đánh giá tầm phào vì nhầm lẫn bao giờ cũng che
chở cho chân lý như bộ áo giáp bảo vệ chiến binh, nhưng sáng hôm đó, lòng kiêu ngạo
của Hitler đã bị đụng chạm. Tại sao? Đêm trước, hắn ngủ không ngon, khốn khổ vì
những cơn đau buốt nhói và bồng bềnh trong dạ dày, điều này làm cho hắn một lần
nữa tin chắc là hắn đang bị căn bệnh ung thư nuốt chửng như mẹ hắn. Hắn tin là
chẳng chóng thì chầy mình sẽ chết.

Như góp phần đẩy tâm trạng cáu bẩn của hắn đến giới hạn cuối
cùng, Eva Braun ra khỏi phòng mình, đẹp hơn bao giờ hết - hôm đó cô để mái tóc
vàng tẩy màu - đến bên Hitler, cọ mình vào người hắn để nhắc nhở đến điều đã
xảy ra hai đêm trước.

- Bao giờ ngài cưới em?

- Ta sẽ cưới em khi không còn bất kỳ tương lai chính trị nào
nữa.

- Nhưng ngài đang chẳng có hết tất cả rồi ư! Quyền lực trọn
vẹn. Cả nước Đức đang quỳ dưới chân ngài. Cả em nữa.

- Chỉ quyền lực thôi thì không đủ. Ta có một sứ mệnh. Em
nghĩ là ta giống như những kẻ ngu đần, một khi đã ngự trên ngai vàng liền lấy
làm hài lòng và chỉ còn nghĩ đến việc ngồi mãi ở đấy ư? Em nghĩ là ta sẽ khoanh
tay bất động ư?

Eva Braun không nói được câu nào; cô cứ ngỡ rằng Hitler đã
được thỏa mãn với sự độc tài của mình. Phừng phừng lửa giận, Hitler sập cửa bỏ
đi.

Hắn cho gọi bác sĩ riêng đến. Bác sĩ Morell, phúng phính,
đẫy đà, đảm bảo với hắn rằng chế độ ăn chay của hắn giúp loại trừ gần như hoàn
toàn khả năng một chứng ung thư có thể phát triển. Khi hiểu rằng tay bác sĩ nói
lung tung cốt để trấn an hắn, trả lời nỗi lo lắng của hắn mà không mảy may chú
ý đến những triệu chứng và biểu hiện về mặt thể chất, hắn đuổi ông ta ra và yêu
cầu đám thư ký gọi nhà chiêm tinh của hắn đến.

Chuyên gia giải mã thông điệp của các vì sao đến gặp hắn
trong vườn kính.

- Hãy nói thật cho tôi biết, tôi có thể nghe. Tôi biết là
mình sẽ không còn sống được bao lâu nữa.

- Ấy ngài đừng nói vậy...

- A, đừng có nói với tôi như những tay bác sĩ ngu xuẩn nữa.
Tôi bị ốm và họ từ chối không thừa nhận điều ấy. Hôm nọ, ông đã ghi một điểm:
ông đã nói năm xảy ra chiến tranh. Năm 1943. Điều này hoàn toàn phù hợp cho
tôi.

- Tôi có thể nhầm thưa ngài...

- Im đi! Phải nói hết cho tôi. Ông là người có tài tiên tri,
tôi có tài cứu được nước Đức, chúng ta chẳng có tội tình gì, chúng ta là như
vậy, đó là số mệnh của chúng ta. Bây giờ hãy nói cho tôi biết bao giờ tôi chết.

- Nhưng...

- Nói!

- Mười lăm giờ hai chín phút.

Hitler sững lại. Mặt hắn cắt không còn một giọt máu. Hắn lo
lắng nhìn quanh.

- Hôm nay hả?

- Không. Còn rất lâu thưa ngài. Nhưng các vì sao đảm bảo với
tôi là mười lăm giờ hai chín phút. Thật kỳ lạ phải không ạ?

- Khi nào?

- Sau này.

- Khi nào?

Nhà chiêm tinh im lặng, khổ sở, vặn vẹo người và đưa mắt tìm
một cứu cánh.

- Khi nào?

Hitler hét lên. Ông thầy bói run lên bần bật.

- Tôi... tôi cần phải về nhà xem lại bản đồ thiên tượng.

- Tôi cho ông hai giờ đồng hồ. Sau bữa ăn, vào lúc uống trà,
tôi muốn ông cho tôi biết ngày chết của tôi. Hiểu chứ?

- Hiểu ạ.

Hitler không nghe những người khác nói gì trong suốt bữa ăn,
hắn để mặc cho Gôring má phệ thế vai mình trong một cuộc độc thoại mà hắn không
bỏ vào tai một từ nào.

Vào giờ dùng trà, nhà chiêm tinh quay trở lại và ngồi một
mình với Hitler trong khu vườn kính của Dinh quốc trưởng.

- Thế nào?

- Ngài có sẵn sàng nghe sự thật không ạ?

- Có. Nói nhanh lên.

- Tôi đã biết giờ và năm. Không biết ngày nào, tháng nào.

- Tốt. Nói nhanh lên.

- Mười lăm giờ hai chín phút...

- Rồi, biết rồi.

- Năm 1947.

Hitler ngồi phịch xuống sau cơn sốc dữ dội. Mười năm!... Hắn
chỉ còn mười năm nữa thôi.

- Tất nhiên, tôi có thể nhầm, nhà bói sao lúng búng khi thấy
Hitler lả đi như vậy.

- Không, ông không nhầm đâu. Vả lại, tôi đã biết trước điều
đó rồi.

1937-1947. Mười năm. Hitler thử mò mẫm trong đầu mình bề dày
của mười năm sống nhưng không được;không có điểm nào chung giữa mười năm đầu
tiên khi mới được sinh ra, khoảng thời gian bao la như đại dương với hắn, với
con suối nhỏ hẹp của mười năm bận rộn với việc giành chiếm quyền lực.

Mười năm... Còn mười năm nữa...

Hắn cảm ơn nhà chiêm tinh và đi gặp kiến trúc sư của mình.

Khi nhìn thấy Speer, chàng thanh niên lịch lãm, quyến rũ,
môi đẹp như vẽ, căng mọng như môi thiếu nữ, lông mày rậm và tinh nghịch, Hitler
chợt rúng động.

“Chính là ta đây, hắn tự nhủ, ta hồi trẻ đây.”

Hắn quen Speer từ nhiều năm nay nhưng chỉ tới hôm nay sự
tương đồng mới đập vào mắt hắn.

“Đúng, đó là ta! Chân dung của ta! Đó có thể là con trai
ta.” Hắn khoan khoái nhắc lại điều ấy mà quên rằng Speer đẹp trai bao nhiêu thì
Hitler tầm thường bấy nhiêu. Hắn luôn luôn thích thú những giây phút ngồi bên
kiến trúc sư của mình, những cuộc tranh luận say mê quanh những bản vẽ và sơ
đồ. Speer là một nghệ sĩ, như hắn. Anh ta có thể trở thành người kế nghiệp ta.
Anh ta còn hơn là Gôring, cái đống mỡ kinh tởm nghiện thuốc phiện ấy. Ý nghĩ về
người kế nghiệp mình làm hắn sung sướng vì hắn thấy trong đó cơ hội làm cho
người này phải ganh tị với người kia. Sau này. Ta còn mười năm nữa...

Speer mang cho hắn xem bản ma két của Berlin mới, Berlin của
Đệ tam đế chế, tập hợp của những công trình hoành tráng cho các thế kỷ sau biết
về sức mạnh chính trị của Hitler, những đại lộ thênh thang, quảng trường vĩ đại
tỏa ra bốn phía, những tòa nhà trụ sở cho các bộ. Cả hai chiêm ngưỡng những tòa
kim tự tháp của chủ nghĩa quốc xã. Đỉnh cao là tòa Nhà Vòm, tòa nhà nghị viện
mà Hitler, vốn dị ứng với chế độ đại nghị, coi đó như một căn phòng khổng lồ
cho hắn diễn thuyết hơn là nơi thảo luận, tòa nhà mà hắn đã phác thảo vào năm
1925. Albert Speer đã phát triển từ bản vẽ phác ấy và ghi ra bên cạnh: “Thiết
kế theo ý tưởng của Quốc trưởng,” điều này làm Hitler ngây ngất đến mức diễn
vai người khiêm tốn.

- Không, không, anh phải ký tên Albert Speer vào, chính anh
mới là nhà kiến trúc, sự đóng góp của anh giá trị hơn bản phác thảo năm 1925
của ta nhiều, đó chỉ là mấy đường nguệch ngoạc mà ta đã vẽ trong tù để khỏi
phải suy nghĩ thôi.

Speer đỏ mặt, Hitler cũng vậy. Mọi chuyện tiến triển theo
hướng tốt đẹp nhất.

Tòa Nhà Vòm sẽ là phòng họp lớn chưa từng có. Hình dáng của
tòa nhà đơn giản nhưng kích thước của chúng làm thành một bài thơ say lòng
người: một mái vòm đường kính hai trăm năm mươi mét, cao hai trăm hai mươi mét,
vươn đến tận mây; nó có thể chứa một trăm tám mươi nghìn thính giả khi Hitler
diễn thuyết ở đó, tức có sức chứa gấp mười bảy lần quảng trường Saint-Pierre ở
Roma; một trăm cột trụ vuông bằng đá cẩm thạch cao tám mươi mét; một cái tổ cao
năm mươi mét và rộng hai mươi tám mét; một con đại bàng đế chế mạ vàng cao mười
bốn mét đang quắp lấy một chữ thập ngoặc được trang hoàng bằng những chiếc lá
sồi; vòm của tòa nhà được xây trên một khối vuông bằng đá hoa cương màu sáng
dài ba trăm mười lăm mét và cao bảy mươi tư mét, thể tích của công trình này
chiếm hai mươi mốt triệu mét khối; từ bên ngoài, công trình có dáng vẻ của một
ngọn núi xanh cao hai trăm ba mươi mét vì nó sẽ được phủ ngoài bằng những tấm
đồng gỉ xanh; trên đỉnh là một nhà đèn ốp kính cao bốn mươi mét, trên đó cũng đặt
một con đại bàng quắp chữ thập ngoặc, sẽ hoàn thiện vẻ huy hoàng của công
trình.

Hitler xúc động mạnh. Ảo tưởng của hắn sắp trở thành hiện
thực. Đã nhiều lần, hắn quyết định nâng cao các con số; đã nhiều lần, hắn tống
cổ viên cố vấn cấp bộ tên là Knipfer, chuyên gia phòng không, người đã than vãn
rằng một công trình vươn tới những tầm mây thấp được xây dựng giữa thủ đô sẽ là
điểm mốc lý tưởng cho không quân địch oanh tạc; đã nhiều lần, hắn nhún vai gạt
đi những ý kiến nghi ngờ đây là một ý muốn ngông cuồng. Tòa Nhà Vòm là minh
chứng cho sự vĩ đại của nước Đức, không phải của Hitler. Còn hắn vẫn giữ vẻ tự
nhiên và khiêm tốn như những lời rao giảng của Goebbels, chỉ ở trong một ngôi
nhà nhỏ giản dị.

- Anh thấy không, Speer thân mến, ta đã có đủ sức mạnh và sự
tôn trọng để không cần đến sự hỗ trợ của công trình xa xỉ này. Nhưng những
người kế nhiệm ta thì sẽ rất cần đến sự huy hoàng này. Với nhiều người trong số
họ, đó thậm chí sẽ là cách duy nhất để trụ lại; ngay cả một cái đầu thiển cận
cũng sẽ được lợi từ một sự sắp đặt như vậy. Khi những nơi này khoác trên mình
một quá khứ mang tính lịch sử, một sự vĩ đại thực thụ, chúng thậm chí sẽ nâng
giá trị cho một người kế nhiệm không mấy nổi bật. Như anh thấy đấy, đó chính là
lý do chúng ta phải xây dựng tất cả những thứ đó khi ta còn sống: việc ta đến
sống ở đó sẽ mang vàng ròng và vẻ tráng lệ cho những bức tường nơi đó. Ngay cả
khi ta chỉ ở đó vài năm, cũng đã đủ rồi(31).

- Thưa Quốc trưởng, mục tiêu duy nhất trong đời tôi là được
góp phần thực hiện, dù chỉ là chút ít, những ý tưởng thiên tài của ngài.

- Tốt. Bản vẽ đã xong, theo ước tính của anh là bao nhiêu?

- Năm tỷ mác.

- Không, ta hỏi bao nhiêu lâu.

- Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì chúng ta có thể hoàn thành vào
năm 1951.

Mặt Hitler tối sầm lại, lạnh lùng và xanh nhợt như đá lát
mộ.

- 1951?

- Sớm nhất là vậy, thưa Quốc trưởng.

- Ta có điên không hả Speer?

- Dạ, Quốc trưởng bảo sao ạ?

- Ta hỏi anh có coi ta là thằng điên không?

- Thưa Quốc trưởng, tôi không biết mình đã nói gì để Quốc
trưởng nghĩ là...

- Bởi anh có thấy không, Speer, nhiều người trên thế giới
cho là ta bị điên. Vậy mà ta chưa thấy ai nhất quán và trung thành với ý tưởng
của mình như ta. Ta không chỉ có mục đích rõ ràng trong đầu và bố cáo nó ngay
khi bước vào chính trường, mà hơn thế, ta chỉ hành động theo những mục đích ấy.
Người ta cho ta là kẻ lỗ mãng, hay nổi giận bất thình lình, người ta nói rằng
ta hung tợn quá đáng, trong khi ta luôn sắp đặt rõ ràng và có phương pháp: đám
cháy ở Reichstag(32), thiết lập chế độ độc đảng, Đêm dao dài(33), thiêu hủy
sách, áp đặt cuộc sống nghiệt ngã cho bọn Do Thái, việc nào ta cũng tuyên bố
rồi, chưa bao giờ ta nói khác cả. Ta mà hung tợn ư? Ta chỉ có sức mạnh của sự
thẳng thắn thôi. Ta mà tàn bạo ư? Ta chỉ làm mỗi việc là nghĩ theo lô gích. Ta
mà hoang dại ư? Ta đã hủy bỏ Hiệp ước Versailles và Hiệp ước Locarno mà các đối
thủ không dám ho he gì. Ta mà nông cạn về mặt trí tuệ ư? Người Anh, người Pháp,
người Mỹ, người Áo, người Nga thậm chí không dám nghi ngờ trí thông minh của
ta. Hãy tưởng tượng cảnh một người sáng mắt cô độc giữa một đám mù xem: lũ mù
sẽ không nghĩ là người sáng mắt có thể nhìn được, chúng đánh giá thấp anh ta,
chúng sẽ không dự đoán được sức mạnh và khả năng gây phiền nhiễu của anh ta.
Ta, Quốc trưởng của nước Đức, trong chính giới quốc tế ta là thế đấy: kẻ sáng
mắt duy nhất giữa đám người mù. Điên! Anh hùng rơm! Vô hại! To mồm! Không nhất
quán! Bọn ngớ ngẩn ấy mới đáng thương hại làm sao! Làm thế nào mà chúng có thể
tưởng tượng được rằng nước Đức, nước Đức vĩ đại, nước đã có những người như
Bismarck và Frédéric Đại đế, một ngày nào đó lại không có Adolf Hitler! Ta
không thể chịu đựng thêm nữa, chuyện này không thể tiếp diễn được.

- Cái gì không thể tiếp diễn được ạ, thưa Quốc trưởng?

- Cái đó. Cơn ngủ mê này. Tiếng ngáy o o này. Cô nàng Eva
Braun muốn cưới ta này. Dự án kiến trúc này. Ta còn chưa về hưu cơ mà.

- Thưa Quốc trưởng, tôi không hiểu. Ngài thất vọng vì bản vẽ
của tôi ạ?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.