Nửa kia của Hitler - Chương 32

Biển hiệu ”Lạc viên”(35) trương lên không xa Bộ chiến tranh
là mấy, nhờ đó thêm vào danh sách khách quen hay lui tới cửa hàng các tướng
lĩnh và đô đốc, phu nhân các vị tướng, phu nhân các vị đô đốc, nhân tình của
các vị tướng, nhân tình của các vị đô đốc. Cái tập hợp thượng lưu này mê đắm
các loại nước hoa của SarahRubinstein, trước hết là bởi đó là các loại nước hoa
hiếm có, sau là bởi giá bán cao ngất của chúng, cuối cùng là vì Sarah tự tay
làm ra các sản phẩm ấy, theo một quy trình thủ công bằng hệ thống nồi đun và
bình cổ cong ở phía sau cửa hiệu. Cửa hàng được dựng từ gỗ dát vàng và gỗ mun,
với những chiếc lọ pha lê nặng nề có nắp đậy nhiều cạnh lóng lánh màu cầu vồng
vĩnh cửu và trên nhãn ghi bằng nét chữ thanh tao những cái tên làm người ta mơ
màng: Hoan thủy, Nước của Nàng thơ, Bóng soi Narcisse(36), Dòng lệ Echo(37),
không lúc nào ngớt khách từ ngày mở cửa, những bộ quân phục cùng các tà váy
thướt tha nối đuôi nhau giữa những bụm hơi nước nhỏ mùi đậu khấu, đàn hương và
hoa hồng nghệ phụt ra từ những bình xịt khắp nơi.

Sophie và Rembrandt thực sự có cảm giác ở trong thế giới
người lớn khi bước vào cửa hàng nước hoa. Bố chúng, với những hình vẽ của mình,
giống một người bạn chơi thuộc về thế giới trẻ thơ bao nhiêu thì mẹ chúng, với
những nhân viên, người bán hàng, người kế toán, người giao hàng của mình, những
cuộc chiến đấu với dân bán hoa Hà Lan hay miền Nam nước Pháp để họ giao hàng
đúng hạn, những chồng tiền xu và tiền giấy mà bà mang về nhà mỗi tối, những
cuộc tranh luận om sòm với ông chủ nhà băng về hối phiếu, tín dụng và tỷ lệ lãi
suất, lại thuộc về thế giới thực đầy hấp dẫn bấy nhiêu. Sarah Rubinstein trò
chuyện với các vị bộ trưởng, các sĩ quan, các nhà quý tộc; nàng tán gẫu với vợ
của họ; nàng thường xuyên biết trước cả cánh nhà báo những tin tức mà sau đó sẽ
khiến mọi người bình luận xôn xao.

Adolf H. thích đi vào thế giới của vợ mình. Thế giới ấy còn
xa lạ với hắn. Cả nàng nữa. Hắn ngưỡng mộ người đàn bà hiện đại, độc lập này;
hắn biết ít về nàng và làm tình với nàng rất tuyệt vời; trong thâm tâm, hắn cảm
thấy mình như một người tình hơn là chồng nàng, một người tình còn trong thời
gian tìm hiểu, khám phá, một người tình không quen thuộc. Hắn tự nhủ rằng một
ngày nào đó hắn sẽ hiểu nàng rõ hơn, rằng hắn còn thời gian trước mắt. Hắn đã
cưới nàng bởi nàng muốn điều đó và vì Mười-một-giờ-rưỡi đã mong hắn làm như thế
trước khi qua đời. Đó không phải là một quyết định cá nhân. Hắn làm vì thuận
tình nhiều hơn là mong muốn. Đó chắc chắn là lý do khiến hắn ngạc nhiên về cuộc
sống của hắn và vợ, về những đứa con, về sự hòa hợp giữa họ. Có lúc, ý nghĩ
mình là kẻ bịp bợm thoáng qua đầu hắn nhưng từ khi Mười-một mất đi, hắn vẫn
luôn gặp khó khăn mỗi lần cập bến thực tế.

- Bố ơi, tại sao lúc nào nhìn con bố cũng có vẻ ngạc nhiên?

Sophie hỏi câu ấy nghiêm túc đến mức hắn không thể né tránh
câu trả lời được.

- Bố... bố không biết... bởi vì con thay đổi... bởi vì ngày
nào cũng vậy, bố khám phá con.

- Ấy vậy mà con thì con lại quá quen với bố.

- Đúng, nhưng người lớn thì không thay đổi. Trong khi trẻ
con thì lớn lên từng ngày.

Cô bé chấp nhận lời giải thích nhưng không tin lắm.Con bé có
lý. Làm thế nào ta có thể thú nhận với nó rằng ta đặt tên nó là Sophie chỉ bởi
vì đó là tên thật của Mười-một-giờ-rưỡi. Vợ hắn có biết điều đó không? Hắn nghi
là có. Một trong những điểm quyến rũ ở Sarah là không bao giờ người ta biết
được nàng biết những gì.Và làm thế nào ta có thể thú nhận rằng khi gọi con gái
là Sophie ta chờ đợi một cô Mười-một-giờ-rưỡi nhỏ lớn dần lên theo năm tháng?
Một người y hệt, chỉ có điều nhỏ hơn. Vậy mà Sophie chỉ giống mỗi chính nó, đây
là điều quá thành công bởi dù mới lên năm, nó đã có cái gì đó nữ tính một cách
sâu sắc, một nét ý nhị, một sự bí ẩn đang báo trước - hơn cả một bản phác thảo
- người phụ nữ mà sau này nó sẽ trở thành.

- Adolf, em thực sự lo lắng đấy.

Sarah kéo riêng chồng ra một chỗ và dẫn Adolf về phía cuối
cửa hiệu.

- Sao vậy em yêu?

- Tình hình chính trị. Anh biết là ở đây em nghe thấy mọi
chuyện mà. Nhờ khách hàng của mình, những người từ Bộ chiến tranh ra mua hàng,
em biết tin trước cả báo giới.

- Thế thì sao?

- Em nghĩ là sắp có chiến tranh.

*

* *

Nhà Nâu, ngày 30 tháng Mười năm 1938, hai giờ ba mươi sáng:
hiệp ước Munich cuối cùng cũng được ký kết. Không có mặt một đại diện nào của
Tiệp, người ta vừa pha đất nước Tiệp Khắc thành nhiều mảnh để cho Hitler ăn.
Mussolini, Chamberlain và Daladier - tức là Ý, Anh và Pháp - cúi xuống xem xét
tử thi để xoa dịu cơn đói của con yêu tinh và chìa cho nó những miếng ngon
nhất.

Tuy vậy Hitler vẫn tức điên người. Hắn muốn toàn bộ nước
Tiệp Khắc cơ, kể cả phải trả giá bằng chiến tranh. Vậy mà người ta lại buộc hắn
phải đàm phán.

Quay lại Berlin, cảnh hoan nghênh khải hoàn của dân chúng
rốt cuộc càng làm hắn nổi cáu: sự hân hoan của người Đức cho thấy trên hết cái
thở phào nhẹ nhõm vì đã tránh được phải đi quân dịch. Họ chào mừng Hitler, vị
lãnh tụ theo xu hướng quốc gia, đã trả lại mảnh đất Sudètes cho họ, hẳn rồi,
nhưng chủ yếu là chào mừng hắn với tư cách vị cứu tinh của hòa bình.

- Vị cứu tinh của hòa bình, ý nghĩ mới lố bịch làm sao! Ta
chỉ huy một bọn hèn nhát, mềm yếu, bọn phải gai mồng tơi. Chúng đã mang sẵn tâm
thế bại trận.

Nỗi sợ chiến tranh... Những tháng gần đây, hắn vừa hiểu rằng
ý nghĩ ấy là cái duy nhất đang ngự trị tâm trí mọi người, cả kẻ thù lẫn những
thuộc cấp của hắn. Tránh xung đột vũ trang! Pháp và Anh đã vứt bỏ hiệp ước
tương trợ Tiệp Khắc vì họ sợ chiến tranh. Mussolini đã van Hitler đừng đưa xe
tăng vào Tiệp Khắc và chấp thuận hội nghị ở Munich vì ông ta sợ chiến tranh.
Cánh tay phải của hắn, Gôring, và tất cả các tướng lĩnh của Đế chế, thích giải
pháp ngoại giao hơn bởi họ sợ chiến tranh. Nhân dân Đức, nhân dân Anh, nhân dân
Pháp và nhân dân Ý thở phào nhẹ nhõm chào đón lãnh đạo của họ bởi họ sợ chiến
tranh. Nỗi sợ chiến tranh không phải là gót chân Asin của các quốc gia mà là
xương sống của họ!

- Nhưng ta thì ta không sợ chiến tranh. Và ta muốn có nó,
cuộc chiến này! Và ta sẽ làm điều ấy.

Hitler bảo người hầu chuẩn bị một bồn tắm đầy bọt. Chỉ khi
ngâm mình thật lâu trong nước ấm, đầy xà phòng, dịu dàng từ mẫu, thơm mùi hoa
violet, hắn mới cảm thấy được xoa dịu.

- Tuyệt đối không để Eva Braun vào đây. Hãy để ta yên tĩnh!

Người hầu đi ra ngoài, Hitler cởi bỏ quần áo và dù không
muốn, vẫn bắt gặp hình ảnh của mình đang trần truồng trong gương. Hắn mỉm cười.
Đây, con người làm cả thế giới phải run sợ đây! Thật nực cười! Thế giới thật
nực cười!

Hắn biến mất trong làn nước, dưới tác dụng của nước ấm, hắn
có cảm giác tan thành nước và đang phồng mình ra theo kích thước của khoang bồn
tắm tròn rộng mênh mông.

Hắn chưa bao giờ hiểu tại sao mình không có được một thân
hình giống tâm hồn hắn, một thân hình mạnh khỏe, rắn chắc, cường tráng, vạm vỡ,
sắt đá như ý chí của hắn, một thân hình lực sĩ Aryen như hắn đã cho đặt khắp
nơi trong các công trình của Đế chế.

Hắn thò một chân khỏi mặt nước: không, rõ ràng, đùi hắn
không tương xứng với tâm hồn hắn. Hắn lần mò dưới nước: cả cặp mông cũng không.
Hắn nhìn đôi cánh tay mềm oặt, lợt lạt, từng nhúm thịt nhỏ rệu xuống trên khung
xương khẳng khiu, thịt ở ngực chảy xệ như những con sên bò về phía nách nhão nhoẹt,
cái bụng nhão nhiều hơn là căng. Hắn tránh làm động tác gây thất vọng là kiểm
tra hạ bộ của mình đang ngày càng teo đi dưới sức ép tâm lý, cái bộ phận mà Eva
Braun thậm chí không còn được đến gần vì hắn chú trọng giữ toàn bộ năng lượng
cho các dự định của mình. Hắn ngày càng căm ghét cái thể xác không giống với
mình, không xứng với mình, và chắc chắn sẽ rời bỏ hắn trong thời gian không xa.
Từ lâu rồi, mỗi khi nhìn thấy ở một góc phố, trên một tạp chí, trong một cuộc thăm
viếng, cái thân thể thực sự của hắn, cái sắc đẹp vô song xứng với con người hắn
lại đang chứa tâm hồn ngu ngốc của kẻ khác,hắn lại cảm thấy đau đớn. Những lúc
ấy, có một mũi tên xuyên qua và đầu độc trái tim hắn. Phẫn chí. Bất công. Ghen
tức. Hắn chỉ thoát khỏi những cảm giác ấy vào kỳ Thế vận hội Berlin năm 1936
khi các vận động viên Mỹ chiến thắng. Thoạt tiên hắn bị sốc vì một nước tự coi
là cường quốc như Mỹ lại cử những người da đen đại diện cho mình, nhưng khi
quan sát những nhà vô địch này, khách quan mà nói rất cân đối và cơ bắp cuồn
cuộn này - dù là người da đen - và khách quan mà nói, cường tráng và xuất sắc,
hắn kết luận chắc chắn là thân xác không phản ánh sự thật về tinh thần. Từ đó,
hắn khinh bỉ mọi thân xác, của mình cũng như của người khác.

Chỉ có mỗi tâm hồn hắn là đẹp. Hắn yêu tâm hồn mình. Hắn
chưa bao giờ biết đến cái gì hấp dẫn hơn thế. Thanh khiết, lý tưởng, không vụ
lợi, khinh bỉ tiền tài và tiện nghi vật chất, lúc nào cũng canh cánh việc làm
thế nào để làm cuộc đời trở nên thanh cao hơn, đúng đắn hơn, vĩ đại hơn, lúc
nào cũng đau đáu nghĩ về quyền lợi chung, tâm hồn đó tỏa ra ánh sáng chói lòa.
Hitler chưa gặp ai ít quan tâm đến bản thân và quan tâm tới lợi ích chung nhiều
như hắn. Tuy nhiên lợi ích chung không có nghĩa là của “người khác” - bởi
“người khác” nhanh chóng làm hắn phát ngấy - mà là những nguyên tắc của xã hội
và quốc gia. Hắn có một tâm hồn hào hiệp và khôn ngoan.

Hắn vặn thêm chút nước nóng để duy trì trạng thái ngây ngất.

Chamberlain sợ chiến tranh và muốn chiều lòng dân chúng, đối
tượng mà ông ta cũng sợ. Daladier sợ chiến tranh và muốn chiều lòng dân chúng,
đối tượng mà ông ta cũng sợ. Còn hắn, Hitler, hắn không sợ chiến tranh, hắn
không muốn chiều lòng bất cứ ai. Thế nào là quyền lực tuyệt đối chứ? Làm mọi
người sợ còn mình không sợ cái gì cả.

Hitler thở ra khoan khoái.

Từ nay, hắn sẽ không để ai cản bước mình trong cuộc chinh
phục vì hắn có sự siêu việt bất khả chiến bại, đó là biết người khác suy nghĩ
và hành động như thế nào mà lại không vận hành như họ.

Sẽ có chiến tranh. Chiến tranh khốc liệt.

Chướng ngại vật duy nhất lại đến từ người Đức. Họ muốn hòa
bình. Người Đức chắc chắn không xứng với tầm vóc của nước Đức. Như thân hình
của Adolf Hitler không xứng với tâm hồn hắn. Giống hệt. Goebbels cần phải đẩy
mạnh hơn nữa những cố gắng về mặt tuyên truyền. Hoặc nếu không làm thay đổi
được cách nghĩ của dân chúng thì phải đặt họ trước sự đã rồi và kéo họ vào cuộc
dù có trong tâm thế miễn cưỡng đi nữa. Một khi đã rơi vào lô gích chiến đấu, họ
sẽ không thể lùi bước được nữa. Các nhà lãnh đạo cần sự tán đồng của dân chúng
trong thời bình; vào thời chiến, chính chiến tranh là kẻ ra lệnh.

*

* *

Adolf H. đi tiễn các sinh viên của mình ở ga. Khi nhìn thấy
họ mặc quân phục, cồng kềnh nào mũ, xà cột và súng tiểu liên, hắn hiểu rằng
mình sẽ mất họ vĩnh viễn. Ngay cả khi cuộc động viên không kéo dài, ngay cả khi
Học viện độc lập sẽ sớm mở cửa lại và trong ba tháng nữa sẽ đón tiếp những
người thanh niên này mặc quần áo dân sự, đứng sau giá vẽ, thì họ cũng sẽ không
bao giờ giống như trước nữa. Chỉ nội việc họ hăng hái lên đường ra mặt trận Ba
Lan đã đủ làm hỏng họ rồi. Sau đó là những kinh nghiệm trận mạc, sự kề cận với
tử thần trong nhiều giờ, bị gặm nhấm bởi nỗi sợ hãi, những vết thương, những
cái chết. Adolf đã sống qua tất cả những thứ ấy vào thời của mình. Chiến tranh
đã từng biến hắn thành người họa sĩ ngày xưa trong những năm hai mươi-ba mươi,
yêu hòa bình, tham lam, mất trí, thèm khát cái mới. Dù hắn đã từng căm ghét
chiến tranh, nhưng nó đã làm nhiều điều cho hắn cũng ngang với những gì hắn làm
cho nó.

Ngay cả Heinrich, học trò cưng của hắn, giống như một thiên
thần bị Raphal bỏ quên ở cõi trần, cũng đã mặc quân phục màu xanh xám, cắt tóc
ngắn và ngập tràn niềm vui được sống trong kỷ luật.

- Đả đảo hiệp ước Versailles! Beck là tên khốn nạn! Nước Đức
muôn năm! Hãy trả lại cho nước Đức những vùng đất bị bọn Ba Lan tiếm đoạt.

Từ đầu những năm ba mươi, nền Cộng hòa đã nhường chỗ cho một
chế độ độc tài thiên hữu. Anh bạn Neumann, vẫn về phe đỏ, chửi bới chính phủ mà
anh cho là phát xít; nhưng Adolf biết rằng tín điều xấu xa của đám Bôn sê vich
đã đẩy bạn mình đến chỗ bôi xấu đối thủ. Chính quyền thiên hữu ở Đức, dù có dựa
trên quân đội, vẫn không có điểm gì giống với chế độ của Mussolini. Độc tài
nhưng không toàn trị, bảo thủ và không mang tính cách mạng, dựa trên giới tinh
hoa cũ chứ không phải trên lực lượng quần chúng, chế độ ấy biết tận dụng cuộc
khủng hoảng kinh tế để lên nắm quyền và khai thác tinh thần quốc gia chủ nghĩa
để giữ vị trí. Sau khi bãi bỏ nhiều điều khoản trong hiệp ước đình chiến, lấy
lại vùng thung lũng sông Rhine và lấy được quyền tái vũ trang, giờ đây, nước
Đức lên án tấm bản đồ được vẽ lại vào năm 1918 ở Versailles. Cả nước Đức lên
tiếng đòi lại những vùng đất và dân cư xưa kia vốn thuộc về Đế chế Bismarck đã
được trao quá tự tiện và hấp tấp cho Ba Lan.

- Đòi lại! Cái gì của người Đức phải trả cho người Đức!

Chế độ này không có ý định dòm ngó nước Áo, đối tác kinh tế
hàng đầu của Đức, cũng như Tiệp Khắc; Đức chỉ đòi lại những vùng lãnh thổ được
các nước chiến thắng giao cho Ba Lan.

Ba Lan, dưới quyền tổng thống Beck, không tìm được ai che
chở cho mình. Cả Anh và Pháp đều không sẵn sàng cho một cuộc chiến vì vùng lãnh
thổ đang tranh chấp này; và Nga thì càng không vì chính nước này cũng muốn lấy
lại đất đai ở Ba Lan. Một vài đại sứ, để lẩn tránh vấn đề, thậm chí còn nói đến
quyền tự quyết của các dân tộc vùng đó. Vì thế, chế độ đương quyền ở Đức hiểu
rằng họ có thể tấn công Ba Lan giữa sự thờ ơ của các nước khác, gần như một
việc chính đáng, mà không sợ làm dấy lên một cuộc chiến ở châu Âu.

Người Ba Lan sẽ tự vệ một cách mạnh mẽ.

Đành rằng họ dũng cảm và tinh nhuệ nhưng xét trên bình diện
quân số, nước Đức sẽ chiến thắng.

“Trên bình diện quân số... Adolf nghĩ. Ta hi vọng trong số
những người ngã xuống không có ai là sinh viên của ta. Và nhất không phải là
Heinrich.”

Đoàn tàu đã khởi hành đưa đi người thanh niên, không có
người thân nào ở Berlin, đang vẫy tay chào người thầy giáo già của mình.

“Lạy Chúa, xin Người đừng cướp nó đi. Đừng cướp đi người tài
năng nhất. Người đã để vuột mất Bernstein. Đừng làm như thế một lần nữa.”

*

* *

Sinh nhật lần thứ năm mươi của Hitler.

Các hoạt động chào mừng diễn ra một cách xa hoa và phô
trương.

Hitler dẫn đầu một đoàn năm mươi chiếc Limousine đến khánh
thành trục giao thông mới Đông-Tây chia Berlin làm hai, bảy ki lô mét đường
trải nhựa bóng như sáp, bảy ki lô mét cờ xí quốc xã được chiếu rọi bởi hàng
nghìn cây đuốc, bảy ki lô mét đám đông say mê lãnh tụ, bị hàng dây bảo vệ cản
lại.

Camera di động trên ray và cáp, như vệ tinh quanh mặt trời,
ghi lại những phút giây lịch sử khi quay phim Adolf Hitler.

Ở Dinh quốc trưởng, quà tặng chất đống: nào là tượng khỏa
thân bằng đá hoa cương trắng, tượng đồng, đồ sứ vùng Meissen, nào là tranh sơn
dầu, thảm, tiền hiếm, nào là vũ khí cổ, gối đệm thêu. Hitler đi giữa đống quà,
để mắt tới vài món, buông lời mỉa mai trước một số món khác, lờ đi phần lớn
trong số chúng, tỏ ra hững hờ một cách độc đoán cốt chỉ để tỏ ra mình là Quốc
trưởng.

Buổi tối, Albert Speer tặng hắn bản ma két của Khải hoàn môn
thu nhỏ bằng thạch cao và gỗ cao bốn mét. Nhiều lần trong đêm, Hitler rời phòng
ngủ để lại được xúc động trước công trình minh chứng cho sự vĩ đại của hắn
trong những thế kỷ tới.

Ngày hôm sau, trong lễ diễu binh, hắn làm mọi người sững sờ
khi đứng năm tiếng liền, không mệt mỏi, tay giơ thẳng, cứng đờ, tập trung, điềm
tĩnh như thể một bức tượng của chính mình. Hắn quyết định làm cuộc biểu dương
lực lượng vĩ đại nhất để cho các cường quốc phương Tây biết điều gì chờ đợi họ
nếu cản đường nước Đức. Đương nhiên, ghế dành cho đại sứ của Pháp, Anh, Mỹ và
Ba Lan không có người ngồi, nhưng nào có quan trọng gì! Mười nghìn thước phim
đã ghi lại sự kiện và sẽ được phát đi nhanh chóng trong các rạp chiếu bóng trên
toàn thế giới.

Hắn biết rằng về mặt quân sự, Đức chưa sẵn sàng cho một cuộc
chiến nhưng đã sẵn sàng hơn các nước khác. Hắn tiếp tục tăng cường tái vũ trang
và vì cương quyết muốn sáp nhập Ba Lan vào Đức càng nhanh càng tốt nên hắn đã
chấp nhận thương thuyết với lãnh tụ cộng sản Stalin.

Mùa hè năm đó, điều tưởng như khó xảy ra đã trở thành sự
thực.

Hitler và Stalin, hai kẻ thù không đội trời chung về mặt ý
thức hệ hơn là về mặt phương pháp, đã ký hiệp ước bất tương xâm Đức-Xô qua
trung gian là hai đại diện, hai vị bộ trưởng Ribbentrop và Molotov.

Tại Berlin, Hitler cho nổ sâm banh ăn mừng. Hắn đập đen đét
vào đầu gối như thể vừa diễn một trò vui.

- Bọn Pháp và Anh không tin được vào chuyện này, hắn cười rú
lên. Cả các tướng lĩnh của ta nữa!

Ngày 1 tháng Chín, vào bốn giờ bốn mươi lăm sáng, hắn ra
lệnh cho quân đội tấn công Ba Lan.

Pháp và Anh mất hai ngày mới hiểu ra rằng Hitler sẽ đi đến
cùng trong công cuộc chinh phục thế giới của mình. Ngày 3 tháng Chín, mười một
giờ, qua sóng BBC, Chamberlain tuyên chiến với Đức. Mười bảy giờ, Daladier, gần
như lùi bước, làm động thái tương tự ở Paris.

Chiều hôm ấy, Hitler, đứng trên sân thượng ở Berchtesgaden,
chiêm ngưỡng những ngọn núi. Thiên nhiên đang mở hội bằng cách tặng cho hắn một
cảnh tượng mê hồn: ánh rạng đông vào buổi hoàng hôn. Một ngôi sao băng màu
hồng, chói lọi, sáng rực nhuộm lên rừng cây đen như tảo một ánh màu ửng đỏ
trong khi bầu trời bày ra tất cả các sắc độ khác nhau của cầu vồng.

Hitler và các thuộc cấp bị hớp hồn bởi cảnh tượng ấy, không
nói lên lời. Khuôn mặt và bàn tay của họ đã mang một sắc màu phi thực. Cả vũ
trụ dường như đang rơi vào một cơn mơ. Ngay cả sự im lặng tỏa ra từ rừng cây
cũng mang vị Wagner.

Hiện tượng ấy diễn ra trong vòng một giờ đồng hồ. Các lãnh
đạo quốc xã cao cấp trở về trạng thái trẻ thơ. Vừa chiêm ngưỡng bầu trời vần vũ
những luồng sáng xé toang, họ nhìn thấy lãnh tụ của mình như bức tượng ở mũi
tàu đang đứng ở ban công như một nhà phù thủy cao tay biết hô phong hoán vũ.

Khi màn đêm khép kín bầu trời, Hitler quay lại phía họ và
thì thầm:

- Lần này máu sẽ đổ nhiều đây.

*

* *

- Phải có chiến tranh thì chúng ta mới tìm lại được nhau ư?

Sarah vừa nói vừa tuột khỏi giường để vào phòng tắm. Adolf
H. nghe tiếng nước chảy ào ào vào bồn tắm và tiếng ống nước khọt khọt. Có phải
cái ống nước nổi giận khi người ta đòi hỏi nó hơn mức bình thường một chút?

Chưa gì mùi thơm của sung và thông bá hương trắng đã lan tỏa
khắp căn phòng và lan đến tận giường.

- Anh có thể tắm với em được không? Adolf hỏi.

- Em đang đợi anh.

“Phải có chiến tranh thì chúng ta mới tìm lại được nhau ư?”
Nàng biết gì? Nàng vừa ám chỉ điều gì? Chỉ bởi vì Adolf ngày càng có nhu cầu
kéo vợ khỏi cửa hàng để đi uống cà phê, ăn nhà hàng, đến nhà hát và đặc biệt là
để bên nhau hàng giờ, trần truồng trên giường, để tranh luận và chỉ tạm ngừng
để làm tình? Hay nàng cũng đã phát hiện ra rằng...

Hắn bước vào căn phòng trên tường treo kín đồ sành đến từ Ma
rốc. Hắn đứng thẳng trước gương và quan sát mình từ dưới lên trên.

- Anh yêu em chứ? Sarah vừa hỏi vừa cười.

- Có. Được rồi. Thân xác anh luôn để làm một cái gì đó. Nhất
là để sướng. Có thể chính vì thế mà anh đỡ xấu trai hơn nhiều người đàn ông ở
tuổi năm mươi.

- Có thể. Dù gì thì em cũng yêu anh.

- Chắc là như thế. Anh già mà vẫn phong độ vì anh già đi
trong mắt em.

Hắn bước vào bồn tắm đầy bọt xà phòng và hét lên đau đớn;
Sarah rất thích nước nóng đến độ mà hắn không thể chịu được. Hắn đứng nguyên
đó, trơ trẽn, dâng hiến, và mỉm cười nhìn nàng.

Nàng có lý. Từ khi những người trai trẻ ngã xuống trên chiến
trường Ba Lan, hắn đã thay đổi. Hắn cảm thấy buồn và thèm khát.

Buồn khi nghĩ đến những sinh mệnh bị đốn phạt vì quốc gia,
cái giá trị không có chút giá trị này là nguồn gốc của mọi cuộc chém giết.
Nhưng đồng thời hắn cũng thèm khát bởi trên ke ga, nơi hắn chứng kiến cảnh
những sinh viên ra đi, hắn thấy mình phải sống, sống gấp, sống mãnh liệt để
không bỏ lỡ điều gì. Hắn trở nên ích kỷ và quyến rũ. Để cảm thấy hạnh phúc, hắn
cần những người khác phải hạnh phúc. Một cái gì đó trong cái triết lý vị tha
trước kia của hắn đã tan biến, cái phần chán chường, cái phần suy sụp, cái phần
làm cho hắn quan tâm đến thế giới nói chung mà không phải là quan tâm đến lợi
ích riêng của hắn.

- Lúc nãy em nói gì hả Sarah?

- Cần phải có một cuộc chiến để ta tìm lại được nhau. Em có
cảm giác anh sống động hơn trước.

- Đúng vậy. Đáng lẽ anh phải xấu hổ, có lẽ vậy phải không?

- Có lẽ vậy. Nhưng không quan trọng. Em vui sướng vì điều
ấy. Em đã biết là một ngày nào đó anh sẽ thoát khỏi bóng ma ám anh nhưng em
không biết là khi nào.

- Bóng ma ám anh?

- Mười-một-giờ-rưỡi. Anh đã dành cho cô ấy một chỗ trong anh
lớn hơn cả khi cô ấy còn sống.

Nàng mỉm cười khi nói điều ấy, nàng nghịch những đám bọt xà
phòng, để chúng bám lấy kẽ tay, nàng không trách gì hắn cả.

Một làn sóng hạnh phúc tràn qua hắn. Giờ đây, sức nóng của
nước không còn quan trọng nữa, hắn trườn vào nước và kéo thân hình ướt đẫm và
êm ái của Sarah vào mình.

- Anh rất may mắn với những người phụ nữ của đời anh.

- Cảm ơn vì chữ “những”, nàng thì thầm, giọng nghẹn ngào xúc
động.

Nàng tựa người vào Adolf, phiêu diêu, tin tưởng.

- Khi nào anh cho em xem tranh của anh đây?

- Gì cơ? Em đã biết rồi à?

Ra thế, nàng đã biết rồi! Làm thế nào mà nàng biết được hắn
lại bắt đầu vẽ vào tất cả các buổi chiều, trong phòng học vắng vẻ ở trường Mỹ
thuật?

Một hồi còi báo động vang lên, xé rách không khí bằng thứ
tiếng động chói tai, hãi hùng của nó. Adolf và Sarah cứng đờ, người căng lên
nghe ngóng. Tất cả hệ thống báo động của Berlin ù ù trên các mái nhà.

Điều đó có nghĩa gì?

Báo cáo nội dung xấu