Nửa kia của Hitler - Chương 36
- Thưa Quốc trưởng, ngài cần phải xuất hiện trước công
chúng.
- Không.
- Nhân dân cần sự hiện diện của ngài.
- Không. Ta chỉ xuất hiện sau khi chúng ta đã chiến thắng.
Không chiến thắng thì ta chẳng muốn nói gì cả. Vì sự bất tài của các tướng
lĩnh mà ta cũng chẳng còn cơ hội để làm điều ấy nữa. Không và không.
- Thưa Quốc trưởng, với tư cách bộ trưởng Bộ tuyên truyền,
tôi cần đến sự hiện diện không gì so sánh được của ngài. Chúng ta cần phải
quay phim, chụp ảnh. Ví dụ như cảnh ngài đến thăm các thành phố và vùng bị
không quân địch oanh tạc.
- Gì cơ? Ông định ghi hình ta giữa đống đổ nát vĩnh viễn vào
các cuộn phim hay sao? Rằng ta thừa nhận các thiệt hại ư? Ông có điên
không đấy?
- Dân chúng thích điều đó, họ sẽ có cảm giác rằng ngài chia
sẻ nỗi đau với họ. Ngài cũng có thể đến thăm các thương binh. Tất cả những
điều đó cho thấy ngài có lòng thương xót đến người khác.
- Lòng cảm thương? Đừng nực cười như thế.
- Không thể lơi là việc quan tâm đến dân chúng quá lâu. Dù
gì thì họ cũng là nòng cốt trong các nỗ lực chiến tranh của chúng ta.
- Thôi nào, chính ta mới đang làm tất cả. Ta tàn phá sức
khỏe của mình để giữ vững mục tiêu của chúng ta. Mỗi đêm ta chỉ ngủ chưa
đầy ba tiếng.
Người hoạt khẩu như Goebbels cũng không thể nói lại Hitler ở
điểm này: trông Hitler giờ thật khó coi. Cứng đờ, tím tái, tóc lốm đốm sợi
bạc, mắt sưng húp, lưng còng, đôi khi hắn khó nhọc tìm một từ để diễn đạt
trong khi tay trái run run không kiểm soát được. Hắn đã bỏ lối sống tài tử
trước kia với những đêm dài, những giấc ngủ trưa, những buổi thư giãn hàng
ngày khi xem phim chiếu riêng cho mình, tán chuyện về nghệ thuật và những
giây phút hứng khởi mơ màng bên ma két các công trình kiến trúc. Từ khi
cuộc chiến bị sa lầy và từ khi hắn quyết định sẽ tự mình chỉ huy tất cả các
trận đánh, hắn ôm hết mọi việc vào người và do đó, trở nên không hiệu quả.
Trong núi ý tưởng lộn xộn ấy, chẳng có cái gì ra hồn cả. Sức ép thần kinh
liên tục này làm hắn suy sụp ngay cả khi hắn không muốn thừa nhận điều ấy.
Hitler không muốn biết đến giới hạn khả năng của mình là hắn chỉ xuất sắc khi
đứng trên diễn đàn và chỉ hiệu quả khi tấn công. Nghiệp dư và phá hoại.
Không chuyên nghiệp cũng không biết tự vệ.
- Nhân dân Đức cần những tín hiệu từ phía ngài, thưa Quốc
trưởng. Nhân dân Đức nhớ ngài.
- Đủ rồi! Nhân dân Đức làm ta bực mình. Họ không ngang tầm
với tình hình. Ta thậm chí còn tự hỏi họ có xứng đáng với ta không.
- Cần phải hiểu rằng...
- Không! Bí mật của thành công nằm trong ý chí. Ý chí của ta
sẽ không bao giờ khuất phục. Ta biết rằng một vài người Đức muốn thỏa
thuận hòa bình. Không bao giờ. Chiến tranh hết mức! Chiến tranh tổng lực!
Không đầu hàng! Một vài người Đức còn chưa hiểu sự bất khoan dung có giá trị
tới mức nào. Nhưng họ hãy nhìn vào thiên nhiên xem! Không có chút khoan
dung nào trong thế giới động vật và thực vật: thiên nhiên hủy diệt tất cả
những gì không sống được. Chúng ta cần trụ vững không nao núng. Hoặc chiến
thắng hoặc bị hủy diệt. Hoặc là tất cả hoặc là không gì cả. Trong đời mình, ta
chưa bao giờ đầu hàng. Ta làm nên mình từ hai bàn tay trắng, anh nghe rõ
chưa, một mình ta từ hai bàn tay trắng. Với ta, tình hình của chúng ta
hiện nay không có gì mới mẻ cả. Ta đã trải qua những thứ còn tệ hơn
kia. Ta theo đuổi mục tiêu của mình một cách cuồng tín bởi anh là người
biết rất rõ, Goebbels thân mến ạ, chỉ có sự cuồng tín mới là quan trọng,
chỉ có sự cuồng tín mới có sức mạnh cứu rỗi. Không có cuồng tín thì không
có gì vĩ đại diễn ra trên trái đất này.
- Tất nhiên, thưa Quốc trưởng, nhưng...
- Nghe ta nói đây này, Goebbels: nếu dân tộc Đức yếu ớt, họ
không xứng với số phận nào khác ngoài bị tiêu diệt bởi một dân tộc khác
mạnh hơn. Khi đó, người ta không thể thương hại họ được, trong mọi trường
hợp, ta sẽ không thương hại.
Hitler ra hiệu cho Goebbels nhỏ bé và lịch lãm ra về. Khi
Goebbels ra đến cửa, Hitler gọi giật lại hỏi thăm con cái của Goebbels.
Goebbels nói vắn tắt rằng sáu đứa con của mình vẫn khỏe. Đột nhiên, Hitler
tỏ ra dễ chịu, hỏi thêm chi tiết về mỗi đứa. Trong suốt hai mươi phút, Goebbels
thao thao kể về những đứa con của mình, dường như có làm Hitler vui lên,
rồi Goebbels ra về, nhẹ nhõm, sung sướng vì Quốc trưởng trìu mến đến
nhường ấy với mình trong giờ phút khó khăn này.
Hitler quay lại với con chó cái của mình, Blondi, đang rối
rít chồm lên người hắn và Hitler kể cho con chó nghe chuyện con cái nhà
Goebbels. Hắn rất quý những đứa trẻ này và khi nói chuyện với Blondi, hắn
gọi chúng là “những chữ H nhỏ”, coi chúng gần như những bộ phận bổ sung cho
mình. Do quá ngưỡng mộ thần tượng, Goebbels đã đặt tên con là Helga,
Hilde, Hellmut, Holde, Hedda và Heide, như thế hắn có thể tô điểm tới sáu
lần chữ cái đầu của Quốc trưởng tôn kính.
Sau đó, Hitler tiếp Himmler, vừa được phong là bộ trưởng Nội
vụ của Đế chế, một nhiệm vụ mà con sên đảm nhiệm rất hiệu quả. Hắn nhận thấy
Himmler đã tỉa bớt bộ ria thành hai đường dọc nhưng vẫn chưa cạo hết hẳn.
Dù gì, biết đâu làm như thế có thể sẽ giữ vững được vẻ oai phong, thậm chí là
cả quyền uy của Himmler đối với thủ hạ, cho dù hắn chỉ có một cái bóng của
bộ ria kiểu Hitler?
- Himmler, nước Đức làm tôi lo lắng. Tinh thần của nhân dân
Đức đang xuống thấp và quả nho khô Goebbels ở Bộ tuyên truyền dường như
đang bất lực trong việc cải thiện tình hình. Chính anh là
người sẽ cứu vãn được tình thế.
- Cần phải làm gì, thưa Quốc trưởng?
Những ngày sau đó, Himmler triệu tập tất cả các lãnh đạo SS
tại Posen rồi đến các nhân vật cao cấp của Đế chế. Hắn phổ biến một cách
thẳng thừng tất cả mọi chuyện về các chuyến tàu chở nghẹt người Do Thái
khi đi và trở về trống rỗng. Hắn thừa nhận về hoạt động thực sự của các trại
tập trung, chết chóc.
- Với chương trình hủy diệt bọn Do Thái ở châu Âu này, chúng
ta vừa thực hiện một trang chói lọi trong lịch sử của chúng ta, cái chưa
bao giờ được lưu thành văn bản và cũng sẽ không bao giờ như vậy. Chúng ta
có quyền tinh thần và hơn hết, có nghĩa vụ đối với dân tộc là phải hủy diệt
chủng tộc đang muốn hủy diệt dân tộc ta. Chúng ta sẽ tận diệt vi khuẩn Do
Thái, cái có thể làm ta ngã bệnh hay giết chết chúng ta. Hitler sẽ được
ghi tên trong lịch sử như Robert Koch, người đã tận diệt bệnh lao và chúng
ta tự hào vì tất cả chúng ta đã là những y tá của loài người.
Hitler xoa xoa tay sau bản báo cáo của Himmler.
- Vậy đó. Bây giờ tất cả bọn họ đều liên lụy. Họ đã biết khá
đủ về điều này nên sẽ không muốn biết nhiều hơn về nó nữa.
Hắn lại gần cửa sổ nơi hoàng hôn nhuốm màu đỏ rực.
- Bây giờ, tất cả các lãnh đạo Đức đều đã nhúng chàm. Họ đã
bị trúng bẫy. Từ nay, họ sẽ không chỉ ngậm miệng lại mà hơn nữa lại còn
phải theo lao.
Im lặng bao trùm căn phòng được sưởi ấm không đủ.
Rất bình thản, Hitler thêm vào một câu nhận xét lần đầu tiên
không hề đao to búa lớn:
- Từ nay, sau lưng chúng ta, mọi cây cầu đã bị chặt đứt.
*
* *
- Vui lòng cho về khách sạn Ritz.
Adolf H. chui tuột vào trong chiếc taxi. Đúng ra thì hắn đổ
người vào đó bởi hắn đã quá say.
Paris đãi tiệc mừng hắn. Người ta yêu tranh của hắn một cách
cuồng nhiệt và cảm thấy rất vinh hạnh vì hắn đã từng sống ở Pháp. Một sự
quay ngoắt kỳ lạ. Giới nhà báo và thượng lưu tìm hiểu từng chi tiết nhỏ
nhặt nhất trong thời gian hắn sống ở Paris những năm hai mươi - phố nào, căn hộ
nào, quán ăn nào, nhà hàng nào, cứ như đó là điều thú vị lắm - trong khi
vào thời hắn sống ở đó, người ta quay lưng lại với hắn và hắn, một người
ngoại quốc không có thu nhập ổn định, phải khó nhọc lắm mới kiếm được một
nơi ở hay được ông chủ quán cho chịu vài đồng. Tối nay cũng vậy, hắn về khách
sạn Ritz nơi chủ gallery đã thuê cho hắn một phòng suite thêm một tuần nữa
để cảm ơn hắn vì giá tranh tăng vọt.
Khách sạn Ritz... khi hắn đến Paris năm 1919 hắn đã ở trong
một khách sạn tồi tàn, cao và hẹp, khách sạn Tia chớp gần nhà ga phía
Đông; ở đó, nhà vệ sinh trên tầng hắn ở bị vỡ kính, gió lạnh lùa vào làm
tê cóng cả mông, gái điếm và khách làng chơi đi lại nườm nượp trên cái cầu thang
kẽo kẹt, những tấm thảm cả đời không ai giặt mốc xanh mốc đỏ, hắn đã ở
chung với Neumann trong một căn phòng bé xíu; và hồi đó, hắn rất hạnh
phúc. Giờ đây, hắn cho Heinrich và Sophie đi theo hắn và ở một
phòng suite; mọi thứ đều dát vàng, đồ dùng pha lê, rượu sâm banh và tràng
kỷ rộng, êm và tiện nghi, hắn nhìn thấy bộ mặt giàu có của thành phố và
hắn cũng hạnh phúc.
Có điều, hạnh phúc ấy không giống trước.
Hắn cảm nhận vị cay đắng của thời gian đã qua. Adolf H. đã
chinh phục Paris một thời gian ngắn trước khi Mười-một chết và trước khi
cuộc khủng hoảng kinh tế hoành hành; hắn chinh phục nó một lần nữa và điều
đó chẳng mang lại cho hắn điều gì lớn lao cả trừ việc cảm thấy mình đã già và
thấy những người cách đây mười năm lờ hắn đi, nay lại tôn hắn là thiên tài
chỉ là những cái chong chóng, phát ra những lời nhận xét vô bổ và tự hạ
mình xuống thành những tiếng xì xào mà chính họ phát ra. Tất cả đều ngắn
ngủi, phù phiếm. Cái say khi uống một loại rượu vang ngon. Không hơn. Hắn đã tỏ
ra nghiêm khắc với những người ca tụng mình đến mức cảm thấy mình có lỗi.
Để chuộc lỗi, hắn dành trọn thời gian của mình ở đây để gây dựng danh
tiếng cho Heinrich. Hắn đồng ý đến những cuộc hẹn vô bổ để nói
đến Heinrich, hắn đi gặp các chủ gallery để họ quan tâm đến Heinrich, hắn
vào thành phố chỉ để giới thiệuHeinrich, biết rằng các vị khách mời sẽ bị vẻ
đẹp và sức quyến rũ của Heinrich thuyết phục hơn là những cái nhìn lướt
qua dành cho tranh của anh, những tác phẩm mà dù sao họ cũng chẳng nhìn ra
cái gì.
Heinrich sung sướng khi ở Paris và Adolf vui vì điều ấy. Hắn
có cảm giác đang tặng cả thành phố này cho Heinrich để chúc mừng anh tròn
hai mươi lăm tuổi. Những mối liên hệ nghiêm túc với giới nghệ thuật nay đã
được thiết lập. Heinrich chỉ còn mỗi việc là vẽ. Đó gần như là con
ta, Heinrich, con trai trong hội họa của ta bởi Rembrandt lại được trời phú
cho khả năng học toán và Sophie vẫn đang tiếp tục tìm kiếm lối đi cho
riêng mình. Ta sẽ là người cha hội họa của Heinrich.Sự hào phóng
này của Adolf cũng là phương tiện để vượt qua nỗi đau mà mọi nghệ sĩ phải chịu
khi nhìn thấy một thiên tài rất trẻ xuất hiện. Adolf cảm thấy mình bị
những khả năng thiên bẩm của Heinrich bỏ xa đến mức hắn hài lòng coi mình
là thầy và người đỡ đầu cho nghệ sĩ vĩ đại nhất của nửa sau
thế kỷ này.
- Bốn mươi phrăng đây, thưa hoàng tử của tôi.
Adolf không mặc cả dù giá tay lái xe đưa ra cao ngất bởi hắn
cảm thấy xấu hổ khi kỳ kèo bốn mươi phrăng trước mặt những người gác cổng
của khách sạn Ritz.
Hắn trả tiền và lên phòng. Hắn ở phòng chính rộng nhất,
Sophie ở phòng thứ hai và một phòng phía trên cầu thang rất đẹp
cho Heinrich.
Adolf cởi quần áo, đứng dưới vòi nước ấm thật lâu để gột hết
cơn say rồi khoác chiếc pyjama bằng lụa vào.
Khi đi ngang phòng Sophie, hắn nhìn thấy một tia sáng lọt
qua và thấy bực tức theo phản xạ của một người cha tằn tiện nghĩ rằng con
mình lại để quên đèn khi ngủ.
Hắn đẩy cửa và thấy trên cái giường nhàu nhĩ, lộn xộn,
Heinrich đang trần truồng ôm lấy Sophie, cũng không mảnh vải
trên người.
Cả hai mở mắt khi nghe tiếng cửa mở và hoảng sợ nhìn Adolf.
*
* *
Hai nhà độc tài ngồi giữa đống đổ nát đang còn bốc khói.
Giữa đống mảnh vụn, Hitler đã tìm thấy một cái hòm chưa bị
vụ nổ thổi bay đi. Mussolini tựa vào một cái xà trơ trọi, phần sót lại
cuối cùng của khung nhà.
Tro than còn bay vẩn vơ trong không khí, ngơ ngác, rời rạc
giữa tòa nhà bị xé toang và Paul Schmidt, người phiên dịch, đang kinh sợ
kiểm tra xem giữa đống bàn ghế nát vụn, những mảnh vỡ cửa kính và tường,
những mảnh quần áo rách nát loang lổ máu, có cái gì nguy hiểm nữa không.
Quanh họ, cánh rừng thê thảm của vùng đất biên cương đang
phả ra từng cơn, từng cơn hơi thở giá băng của nó.
Tóc cháy khét, tay buộc khăn thả trước ngực, Hitler bình
tĩnh, mỉm cười khi chỉ cho mọi người xem những thứ còn lại của phòng họp
trước kia của hắn.
- Vậy đó. Khi nãy, ta đang ở đó, cúi xuống bàn để xem xét
tấm bản đồ không quân thì nhìn thấy, trong một phần tư giây, một ngọn lửa
vàng xanh. Sau đó là một tiếng nổ khủng khiếp. Ta chìm trong một đám khói
đen, dày đặc, xoáy tròn. Sau đó, một trận mưa mảnh kính và mảnh gỗ rơi xuống
người ta. Các mảnh vỡ rơi lạch cạch khắp nơi. Lúc đó có hai mươi tư người
trong phòng. Khi màn khói tan đi, ta nhìn thấy những bóng người động đậy,
đầu tóc, quần áo bắt lửa. Khi đó ta kiểm tra và nhận thấy mình còn nguyên
vẹn và có thể cử động. Một vài mảnh vỡ găm vào tay và đùi, ngoài ra không sao
hết. Khi bước về phía có ánh sáng, ta vấp phải một xác chết. Một vài thuộc
cấp đã chết, một số bị thương nặng. Khi ta bước chân ra ngoài, tướng
Keitel tốt bụng đã lao về phía ta, ôm ta và hét lên “Quốc trưởng ơi, ngài
còn sống, ngài còn sống!” Ông ấy đã bật khóc, cái ông Keitel trung
hậu này.
Nói đến đó Hitler dừng lại nhỏ vài giọt nước mắt, cảm động
vì tình cảm của vị tướng hơn là việc mình đã may mắn thoát chết. Mussolini
nghe câu chuyện chậm hơn vì còn phải đợi người dịch, cuối cùng cũng làm ra
được một vẻ mặt thương cảm.
- Schmidt, bao nhiêu người bị thương nặng? Hitler hỏi to.
- Thưa Quốc trưởng, mười một người.
- Sao cơ? Hitler gầm lên.
- Mười một người.
- Ông thấy đấy Mussolini: mười một người bị thương nặng, rất
nặng, chắc chắn họ sẽ chết trong vài giờ tới.
Hắn tuyên bố điều ấy một cách tự hào như thể người ta nói
đến một thắng lợi cá nhân.
- Thưa Quốc trưởng, nhân viên tốc ký của người, anh Berger,
đã chết trong xe cứu thương. Anh ấy bị đứt lìa hai chân...
- Ai cơ?
- Berger ạ.
- A, ông thấy đấy, Hitler đắc thắng quay sang Mussolini nói
như quát.
- Đại tá Brandt chỉ còn sống được vài tiếng, người phiên
dịch nói gần như hết hơi.
- A!
Hitler vui sướng. Hậu quả của cuộc ám sát càng lớn, hắn càng
kiêu hãnh vì mình vẫn còn sống; vụ thảm sát càng nhấn mạnh rằng hắn là
người ngoại lệ.
Mussolini, già nua, sức khỏe sa sút, từng trải, kiệt sức,
không còn biết mình đang ở đây làm gì. Bị người dân Ý lật đổ, bị cầm tù,
được Hitler giải thoát, được người Đức dùng sức mạnh dựng lên làm người
đứng đầu nước cộng hòa Salo bé nhỏ ở phía Bắc nước Ý, ông ta hỏi người phiên
dịch tại sao Hitler lại gào lên như vậy.
- Quốc trưởng bị thủng màng nhĩ vì vụ nổ.
- Ông ấy có biết không?
- Không ai dám nói với ông cả.
Mussolini lắc đầu. Ông ta cũng chẳng dại gì chuốc lấy nguy
hiểm để nói với Hitler điều ấy.
Hitler nhìn thấy miệng Mussolini và Schmidt mấp máy nên biết
là họ đang nói chuyện.
- Thế nào Schmidt, anh bị làm sao vậy? Anh dám nói chuyện
riêng với ngài Công tước à!
- Tôi đang cho ngài Công tước biết những tin tức tốt lành về
sức khỏe của ngài, thưa Quốc trưởng, Schmidt hét tướng lên.
- Ta rất khỏe, khỏe vô cùng, chỉ sây sát đôi chút.
Hắn đứng dậy và kiêu hãnh quay một vòng để chứng tỏ mình còn
khỏe. Trông cứ như hắn vừa sáng tạo ra chính mình.
Khi ấy, Mussolini nhận ra rằng mắt Hitler lệch về bên phải.
Vả lại, cả người hắn cũng nghiêng về cùng bên ấy.
- Chắc chắn là thủng màng nhĩ rồi, Mussolini nói với
Schmidt, vẻ tư lự.
- Nói gì cơ?
- Ngài khỏe lắm ạ!
Hitler mỉm cười.
- Công tước thân mến, vụ ám sát này đã làm tôi trẻ lại. Nó
chứng minh rằng Định mệnh che chở và bảo vệ tôi cho đến khi tôi hoàn thành
sứ mệnh của mình. Chúng ta phải vững tâm bất chấp những thử thách tạm thời
gặp phải. Phe Đồng minh bị chia rẽ nhiều hơn lời người ta nói và tôi không nghĩ
là chúng có thể hòa hợp với nhau lâu nữa đâu. Làm thế nào mà Anh và Mỹ còn
đoàn kết với Liên Xô được? Người theo chủ nghĩa tự do với người Bôn sê
vich? Chúng sẽ sớm hiểu ra thôi.
Mussolini suýt buột miệng nói rằng Hitler, chính hắn đã là
đồng minh của Stalin trong nhiều tháng. Nhưng rồi, ông ta lại
yên lặng.
- Nước Đức vừa gặp phải một số khó khăn ở mặt trận miền
Đông, người Mỹ đã đổ bộ vào Pháp nhưng chúng tôi sẽ trụ được. Các tướng
lĩnh và chỉ huy, những người không xứng đáng với chức vụ được giữ, chẳng
giúp tôi được bao nhiêu nhưng tôi đang tự mình nắm lại mọi việc trong tay. Bằng
chứng đây! Ông có biết tôi nghi ai trong vụ ám sát này không? Đại tá Claus
Schenk, Grafvon Stauffenberg: hắn ta đã rời bàn họp nửa tiếng trước vụ nổ
và trốn chạy bằng ô tô. Quân đội đó! Lại là quân đội! Tôi toàn phải chịu
khó khăn từ đám nhà binh ăn hại và phản bội. Nhưng tôi tin tưởng chắc chắn vào
tương lai. À mà ông đã nhìn thấy quần của tôi chưa?
- Gì cơ?
- Schmidt, hãy cho Công tước xem quần của ta.
Paul Schmidt ngượng ngùng rút khỏi túi xách cái quần rách
bươm mà Hitler mặc vào thời điểm vụ ám sát. Anh ta lần mở từng nếp gấp,
trải chiếc quần trước mắt Công tước, người sẽ phải trầm trồ mỗi khi nhìn
thấy một lỗ thủng, một vết rách.
- Thật đáng ngưỡng mộ phải không? Hitler rống vào tai
Mussolini.
Tay người Ý gật gù tỏ vẻ hiểu biết như thể đang xem xét một
loại vũ khí mới.
- Ông có muốn xem quần áo lót của tôi không? Hitler gào
tướng lên.
Hắn cầm tay Mussolini kéo về phía boong ke. Bùn đất dính cả
vào giày bốt, Mussolini phải đỡ Hitler đang tì cả người lên ông ta mà
không biết.
- Đúng vậy, Công tước thân mến, chúng ta vừa trải qua vài
thử thách đối với ý chí nhưng chúng ta sẽ vượt qua. Tôi trông đợi rất
nhiều vào các loại vũ khí thần kỳ sắp xuất xưởng tại các nhà máy của mình.
Giáo sư Willy Messerschmitt đã chế tạo được một loại máy bay phản lực có thể
đạt tới vận tốc tám trăm ki lô mét giờ và phá tan máy bay địch. Nhưng vũ
khí thú vị nhất sẽ là tên lửa A4, một loại tên lửa tầm xa do nhà sáng chế
đại tài von Braun chế tạo, nó có thể cho phép chúng ta hủy diệt toàn
bộ Luân Đôn với chương trình Kuschkern. Ông nói gì cơ?
- Không gì cả.
- Gì cơ?
- Thật tuyệt vời!
- Đúng, thật tuyệt vời. Đáng ngạc nhiên. Mang tính quyết
định. Churchill sắp bị nướng như một con gà rô ti.
Mussolini thở dài, không còn kiên nhẫn được nữa, mệt lử vì
sức nặng của người đồng hành, choáng váng vì những lời gào thét của
ông ta.
- Tôi rất yêu ông, Mussolini ạ, và tôi ngưỡng mộ ông. Không
có ông làm mẫu, có thể tôi đã không dám làm vụ tấn công nước Đức vào thời
điểm ấy. Không có Mussolini sẽ không có Hitler.
- Và rồi, không có Hitler sẽ không có Mussolini, Công tước
hét lên, rầu rầu nghĩ đến cái quyền lực cỏn con của mình đang được quân
đội Đức duy trì một cách tạm bợ.
- Ra thế sao, khôi hài thật. Thật quá sức khôi hài. Thế mà
tôi không biết đấy nhé. Quả là quá sức khôi hài. Xem này, nó làm tôi nghĩ
đến chuyện vào năm 31 ở Munich...
Mussolini không bao giờ biết cái mà Hitler nghĩ đến. Ông ta
để mặc Hitler gào tướng lên đến nổ cả tĩnh mạch cổ mà không buồn đáp lại
một câu. Họ còn lảo đảo cả mười lăm lần nữa trước khi đi đến chỗ ô tô.
Ân cần, thao thao bất tuyệt, Hitler tiễn ông ta ra tận ga,
đến tận ke, tận cửa toa xe. Là người tin vào số mệnh, Mussolini nghĩ đến
cô bồ của mình, tới những cái sẽ được ăn trên tàu tối nay. Ông ta không
còn chú ý đến người đồng nhiệm độc tài của mình nữa. Xét cho cùng, Hitler chẳng
bao giờ cần người khác phải nghe mình nói và hắn đã bị điếc từ nhiều năm
nay rồi.
*
* *
“Xơ Lucie thân mến,
Sự phản bội là một thứ ánh sáng thô mộc mang thực tế đến với
mọi thứ mà nó soi rọi. Có thể đó là thứ ánh sáng trung thực duy nhất... Từ
khi phát hiện vào cái đêm ghê rợn ấy rằng Heinrich ngủ với con gái mới
mười ba tuổi của tôi, tôi đã nhìn rõ chân tướng của nó. Không tài nào
chịu nổi.
Hôm đó, khi đã trấn tĩnh lại, tôi đã kéo Heinrich, trần
truồng, ra phòng khách.
- Mặc quần áo vào và hãy giải thích cho tôi xem.
Hắn quơ lấy một cái khăn choàng buộc ngang hông rồi nhìn
tôi, cười ngạo nghễ.
- Chẳng có gì để nói cả.
- Giải thích cho tôi xem! Làm sao mà cậu lại làm như thế với
Sophie được?
Hắn cười phá lên.
- Dễ như lấy đồ trong túi.
- Nó mới mười ba tuổi.
- Thế thì sao? Không ai ép cô ấy cả. Cô ấy yêu tôi.
- Không thể như thế được.
- Thế thầy nghĩ là thế nào? Thầy hỏi cô ấy thì biết. Tôi
không hề cưỡng ép cô ấy. Không một phút giây nào. Tôi thậm chí còn mất một
thời gian mới nhượng bộ. Thầy cứ hỏi đi thì biết.
- Không thể như thế được.
- Tại sao không? Thế thầy thích một vụ cưỡng bức hơn à?
Hắn nhảy lên nằm dài trên tràng kỷ, dửng dưng, lãnh đạm, mỉa
mai. Hắn thậm chí còn không hiểu sự đổ vỡ trong lòng tôi.
- Nhưng Heinrich, làm sao cậu có thể làm như thế với tôi?
Với tôi đây?
- Thầy và cô ấy là hai người khác nhau. Tôi không thấy
chuyện này có liên hệ gì.
- Đó là con gái tôi, Heinrich, tôi có trách nhiệm với nó,
tôi phải bảo vệ nó. Thế còn cậu, cậu gần như là con trai tôi và tôi cứ ngỡ
cậu là bạn tôi và cậu cũng bảo vệ nó.
Tôi chờ đợi. Tôi để hắn có thời gian suy nghĩ để nhận ra vấn
đề, để xấu hổ, hối tiếc, xin lỗi. Sau mười phút, hắn đứng bật dậy, nhìn
tôi sốt ruột nếu không muốn nói là khó chịu, và hỏi cộc lốc:
- Thế nào, đã xong chưa? Tôi ghét cay ghét đắng những cảnh
kiểu như thế này. Tôi lên phòng đi tắm đây.
Nói rồi hắn bỏ đi.
Chỉ khi ấy, thực sự là như vậy, tôi mới hiểu ra.
Heinrich không hề có chút ý thức đạo đức hay tình cảm nào
cả. Hắn đã ngủ với một con bé con bởi hắn có nhu cầu và con bé muốn như
thế. Với hắn, câu chuyện chỉ có vậy.
Tôi quay về phòng Sophie nơi con bé đang khóc trên giường.
Tôi muốn ôm nó vào lòng để vỗ về, an ủi rằng tôi vẫn thương nó nhưng nó
cứng đờ người và lùi về phía cuối giường. Nó chỉ còn chịu được vòng tay ôm
ấp của Heinrich!
Tôi cố thử nói chuyện với nó và phát hiện ra sự tàn phá mà
con quỷ ấy đã gây ra. Đúng, nó yêu hắn. Vả lại, cả gia đình tôi yêu quý
hắn và cả tôi nữa, bố của nó là người đầu tiên, và đã buộc mọi người phải
theo mình. Con bé làm thế thì sai ở đâu? Heinrich đẹp trai và chính tôi, tôi
cũng nói, rằng hắn là một thiên tài. Thế thì còn nói được gì?
- Cái nhìn của con và hắn không giống nhau, con gái ạ. Con
yêu hắn còn hắn thì không.
- Làm sao bố có thể nói như vậy được? Con là đứa không ai
thèm yêu có phải không?
- Ồ có chứ, con là người đáng yêu. Và bố rất yêu con, và mẹ
con nữa và anh Rembrandt nữa, cả xơ Lucie và biết bao người khác và trong
tương lai sẽ còn nhiều người yêu con nữa, nhưng trong đó không
có Heinrich.
- Tại sao?
- Vì Heinrich là một con quái vật. Một con thú tham lam, chỉ
nghe theo tiếng gọi của những ham muốn trong mình, không có một hàng rào
đạo đức hay ý thức về tình bạn nào cả, nó không thể yêu ai.
- Con ghét bố. Bố nói vậy vì bố ghen với anh ấy.
Xơ Lucie thân mến, tôi không kể với xơ những gì xảy ra sau
đó trong đêm ấy. Sophie một mực giữ lấy hình ảnh Heinrich là một chàng
hoàng tử quyến rũ, còn tôi, người đã hết mực tin vào điều đó, làm sao tôi
có thể thuyết phục nó tin vào điều ngược lại?

