Truy tìm Dracula - Chương 04 phần 1
Chương 4
Như cha đã nói với con, cha bắt đầu kể, hắng giọng một hai
lần, giáo sư Rossi là một học giả xuất sắc và là một người bạn chân tình. Cha
không muốn con nghĩ bất kỳ điều gì khác về ông ấy. Cha biết mình đã sai lầm, có
lẽ vậy, vì trước đây đã kể và làm cho con nghĩ ông ấy có vẻ như… mất trí. Chắc
con vẫn nhớ là ông ấy đã thuật lại với cha một điều khủng khiếp, khó mà tin
nổi. Và cha đã bị sốc nặng, lòng đầy nghi hoặc, dù đã nhìn thấy sự thành thực
và vẻ cam chịu trên khuôn mặt ông. Khi đã kể xong, ông liếc nhìn cha bằng ánh
mắt sắc lạnh.
“Thực sự thầy muốn ám chỉ điều gì?” Hẳn là khi ấy cha phải
lắp bắp lắm.
“Tôi nhắc lại,” thầy Rossi gằn giọng, “Ở Istanbul, tôi
đã phát hiện là hiện nay Dracula vẫn còn sống giữa chúng ta. Hoặc ít nhất, còn
sống vào lúc đó.”
Cha nhìn ông chằm chằm.
“Tôi biết hẳn anh cho là tôi điên,” ông nói, giọng rõ ràng
đã bớt gay gắt. “Và tôi cũng đồng ý với anh rằng bất kỳ ai miệt mài tập trung
quá lâu vào lịch sử đều có thể trở nên điên khùng nặng.” Ông thở dài.
“Ở Istanbul có một trung tâm lưu trữ các tư liệu ít người biết, do
Quốc vương Mehmed II, người đã chiếm thành phố này từ tay đế quốc Byzantine vào
năm 1453, xây dựng. Sau đó trung tâm lưu trữ này chỉ chứa những thứ đầu thừa
đuôi thẹo được người Thổ thu thập sau này, khi họ dần dần bị đánh lui và vùng
biên cương đế quốc Ottoman thu hẹp lại. Ngoài ra, nó còn chứa đựng những tài
liệu từ cuối thế kỷ mười lăm, và tôi đã tìm thấy trong đó vài tấm bản đồ chỉ
phương hướng tìm đến Hầm mộ Tội Lỗi của Kẻ Tiêu Diệt người Thổ, tôi nghĩ kẻ đó
có thể chính là Vlad Dracula. Thực ra, có ba tấm bản đồ vẽ theo tỷ lệ xích khác
nhau nhằm thể hiện cùng một khu vực với mức độ chi tiết tăng dần. Tôi không
nhận ra và cũng không thể liên kết bất cứ điều gì trên các tấm bản đồ này với
bất kỳ khu vực nào mà mình biết. Chúng được ghi chú chủ yếu bằng chữ Ả-rập, và
có niên đại từ cuối thế kỷ mười lăm, theo lời của những người thủ thư trung tâm
lưu trữ.” Ông khẽ nhịp tay lên cuốn sách nhỏ kỳ lạ, mà cha đã kể với con là rất
giống cuốn sách của cha. “Thông tin ghi ở giữa tấm bản đồ thứ ba được ghi bằng
một thứ phương ngữ Xlavơ cổ. Chỉ các học giả uyên bác, thông thạo nhiều ngôn
ngữ mới có thể giải mã được toàn bộ nội dung của các tấm bản đồ này. Tôi đã cố
gắng hết sức, nhưng cũng không mấy tự tin.”
Đến đây, thầy Rossi lắc đầu, tựa như vẫn còn hối tiếc về
những mặt hạn chế của mình. “Nỗ lực đổ vào cuộc tìm hiểu này đã kéo tôi ra xa
đến vô lý công việc nghiên cứu chính thức trong mùa hè về chủ đề giao thương
thời cổ đại ở đảo Crete. Nhưng tôi đã quá say mê nó, tôi nghĩ vậy, khi
ngồi trong cái thư viện nóng nực và nhớp nháp ở Istanbul. Tôi nhớ mình vẫn
có thể nhìn thấy những ngọn tháp của thánh đường Hagia Sophia qua những cửa sổ
bụi bặm. Tôi đã làm việc ở đó, với những manh mối về quan điểm của người Thổ
đối với vương quốc của Vlad nằm trên bàn phía trước mặt, cặm cụi gò lưng trên
những cuốn tự điển, ghi ghi chép chép cơ man các dữ liệu, và chép lại bằng tay
các tấm bản đồ kia.
“Để tóm gọn câu chuyện nghiên cứu dài hơi này lại, một buổi
chiều nọ tôi chợt thấy mình chú tâm đến một vị trí được đánh dấu cẩn thận là
Hầm mộ Tội Lỗi trên tấm bản đồ thứ ba và cũng là tấm bản đồ rắc rối nhất. Anh
hãy nhớ Vlad Ţepeş được cho là đã được chôn cất tại một tu viện trên một hòn
đảo trong hồ Snagov, ở Rumani. Bản đồ này, cũng như hai cái kia, không cho thấy
một cái hồ nào có một hòn đảo cả - mặc dù nó cũng cho thấy có một dòng sông
phình rộng ra ở giữa và chảy qua suốt khu vực. Tôi đã dịch tất cả mọi từ viết
chung quanh viền khung bản đồ, với sự trợ giúp của một giáo sư đại học Istanbul
chuyên về tiếng Ả-rập và Thổ Nhĩ Kỳ - những châm ngôn khó hiểu về bản chất của
cái ác, nhiều câu trong số đó xuất phát từ Kinh Koran. Đây đó trên tấm bản đồ,
ẩn mình giữa những ngọn núi được phác thảo thô là vài chữ viết, thoạt nhìn có
vẻ như là những địa danh viết bằng một thứ phương ngữ Xlavơ nhưng dịch ra thì
lại giống như những câu đố khó hiểu, có thể là mật mã chỉ những địa điểm có
thực nào đó như: Thung lũng Tám Cây Sồi, Làng Trộm Heo, vân vân - những cái tên
quê mùa kỳ lạ chẳng có nghĩa gì đối với tôi.
“À, ở ngay chính giữa tấm bản đồ, phía trên vị trí Hầm mộ
Tội Lỗi, hoặc bất kỳ nơi đâu được cho là địa điểm hầm mộ này là hình phác thảo
một con rồng, mang trên đầu một lâu đài như một thứ vương miện. Con rồng trông
chẳng có gì giống với con trong cuốn sách cổ của tôi, à không, của chúng ta,
nhưng tôi phỏng đoán nó đã lưu truyền đến người Thổ cùng với huyền thoại về
Dracula. Phía dưới con rồng, có ai đó đã viết bằng mực những chữ rất nhỏ, thoạt
tiên tôi cứ nghĩ là chữ Ả-rập, giống như các câu châm ngôn ở đường viền tấm bản
đồ. Nhìn chúng qua một kính lúp, tôi chợt nhận ra những chữ này thực ra là chữ
Hy Lạp, tôi liền dịch và đọc to chúng lên trước khi kịp nghĩ đến vấn đề xã giao
tế nhị - dù lúc đó, dĩ nhiên là thư viện vắng tanh, chỉ có mỗi mình tôi và một
người thủ thư mặt mày ủ rũ thỉnh thoảng đi vào đi ra, dường như để đảm bảo là
tôi không lấy cắp bất kỳ thứ gì. Vào lúc đó, tôi hoàn toàn chỉ có một mình.
Những con chữ nhỏ xíu kia như nhảy múa dưới mắt tôi khi tôi đọc chúng lên: ‘Ở
địa điểm này, hắn bị giam giữ trong cái ác. Người đọc, hãy khai quật hắn lên
bằng chỉ một lời.’
“Ngay lúc đó, tôi nghe tiếng sầm cửa ở phòng nghỉ dưới lầu.
Những bước chân nặng nề bước lên cầu thang. Tuy nhiên, tôi vẫn bận rộn với một
ý nghĩ chợt lóe lên: chiếc kính lúp vừa thổ lộ cho tôi biết rằng tấm bản đồ
này, không giống như hai bản đồ đầu tiên chung chung hơn kia, được ghi chú bởi
ba người khác nhau, bằng ba ngôn ngữ khác nhau. Chữ viết tay và ngôn ngữ cũng
không giống nhau. Màu mực, những loại mực cổ, cũng vậy. Rồi tôi đột ngột hiểu
ra - anh biết đấy, một nhà nghiên cứu có thể hoàn toàn tin tưởng vào trực giác
khi đằng sau nó là hàng tuần miệt mài làm việc.
“Đối với tôi, có vẻ như, thoạt tiên tấm bản đồ chỉ bao gồm
bức tranh phác thảo ở chính giữa, những ngọn núi bao bọc xung quanh và cái mệnh
lệnh bằng tiếng Hy Lạp ấy. Có lẽ sau này nó mới được ghi chú thêm bằng thứ
phương ngữ Xlavơ để xác định những địa điểm đã được đề cập - dưới dạng mật mã,
ít ra là như vậy. Rồi sau đó, vì một lý do nào đó, nó đã rơi vào tay những
người Ottoman và bị bao bọc trong những câu chữ xuất phát từ Kinh Koran, những
thứ có vẻ như để chứa đựng hoặc giam giữ cái thông điệp báo điềm gở ở chính
giữa kia, hoặc để phong tỏa nó bằng những bùa chú chống lại bóng tối. Nếu điều
này là có thực, thì ai, ai biết tiếng Hy Lạp, đã ghi chú tấm bản đồ trước tiên,
hoặc có lẽ thậm chí đã vẽ ra nó? Tôi được biết vào thời Dracula, tiếng Hy Lạp
là ngôn ngữ được các học giả Byzantine sử dụng, chứ không phải đa số các học
giả trong Đế quốc Ottoman.
“Trước khi tôi có thể viết ra, dù chỉ một ghi chú về giả
thuyết này, giả thuyết có thể liên quan đến những thử nghiệm vượt quá quyền hạn
của mình, cánh cửa ở phía bên kia kho sách bỗng bật mở, và một gã cao to lực
lưỡng bước vào, hung tợn lao nhanh qua đống sách vở một cách thô bạo rồi đứng
lại ở bên kia bàn, nơi tôi đang làm việc. Gã có dáng vẻ của một kẻ cố tình đột
nhập, tôi cảm thấy chắc chắn gã không phải là một trong những người thủ thư.
Tôi cũng cảm thấy vì lý do nào đó mình nên đứng dậy, nhưng sự tự cao đã không
cho tôi nhấc người lên; hành động như thế có thể chứng tỏ tôi đã quá khúm núm
sợ sệt, nhất là trước sự can thiệp đột ngột và khá thô bạo của gã đàn ông kia.
“Chúng tôi nhìn thẳng vào mặt nhau, tôi chưa bao giờ cảm
thấy hoang mang như vậy. Gã đàn ông rõ ràng không hợp với bối cảnh ở đây, đẹp
trai và ăn mặc chải chuốt theo phong cách thiên về màu sậm của người Thổ hoặc
người miền Nam Xlavơ, râu mép rậm, bộ y phục sẫm màu được cắt may cẩn thận như
một doanh nhân phương Tây. Ánh mắt gã đụng ánh mắt tôi nảy lửa, và đôi hàng
lông mi dài có vẻ gì đó rất đáng ghét trên khuôn mặt lạnh lùng kia. Nước da gã
vàng bủng nhưng đẹp đẽ, không có một tì vết, còn cái lưỡi thì rất đỏ. ‘Thưa
ông,’ gã nói nhỏ, giọng thù địch, gần như là làu bàu một thứ tiếng Anh giọng
Thổ. ‘Tôi không cho rằng ông được phép làm việc này.’
“ ‘Làm việc gì?’ Tôi lập tức sửng cồ lại.
“ ‘Việc nghiên cứu này. Ông đang tiếp cận những tài liệu mà
chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ xem như tư liệu lịch sử riêng của quốc gia. Tôi có thể
xem giấy tờ của ông được chứ?’
“ ‘Anh là ai?’ Tôi đáp lại cũng lạnh lùng không kém. ‘Tôi có
thể xem giấy tờ của anh chứ?’
“Gã rút từ túi trong áo khoác một cái ví, mở ví ra và đập nó
xuống mặt bàn trước mặt tôi, rồi chộp lên và đóng ập ví lại. Tôi chỉ kịp nhìn
thấy một cái thẻ màu ngà cùng với một mớ bòng bong những tiêu đề chữ Thổ trên
đó. Bàn tay gã nhợt nhạt như sáp trông rất khó chịu, móng tay để dài cùng với
một vạt lông đen trên mu bàn tay. ‘Bộ Tài nguyên Văn hóa,’ gã nói, giọng lạnh
tanh. ‘Tôi hiểu rằng ông thực sự không có sự thu xếp trao đổi với chính quyền
Thổ Nhĩ Kỳ để nghiên cứu những tài liệu này. Đúng vậy chứ?’
“ ‘Chắc chắn không phải vậy.’ Tôi trình ra cho gã một lá thư
của Thư viện Quốc gia, nêu rõ là tôi được quyền nghiên cứu ở bất kỳ đơn vị bộ
phận nào của Thư viện ở Istanbul.
“ ‘Vẫn không đủ,’ gã nói, quăng trả lá thư xuống mớ giấy tờ.
‘Có lẽ ông cần phải đi với tôi.’
“ ‘Đi đâu?’ Tôi đứng dậy, bây giờ cảm thấy an toàn hơn trên
đôi chân của mình, nhưng cũng hy vọng gã sẽ không xem việc tôi đứng dậy như sự
phục tùng.
“ ‘Đến cảnh sát, nếu xét thấy cần.’
“ ‘Thật quá đáng.’ Tôi đã có kinh nghiệm là, khi nghi ngờ về
bộ máy hoặc con người quan liêu thì mình phải lên giọng mới mong được êm xuôi.
‘Tôi là tiến sĩ dự bị của Đại học Oxford và là một công dân của Vương
quốc Anh. Ngày đến đây, tôi đã đăng ký với trường đại học sở tại và đã nhận lá
thư này như là bằng chứng về vị thế của tôi. Cảnh sát - hoặc cả anh nữa - không
có quyền hạch sách tôi.’
“ ‘Tôi hiểu.’ Gã cười, cái kiểu cười làm cho tôi cảm thấy
ruột mình thắt lại. Tôi đã đọc một ít về các nhà tù Thổ Nhĩ Kỳ và những người
tù phương Tây thỉnh thoảng bất đắc dĩ phải ngồi trong đó, và tình thế hiện tại
làm tôi cảm thấy không yên tâm, dù tôi không hiểu mình có thể dính vào loại rắc
rối nào. Tôi hy vọng một trong những người thủ thư thường ra vào nghe được
tiếng tôi và sẽ vào bảo chúng tôi nói nhỏ. Nhưng rồi tôi nhận ra là chắc hẳn họ
có dự phần trách nhiệm trong việc để cho nhân vật này vào đây, với cái thẻ công
vụ đáng sợ của gã, để gặp tôi. Có thể gã thực sự là một nhân vật quan trọng. Gã
chồm về phía trước. ‘Để tôi xem ông đang làm cái gì ở đây. Làm ơn tránh ra.’
“Tôi miễn cưỡng bước qua một bên, gã liền cúi gập người trên
công trình của tôi, đóng ập những cuốn tự điển lại để xem bìa của chúng, vẫn
với nụ cười làm tôi thắt ruột kia. Vóc dáng đồ sộ của gã ở bên kia bàn, và tôi
chú ý nhận ra người gã có một mùi kỳ dị, giống như mùi nước hoa Cologne dùng để
phủ lấp một mùi gì đó không ưng ý - nhưng không che giấu được. Sau cùng, gã cầm
tấm bản đồ mà tôi đang nghiên cứu dở lên, tay gã chợt trở nên dịu dàng, gần như
nâng niu khi cầm nó. Gã nhìn nó tựa như không cần quan sát lâu mới biết nó là
cái gì, dù vậy tôi nghĩ đó hẳn là một động tác giả. ‘Đây là tài liệu lưu trữ
của ông, đúng không?’
“ ‘Đúng,’ tôi giận dữ trả lời.
“ ‘Đây là tài sản rất giá trị của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi
không tin ông sẽ cần nó cho những mục đích có liên quan đến các nước khác. Và
chính mảnh giấy này, tấm bản đồ nhỏ này, đã khiến ông đi ngần ấy đường từ
trường đại học nước Anh đến Istanbulsao?’
“Tôi định phản bác lại là mình còn những việc khác nữa, để
tống cổ hắn đi cho tôi làm việc tiếp, nhưng ngay tức khắc nhận ra việc này có
thể dẫn đến nhiều nghi vấn hơn. ‘Vâng, có thể nói tóm tắt là như vậy.’
“ ‘Tóm tắt là như vậy?’ Gã tiếp tục, giọng đã ôn tồn hơn.
‘Được, báo để ông biết tấm bản đồ này tạm thời bị tịch thu. Thật là một điều
đáng xấu hổ đối với một nhà nghiên cứu ngoại quốc.’
“Tôi đứng đó, giận sôi người, gần như không biết phải làm
gì, và cảm thấy cũng may mà sáng hôm đó đã không mang theo bất kỳ bản sao chi
tiết nào những tấm bản đồ cổ vùng núi Carpates, mà tôi định sẽ dùng để so sánh
với tấm bản đồ này vào ngày mai. Chúng được giấu trong va li của tôi để ở khách
sạn. ‘Ông hoàn toàn không có quyền tịch thu tài liệu mà tôi đã được phép sử
dụng,’ tôi trả lời, nghiến răng. ‘Chắc chắn tôi sẽ đề cập việc này với bên Thư
viện Quốc gia ngay tức khắc. Cả với tòa đại sứ Anh. Dù sao đi nữa, ông dựa vào
lý do nào để phản đối việc tôi nghiên cứu những tài liệu này? Chúng chỉ là
những mảng tối trong lịch sử thời Trung cổ. Chúng chẳng liên quan gì đến lợi
ích hiện tại của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ, tôi chắc chắn như vậy.’
“Viên quan chức nhà nước đứng đó, không nhìn tôi, tựa hồ như
những tháp hình chóp của thánh đường Hagia Sophia vừa bày ra một góc cạnh mới
hấp dẫn nào đó mà gã chưa từng có dịp chứng kiến. ‘Đây là vì lợi ích của chính
ông,’ gã nói giọng bình thản. ‘Tốt hơn nên để một người khác tiếp tục làm việc
kia. Vào một lúc nào khác.’ Gã vẫn đứng như bất động ở đó, đầu quay về phía cửa
sổ, cứ như muốn tôi dõi theo ánh mắt của gã để nhìn cái gì đó. Tôi ngây ngô cảm
thấy mình không nên làm như vậy, vì đó có thể là một trò lừa, do đó, thay vì
vậy, tôi nhìn gã, chờ đợi. Rồi sau đó, tôi đã thấy, tựa như gã cố ý để cho cái
ánh sáng ban ngày nhờn nhợt kia chiếu vào nó, khoảng cần cổ phía trên chiếc sơ
mi đắt tiền của gã. Bên cạnh cổ, ở vùng thịt thấp nhất trên cái cổ họng vạm vỡ,
là hai lỗ thủng màu nâu đã đóng vảy, không mới nhưng cũng chưa lành hẳn, tựa
như gã đã bị một ngọn gai hai đầu đâm vào, hoặc bị cắt bằng mũi dao nhọn.
“Tôi bước lui, tránh xa bàn, nghĩ rằng mình đã mất trí vì
tất cả những tài liệu đen tối đó, rằng mình đã thực sự loạn óc. Nhưng cái ánh
sáng ban ngày kia vẫn bình thường, gã đàn ông trong bộ đồ len sậm màu kia hoàn
toàn có thực, cho đến cái mùi mồ hôi, mùi không tắm rửa và mùi gì đó khác bên
dưới cái mùi nước hoa Cologne của gã cũng vậy. Chẳng có gì biến mất
hoặc thay đổi. Tôi không thể rời mắt khỏi chỗ hai vết thương nhỏ chưa lành hẳn
kia. Sau một vài giây, từ quang cảnh lôi cuốn kia, gã quay lại, tựa như hài
lòng với điều đã thấy - hoặc cái mà tôi đã thấy - và lại cười. ‘Vì lợi ích của
riêng ông, giáo sư à.’
“Khi gã bước ra khỏi phòng, cầm tấm bản đồ cuộn trong tay,
tôi đứng đó không nói nên lời và lắng nghe tiếng bước chân xa dần trên cầu
thang. Vài phút sau, một thủ thư lớn tuổi bước vào, một người đàn ông tóc bạc
rậm rịt, cầm theo hai cuốn sách cổ khổ lớn rồi đặt chúng trên một chiếc kệ thấp.
‘Xin lỗi,’ tôi lên tiếng với người thủ thư, tiếng nói như nghẹn lại trong cổ
họng. ‘Xin thứ lỗi cho tôi, nhưng đây là việc hoàn toàn quá đáng.’ Ông ta nhìn
tôi, bối rối. ‘Người đàn ông đó là ai? Cái ông quan chức nhà nước ấy?’
“ ‘Quan chức nhà nước?’ Người thủ thư ngập ngừng nhắc lại
lời tôi.
“ ‘Tôi phải có ngay một công văn chính thức của các ông về
quyền làm việc của tôi trong trung tâm lưu trữ này.’
“ ‘Nhưng ông đã có toàn quyền làm việc ở đây,’ ông ta ôn tồn
đáp lại. ‘Chính tôi đã đăng ký cho ông ở đây kia mà.’
“ ‘Tôi biết, tôi biết. Vì vậy các ông phải bắt ông ta và bảo
ông ta trả lại tấm bản đồ.’
“ ‘Bắt ai?’
“ ‘Cái ông ở Bộ gì đó - cái ông vừa mới đến đây. Chẳng phải
ông đã cho ông ta vào đây hay sao?’

