Truy tìm Dracula - Chương 05

Chương 5

Cảm thấy sự miễn cưỡng của cha, tôi quyết định tự mình thực
hiện một cuộc tìm hiểu nho nhỏ, và một hôm sau khi tan học về, tôi đã một mình
đến thư viện trường đại học. Trình độ tiếng Hà Lan của tôi tương đối tốt, lúc
ấy, tôi cũng đã học tiếng Pháp và Đức được nhiều năm, và trường đại học cũng có
một bộ sưu tập đồ sộ sách tiếng Anh. Những người thủ thư rất nhã nhặn; chỉ qua
vài lần rụt rè thăm hỏi tôi đã tìm được tư liệu mình đang tìm kiếm: nguyên văn
các tập sách mỏng có xuất xứ từ Nuremberg viết về Dracula mà cha đã
đề cập. Thư viện không sở hữu được bản gốc nào của các tập sách trên - chúng
rất hiếm, bác thủ thư lớn tuổi, phụ trách mảng tư liệu thời Trung cổ của thư
viện giải thích với tôi như vậy, nhưng bác cũng tìm ra văn bản trên trong một
danh mục các tài liệu tiếng Đức thời Trung cổ, đã dịch sang tiếng Anh. “Cháu
cần cái này phải không, cháu yêu?” bác cười hỏi. Bác có một khuôn mặt rất trắng
và sáng thường thấy ở người Hà Lan - đôi mắt xanh màu trời, luôn nhìn thẳng,
tóc dường như chỉ dần nhạt đi so với màu cũ chứ không chuyển thành xám bạc. Ông
bà nội tôi đã mất ở Boston khi tôi hãy còn bé, nhưng tôi nghĩ có lẽ
mình thích có một ông nội như thế. “Bác là Johan Binnerts,” bác nói tiếp. “Cháu
có thể gọi bác bất cứ khi nào cần giúp đỡ gì thêm.”

Tôi đáp đây chính là cuốn sách tôi cần, dank u (1), và bác
vỗ vai tôi trước khi lặng lẽ bước đi. Trong căn phòng vắng tanh, tôi đọc lại
đoạn đầu tiên trong sổ ghi chép của mình:

Năm 1456 sau Công nguyên, Drakula đã có nhiều hành vi kinh
khủng và kỳ dị. Khi được tấn phong làm Lãnh chúa xứ Wallachia, hắn đã ra
lệnh hỏa thiêu tất cả các nam thiếu niên đến lãnh thổ của hắn để học ngôn ngữ,
bốn trăm mạng người cả thảy. Hắn còn hành hình một đại gia đình bằng cách cho
đóng cọc xuyên qua người họ và nhiều thần dân của hắn đã bị lột trần truồng,
chôn sống đến rốn, sau đó bị hành quyết bằng cách bắn tên. Một số khác bị hắn
đem quay sống rồi lột da.

Có một chú thích ở cuối trang đầu. Cỡ chữ ghi chú nhỏ đến độ
tôi suýt không nhìn thấy. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đó là một chú giải về từ impaled
- đóng cọc xuyên qua người. Người ta nói Vlad Ţepeş đã học được hình thức tra
tấn từ người Thổ Nhĩ Kỳ. Kiểu hành hình này là dùng một cọc gỗ nhọn đóng xuyên
dọc qua người, thường từ hậu môn hoặc bộ phận sinh dục lên phía trên, sao cho
cây cọc trổ ra miệng hoặc đâm xuyên qua đỉnh đầu.

Tôi cố gắng không nhìn những con chữ đó một lúc; rồi đóng
sách lại và mất một lúc thật lâu để cố gắng quên chúng đi.

Tuy nhiên, điều ám ảnh tôi nhiều nhất ngày hôm đó, khi đóng
cuốn sổ ghi chép lại khoác áo ra về, không phải là hình ảnh ma quái của
Dracula, hoặc đoạn chú giải mô tả hình phạt đóng cọc, mà là cái sự thực rằng
những sự việc này - rõ ràng - đã thực sự xảy ra. Nếu chú tâm lắng nghe, tôi
nghĩ, hẳn mình sẽ nghe được tiếng thét của những thiếu niên ấy, của cái “đại
gia đình” đang cùng chết với nhau kia. Mặc dù rất chú tâm đến việc giáo dục
lịch sử cho tôi, cha đã bỏ qua không cho tôi biết điều này: những khoảnh khắc
khủng khiếp của lịch sử là có thực. Bây giờ, sau nhiều thập niên, tôi đã hiểu
rằng cha sẽ không bao giờ dạy được cho tôi sự thật đó. Một sự thật như thế thì
chỉ lịch sử mới có thể thuyết phục ta. Và khi đã biết được cái sự thật đó -
thực sự đã nhìn thấy nó - người ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ.

Đêm đó, khi về đến nhà, tôi cảm nhận một sức mạnh quái gở và
đã đến gặp cha ngay lập tức. Ông đang ngồi đọc sách trong thư viện, trong khi
bà Clay loảng xoảng bận rộn với bát đĩa bữa ăn tối trong bếp. Tôi vào thư viện,
khép cánh cửa lại sau lưng, đến đứng trước ghế cha đang ngồi. Cha đang cầm
trong tay một trong những cuốn sách yêu thích của Henry James, dấu hiệu cho
thấy chắc chắn ông đang căng thẳng thần kinh. Tôi đứng yên không nói một lời
cho đến khi cha ngẩng đầu lên. “Chào, con đấy à,” cha nói, vừa tìm thẻ đánh dấu
trang sách vừa mỉm cười. “Bài tập đại số phải không?” Đôi mắt cha trông có vẻ
lo lắng.

“Con muốn cha kể nốt câu chuyện.” Tôi trả lời.

Cha im lặng, nhịp nhịp ngón tay lên thành ghế.

“Tại sao cha không kể tiếp với con?” Đó là lần đầu tiên tôi
cảm thấy mình đang gây phiền hà cho cha. Cha nhìn cuốn sách vừa khép lại. Tôi
biết mình đã tàn nhẫn với cha theo một lối tôi không thể hiểu, nhưng tôi đã
khởi sự cái việc tàn nhẫn của mình rồi, vì vậy phải kết thúc nó. “Cha không
muốn con biết gì hết.”

Rốt cuộc, cha cũng nhìn vào tôi. Khuôn mặt đượm một nỗi buồn
bí hiểm, hằn sâu dưới ánh sáng đèn. “Ừ, đúng vậy.”

“Con biết nhiều hơn cha tưởng,” tôi nói, mặc dù cảm thấy đó
là một nỗ lực trẻ con: khi cha hỏi, tôi sẽ không muốn nói điều mình đã biết.

Cha chắp hai tay dưới cằm. “Cha biết là con biết,” cha nói.
“Và bởi vì con chẳng biết gì cả nên cha sẽ kể cho con nghe hết mọi chuyện.”

Tôi ngạc nhiên, chăm chú nhìn cha. “Vậy thì cha kể đi ạ,”
tôi đanh giọng nói.

Cha lại nhìn xuống. “Cha sẽ kể với con, và sẽ kể ngay khi có
thể. Nhưng không phải lúc này.” Bất chợt cha òa lên, “Ngay bây giờ cha không
thể chịu đựng tất cả những chuyện này được! Hãy kiên nhẫn với cha.”

Vẻ mặt cha hướng về phía tôi là cầu xin, chứ không phải cáo
buộc. Tôi đến bên cha, vòng tay ôm lấy đầu ông đang gục xuống.

Tháng Ba ở Tuscany lạnh giá và gió thổi dữ dội, nhưng cha
nghĩ một chuyến đi ngắn về miền quê ấy là hợp lý, sau bốn ngày đàm phán - tôi
vẫn luôn biết nghề của ông là “đàm phán” - ở Milan. Lần này, tôi không phải yêu
cầu cha dẫn tôi theo. “Florence rất tuyệt vời, đặc biệt vào mùa vắng
khách,” cha nói vào một buổi sáng khi chúng tôi từ Milan lái xe xuống
phía Nam. “Cha muốn con nhìn thấy Florence vào một trong những
ngày này. Trước hết, con sẽ phải học hỏi thêm ít nhiều về hội họa và lịch sử của
thành phố đó, để thực sự cảm thấy thích thú về nó. Nhưng vùng quê Tuscan mới
đích thị là kỳ diệu. Con sẽ thấy - nó sẽ khiến đôi mắt con vừa được nghỉ ngơi
thanh thản vừa khích động háo hức.”

Tôi gật đầu, ngồi vào chiếc xe thuê hiệu Fiat. Tình yêu tự
do của cha rất dễ lây, và tôi thích cái cách cha nới lỏng cà vạt và cổ áo sơ mi
khi chúng tôi hướng về một địa điểm mới. Cha lái chiếc Fiat êm ái chạy trên
đường cao tốc bằng phẳng ở phương Bắc. “Thêm nữa, cũng bao năm rồi cha đã hứa
với bác Massimo và Giulia là sẽ đến. Họ sẽ không bao giờ tha thứ nếu cha đi
ngang qua vùng này mà không ghé thăm họ.” Cha dựa ra sau, duỗi thẳng chân.
“Tính tình họ hơi kỳ lạ - lập dị thì đúng hơn, cha nghĩ vậy, nhưng rất tử tế.
Con sẵn sàng rồi chứ?”

“Con đã nói con sẵn sàng rồi mà,” tôi đáp. Tôi thích được ở
một mình cùng cha hơn là đi thăm viếng người lạ, những người mà sự hiện diện
luôn khơi dậy trong tôi tính nhút nhát bẩm sinh, nhưng cha có vẻ nóng lòng muốn
gặp lại mấy người bạn cũ đó. Dù sao chăng nữa, nhịp rung rung của chiếc Fiat
như ru tôi vào giấc ngủ; tôi đã thấm mệt sau chuyến hành trình bằng tàu hỏa.
Sáng hôm đó tôi đã cảm thấy khó chịu, chứng xuất kinh muộn ngày đáng ngại mà
bác sĩ vẫn luôn lo lắng, vì nó mà bà Clay lúng túng nhét đầy va li tôi một đống
bông băng vệ sinh. Đầu tiên, khi thấy có sự thay đổi này trong phòng vệ sinh
trên tàu hỏa, tôi đã khóc vì ngạc nhiên; tựa như ai đó đã làm tôi bị thương;
vết máu trên chiếc quần lót vải cotton trông giống dấu ngón tay cái của một tên
sát nhân. Tôi không nói gì với cha về việc đó. Các vùng châu thổ dọc dòng sông
và những ngọn đồi trập trùng làng mạc xa xa trở thành một bức tranh kỳ ảo vút
qua cửa kính xe, sau đó mờ dần đi. Đến lúc ăn trưa tôi vẫn còn buồn ngủ. Chúng
tôi dùng bữa trưa ở một thị trấn có rất nhiều quán cà phê và quán rượu tối tăm,
đám mèo hoang lười biếng cuộn mình hoặc uể oải vươn vai quanh các lối dẫn vào
nhà.

Nhưng khi chúng tôi đua cùng bóng chạng vạng để lên đến một
trong số hai mươi thị trấn cao chót vót trên sườn núi và xếp chồng lên nhau
xung quanh chúng tôi như những mô típ trong tranh bích họa, tôi đã cảm thấy
hoàn toàn tỉnh táo. Buổi chiều tà lộng gió và không một áng mây làm lộ ra mảng
hoàng hôn rạn vỡ cuối chân trời - về phía Địa Trung Hải, cha nói, về phía
Gibraltar và những nơi chốn khác mà có thể một ngày nào đó chúng tôi sẽ ghé
thăm. Bên trên chúng tôi là một thị trấn được xây dựng trên những cột đá, đường
phố hầu như thẳng đứng còn ngõ ngách vươn lên cao bằng những bậc tam cấp đá nhỏ
hẹp. Cha lái chiếc xe hơi nhỏ loanh quanh hết nơi này đến nơi kia, có lúc băng
ngang qua cửa một nhà hàng Ý, ánh sáng từ đó tỏa xuống lớp đá cuội ẩm ướt bên
dưới. Sau đó cha cẩn thận quay tay lái xuống sườn đồi bên kia. “Đây rồi, nếu
cha nhớ chính xác.” Cha quẹo xe đi giữa hai hàng bách tùng tối đen vào một con
đường nhỏ đầy vết bánh xe. “Biệt thự Montefollinoco, ở Monteperduto. Thị trấn
Monteperduto. Con nhớ chứ?”

Tôi nhớ. Chúng tôi đã tra bản đồ suốt buổi điểm tâm, cha
dùng một ngón tay dò trên bản đồ qua ly cà phê: “Đây này, Siena. Đích đến
của con đấy. Nó thuộc Tuscany. Vượt qua đó là vào ngayUmbria. Đây là
Montepulciano, một địa điểm cổ xưa nổi tiếng, và trên sườn đồi tiếp đó là thị
trấn của chúng ta, Monteperduto.” Những địa danh chạy ào qua đầu tôi cùng một
lúc, nhưng monte có nghĩa là mountain - núi và chúng tôi đang đi tìm một ngôi
nhà búp bê giữa những ngọn núi mà tính đến nay chúng tôi đã hai lần qua lại,
những ngọn núi phủ thắm sắc màu như những đứa con của dãyAlps.

Trong bóng tối đang dần buông, ngôi biệt thự trông nhỏ bé
như một trang trại thấp lè tè xây bằng đá tảng, những cây bách và ô liu đứng
thành từng cụm bao quanh các mái ngói màu hung đỏ, vài cây cột đá nghiêng đánh
dấu lối đi phía mặt tiền. Cửa sổ tầng một rực sáng ánh đèn, và tôi chợt cảm
thấy đói, mệt mỏi, tràn ngập một cảm giác cáu bẳn kiểu tính khí trẻ con mà hẳn
tôi sẽ phải che giấu trước mặt những vị chủ nhà. Cha lấy hành lý ra khỏi xe rồi
tôi theo chân cha bước tới. “Cả cái chuông cũng còn đây,” cha buột miệng, vẻ
hài lòng, kéo một đoạn dây thừng ngắn bên cạnh lối ra vào và vuốt mái tóc ngược
ra sau trong bóng tối.

Người đàn ông ra mở cửa xuất hiện như một cơn lốc, ôm chầm
và vỗ đồm độp lên lưng cha, thắm thiết hôn lên hai má cha, rồi một cách hơi xa
lạ, khẽ cúi xuống bắt tay tôi. Ông đặt bàn tay rộng và ấm lên vai tôi, dẫn tôi
vào nhà. Trong phòng tiền sảnh giờ đã dịu bớt ánh đèn và đầy đồ gỗ cổ, ông rống
lên. “Giulia! Giulia! Nhanh lên! Rồng đến nhà tôm đây này! Ra đây đi!” Giọng
Anh của ông thật dữ dội và quả quyết, mạnh mẽ và ầm ĩ.

Người phụ nữ cao lớn tươi cười bước vào khiến tôi có thiện
cảm ngay. Mái tóc đã ngả màu xám nhưng lóng lánh ánh bạc, kẹp gọn ra phía sau
để lộ một khuôn mặt dài. Bà mỉm cười với tôi trước nhưng không cúi xuống để
chào đón. Bàn tay bà ấm áp, giống như tay ông chồng, bà cũng hôn lên hai má
cha, lắc đầu trong khi dịu dàng tuôn một tràng tiếng Ý. “Còn cháu,” bà nói với
tôi bằng tiếng Anh, “phải có một phòng riêng cho cháu, một phòng thật ngon
lành, được chứ?”

“Dạ được,” tôi đồng ý, nghe có vẻ thích, hy vọng phòng này
sẽ ở gần phòng cha và sẽ nhìn ra vùng thung lũng xung quanh, nơi chúng tôi vừa
mới vất vả chạy ngược lên từ đó.

Sau bữa ăn tối trong phòng ăn có tường ốp đá, tất cả người
lớn đều dựa người ra sau thở phào. “Giulia này,” cha lên tiếng, “mỗi năm cô lại
nấu nướng một ngon hơn đấy. Một trong các đầu bếp tuyệt vời của nước Ý.”

“Paulo, anh lại nói vớ vẩn nữa rồi.” Tiếng Anh của bà toát
ra âm hưởng Oxford và Cambridge. “Anh toàn nói nhăng nói cuội.”

“Chắc là do rượu Chianti đấy. Cho tôi xem lại cái chai nào.”

“Để tôi rót cho anh ly nữa,” ông Massimo xen vào. “Còn cháu
đang theo học ngành gì thế, cháu yêu?”

“Cháu học đủ mọi môn ở trường,” tôi nghiêm nghị trả lời.

“Cháu nó thích môn lịch sử, tôi nghĩ vậy,” cha nói thêm với
họ. “Cháu rất có khiếu quan sát.”

“Lịch sử à?” Massimo lại rót đầy ly của Giulia, rồi ly của
mình, thứ rượu vang màu hồng ngọc, hay đỏ sậm như máu. “Giống anh và tôi rồi,
Paolo. Bọn ta đã đặt tên này cho cha cháu đấy,” ông quay sang tôi giải thích,
“bởi bọn ta không chịu nổi mấy cái tên Anglo nhạt nhẽo như của cháu và cha
cháu. Xin lỗi, chỉ là ta không thể chịu nổi. Ông bạn Paolo à, anh biết tôi có
thể lăn đùng ra chết khi nghe tin anh từ bỏ cuộc sống trong học viện để đi
thương thuyết khắp nơi trên thế giới(2). Như vậy là anh ta thích nói hơn thích
đọc, tôi đã tự nhủ như vậy. Một học giả vĩ đại đã trao mình cho thế giới, người
đó chính là cha cháu.” Ông rót cho tôi nửa ly vang mà không buồn hỏi ý kiến cha
rồi thêm vào đó một ít nước trong bình để trên bàn. Lúc này tôi mới thấy quý
ông ấy.

“Anh lại nói linh tinh rồi,” cha nói, giọng có vẻ thỏa mãn,
“Tôi thích đi đây đó, và đó chính là sở thích của tôi.”

“Chà.” Ông Massimo lắc đầu. “Và anh, thưa ngài giáo sư, anh
từng nói mình sẽ trở thành người giỏi nhất trong tất cả bọn họ. Chẳng phải quỹ
tài trợ do anh thành lập là một thành công tuyệt vời hay sao, tôi biết mà.”

“Chúng ta cần hòa bình và sự khai sáng trong lĩnh vực ngoại
giao, chứ không phải thêm những nghiên cứu về mấy vấn đề nhỏ nhặt chẳng ai quan
tâm,” cha chống chế và mỉm cười. Bà Giulia thắp ngọn đèn lồng trên tủ buýp phê
rồi tắt đèn điện. Bà đặt ngọn đèn ấy trên bàn và bắt đầu cắt chiếc bánh torta
mà nãy giờ tôi cố không nhìn một cách đầy thèm muốn. Lớp mặt bánh lấp lánh như
đá vỏ chai bên dưới con dao cắt.

“Trong lịch sử, không có những vấn đề nhỏ nhặt.” Ông Massimo
nháy mắt với tôi. “Vả lại, ngay cả thầy Rossi vĩ đại cũng nói anh là sinh viên
xuất sắc nhất. Còn cả đám còn lại chúng tôi khó ai có thể làm ông ta hài lòng.”

“Thầy Rossi ư?”

Cái tên đó buột ra khỏi miệng mà tôi không kịp ngăn lại. Qua
phần bánh của mình, cha lườm tôi, vẻ khó chịu.

“Vậy cháu biết huyền thoại về những thành công của cha cháu
trong lĩnh vực học thuật chứ, cô gái trẻ?” Ông Massimo tọng vào mồm miếng bánh
sô cô la to tướng.

Cha lại ném cho tôi một cái lườm khác. “Tôi đã kể cho cháu
nghe vài chuyện về những ngày đó,” cha nói. Tôi hiểu cái ý ngầm cảnh cáo trong
giọng cha. Tuy nhiên, một lát sau, tôi nghĩ ý đó có thể được hướng trực tiếp
tới ông Massimo, chứ không phải tôi, bởi lời bình luận tiếp theo của ông
Massimo đã khiến tôi phải rùng mình, trước khi cha kịp đánh trống lảng bằng
cách nhanh chóng chuyển hướng qua những vấn đề chính trị.

“Thầy Rossi tội nghiệp,” ông Massimo thốt lên. “Một con
người tuyệt vời với số phận bi thảm. Thật kỳ lạ khi nghĩ về ai đó mà chính mình
từng quen biết lại có thể bỗng nhiên - bụp - biến mất.”

Sáng hôm sau, chúng tôi ngồi tại quảng trường ngập nắng trên
đỉnh thị trấn, áo khoác cài chặt nút và những tập sách hướng dẫn du lịch trong
tay, nhìn hai cậu bé, có lẽ cũng như tôi, hãy còn ở tuổi đến trường. Chúng la
hét và chuyền bóng qua lại cho nhau trước nhà thờ, còn tôi chỉ kiên nhẫn chờ
đợi. Tôi đã chờ cả buổi sáng, chờ suốt lúc tham quan các nhà nguyện nhỏ tăm tối
“có những yếu tố Brunelleschi,” theo lời tay hướng dẫn viên thiếu kiến thức mặt
mày ủ ê, và dinh thự Palazzo Pubblico với căn phòng tiếp tân mà hàng thế kỷ qua
đã được trưng dụng làm kho chứa thóc. Cha thở dài, đưa cho tôi một chai nước vị
hoa quả Orangina, hình dạng cầu kỳ. “Con định hỏi cha chuyện gì phải không?”
cha nói giọng thoáng chút rầu rĩ.

“Không, con chỉ muốn biết về giáo sư Rossi.” Tôi đút ống hút
vào chai Orangina.

“Cha cũng nghĩ vậy. Ông Massimo thật thiếu tế nhị khi khơi
lại câu chuyện đó.”

Dù sợ hãi khi nghĩ đến câu trả lời nhưng tôi vẫn phải hỏi.
“Có phải giáo sư Rossi đã chết không? Có phải đó là điều ông Massimo ngụ ý khi
dùng từ biến mất?”

Cha nhìn qua quảng trường ngập đầy ánh nắng, đến quán cà phê
và cửa hàng thịt ở phía bên kia. “Đúng. Mà không. Ừm, đó là một chuyện rất
buồn. Con thực sự muốn nghe sao?”

Tôi gật đầu. Cha liếc nhanh chung quanh. Chúng tôi ngồi trên
một ghế đá dài, đặt bên ngoài một trong những dinh thự cổ xinh đẹp, không có ai
ngoài các cậu bé đang chạy nhảy thoăn thoắt trên quảng trường. Cuối cùng cha
cũng thốt lên, “Thôi được.”

Chú thích:

1. Tiếng Hà Lan trong nguyên tác: cảm ơn bác.

2. Nguyên văn: parley-vous, viết nhại tiếng Pháp - Parlez
vous - ám chỉ làm nghề ngoại giao.

Báo cáo nội dung xấu