Truy tìm Dracula - Chương 13 phần 1
Chương 13
Chuyến du hành kế tiếp lại đưa chúng tôi trở lại phía Đông,
bên kia rặng Julian Alps. Thành phố bé nhỏ Kostanjevica, “thành phố cây
hạt dẻ”, quả thực đang ngập tràn hạt dẻ vào mùa này trong năm, vài quả còn rụng
dưới chân, vì vậy nếu không để ý khi bước trên những con đường rải đá cuội, bạn
có nguy cơ trượt chân ngã dập mặt. Phía trước tòa thị chính, nơi thoạt tiên
được xây dựng làm nơi trú ngụ của một quan chức Áo-Hung, những hạt dẻ trong lớp
vỏ nhăn nheo xấu xí vương vãi khắp nơi như một bầy nhím nhỏ.
Cha cùng tôi thơ thẩn tản bộ, thưởng thức một buổi chiều thu
ấm áp - theo ngôn ngữ địa phương, được gọi là mùa hè Gypsy, một phụ nữ đứng coi
cửa hàng cho chúng tôi biết như vậy - và tôi liền nghĩ đến những dị biệt giữa
thế giới phương Tây, cách đây vài trăm cây số, và thế giới phương Đông này, chỉ
xuôi về phía Nam Emona một chút. Ở đây, mọi thứ trong các cửa hàng đều trông
giống nhau, các nhân viên cửa hàng cũng vậy, hình như họ hoàn toàn y chang
nhau, đều mặc áo khoác lao động màu xanh lam sẫm và đeo khăn quàng cổ in hoa,
những chiếc răng vàng hoặc thép không tì vết lấp lánh trước mặt chúng tôi, từ
đằng sau quầy hàng trống trơn hết một nửa. Chúng tôi mua một thanh sô cô la
thật lớn để dùng cho bữa ăn ngoài trời với xúc xích salami xắt lát, bánh mì nâu
và pho mát, cha cũng không quên mang theo những chai Naranca ưa thích của tôi,
thứ nước cam làm tôi nhớ đến Ragusa, Emona, Venice.
Buổi họp cuối cùng tại Zagreb, Croatia đã kết
thúc một ngày trước khi tôi hoàn thành những nét chỉnh sửa hoa mỹ cuối cùng cho
bài tập lịch sử của mình. Lúc đó, cha muốn tôi học tiếng Đức, và tôi rất hào
hứng, không phải do bị cha thúc ép vì dù cha không thúc thì tôi cũng vẫn muốn
học như thường; tôi muốn bắt đầu ngay ngày mai, bằng một cuốn sách mua ở hiệu
sách ngoại văn tại Amsterdam. Tôi mặc váy ngắn mới màu xanh, đi tất dài vàng,
cha mỉm cười nhớ lại một câu đùa khó hiểu hai nhà ngoại giao nọ nói với nhau
sáng hôm đó, và những chai nước cam Naranća khua lanh canh trong túi lưới. Phía
trước chúng tôi là một cây cầu đá thấp nằm vắt ngang sông Kostan. Tôi vội vã
chạy đến đó để nhìn ngắm trước tiên, muốn được thưởng thức khoảnh khắc đó một
mình, thậm chí không muốn có cha bên cạnh.
Gần sát bên cầu, dòng sông lượn ra xa khỏi tầm nhìn, ở khúc
quanh ấy thấp thoáng một lâu đài nhỏ, một lâu đài kiểu Đông Âu chỉ bằng cỡ một
biệt thự, dưới chân có đàn thiên nga bơi lội hoặc đứng rỉa lông trên bờ sông.
Lúc tôi đang ngắm nhìn, một phụ nữ mặc áo choàng xanh mở cửa sổ mắt cáo trên
lầu, đẩy cánh cửa ra phía ngoài, tấm kính sáng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời,
rũ bụi miếng vải lau sàn. Bên dưới cầu, những cây liễu non mọc bên nhau san sát
và lũ chim nhạn bay ra bay vào trên doi đất nhô ra sông. Trong sân vườn lâu
đài, tôi nhìn thấy chiếc ghế đá dài (không nằm quá gần những con thiên nga,
những con vật mà đến tận bấy giờ, mười mấy tuổi đầu rồi, tôi vẫn sợ), những cây
hạt dẻ nghiêng mình bên trên, bức tường thành lâu đài cũng phủ bóng mát lên
chiếc ghế. Bộ com lê sạch sẽ của cha hẳn sẽ được an toàn ở đấy, cha có thể ngồi
lâu hơn dự định và nói chuyện thoải mái hơn.
Lần nào miệt mài với những lá thư này trong căn hộ của mình,
cha chùi những vết xúc xích salami bằng một chiếc khăn tay vải và bắt đầu kể,
một chuyện gì đó nằm ngoài toàn bộ vụ mất tích bi thảm của thầy Rossi cũng cứ
dằn vặt đầu óc cha. Khi đặt lá thư kể lại chi tiết về tai nạn khủng khiếp xảy
ra với anh bạn Hedges của thầy Rossi xuống, trong một thoáng, cha cảm thấy
không đủ khỏe để suy nghĩ rõ ràng. Cha đã rơi vào một thế giới bệnh hoạn, cõi
âm ty của cái thế giới hàn lâm mà cha đã quen thuộc bao năm qua, tìm thấy ý
nghĩa ẩn sâu trong lịch sử bình thường mà lâu nay cha vẫn mặc nhiên chấp nhận.
Với kinh nghiệm nghiên cứu sử của cha, những người chết không thể sống lại,
những nỗi kinh hoàng thời Trung cổ là do con người gây ra, chứ không phải do
những thế lực siêu nhiên, Dracula là một huyền thoại đầy màu sắc của vùng Đông
Âu, hồi sinh nhờ những bộ phim Hollywood vẫn gắn liền với tuổi thơ cha, và năm
1930 là ba năm trước khi Hitler thâu tóm chính quyền độc tài tại Đức, đó mới là
nỗi kinh hoàng lớn đến nỗi chắc chắn đã ngăn chặn mọi quyền lực kinh hoàng
khác.
Vì vậy, trong một thoáng cha cảm thấy mình không được khỏe,
tinh thần suy sụp, giận người thầy mất tích đã truyền lại cho cha những ảo
tưởng khủng khiếp này. Nhưng sau đó giọng điệu nhẹ nhàng đầy hối tiếc trong các
lá thư của ông lại tác động lên cha, và cha lại cảm thấy ân hận vì ý nghĩ bất
trung vừa qua của mình. Thầy Rossi phải dựa vào cha - chỉ một mình cha; nếu cha
từ chối không tin vì một nguyên tắc mô phạm nào đó, chắc chắn cha sẽ không bao
giờ được gặp lại ông ấy.
Và còn một điều nữa đang dằn vặt cha. Khi đầu óc đã sáng
suốt hơn một chút, cha nhận ra đó là ký ức về người phụ nữ trẻ mà cha đã gặp
tại thư viện, cha mới gặp cô ta vài giờ trước đó nhưng có cảm tưởng như phải
vài ngày rồi. Cha nhớ lại ánh mắt kỳ lạ của cô ta khi nghe cha giải thích về
các lá thư của thầy Rossi, cau mày như đàn ông khi chú ý tập trung tinh thần.
Tại sao cô ta lại đọc về Dracula, ngay tại chính chiếc bàn của cha, ngay chiều
tối hôm đó, ngay sát bên cha? Tại sao cô ta đề cập đến Istanbul? Cha đã đủ nhức
đầu với những gì đã đọc trong những lá thư của thầy Rossi nên tạm gác mối hoài
nghi của mình lại và bác bỏ ý niệm về sự trùng hợp để chọn một lý giải nào đó
thuyết phục hơn. Và tại sao không? Nếu cha đã thừa nhận một thế lực siêu nhiên,
đương nhiên cha sẽ phải thừa nhận nhiều điều siêu nhiên khác; đây chỉ là vấn đề
logic.
Cha thở dài, cầm lá thư cuối cùng của thầy Rossi lên. Sau
khi xem xong lá thư này cha chỉ cần xem lại các tư liệu khác còn giấu kín trong
chiếc phong bì xoàng xĩnh kia, rồi sau đó tự lo. Dù sự xuất hiện của cô gái kia
có bất kỳ ý nghĩa gì - chắc hẳn cũng không mang ý nghĩa nào bất thường, đúng
không nhỉ? - thì cha cũng chưa có thời gian để tìm hiểu cô ta là ai hoặc lý do
vì sao cô ta lại chia sẻ mối quan tâm đến chuyện bí ẩn này. Thực là kỳ quặc khi
nghĩ bản thân cha là người thích thú những chuyện bí ẩn; cha không phải người
như thế, không một mảy may, phải nói thẳng như vậy. Cha chỉ quan tâm đến việc
phải tìm ra thầy Rossi.
Lá thư cuối cùng, không giống các thư khác, được viết tay -
trên giấy tập học trò, bằng mực đen. Cha mở lá thư.
Ngày 19 tháng Tám năm 1931
Người kế thừa thân mến và bất hạnh của tôi:
Chà, tôi có thể giả vờ cho rằng có thể bạn đang ở đâu đó
ngoài kia, chờ đợi để ra tay cứu giúp nếu một ngày nào đó đời tôi bỗng nhiên
sụp đổ. Và bởi vì tôi còn một ít thông tin để bổ sung những gì bạn vẫn (cứ cho
là vậy) theo đuổi, tôi cảm thấy cần phải châm cho tràn đầy chiếc bình cay đắng
này. “Học hỏi không đến nơi đến chốn là một việc nguy hiểm,” anh bạn Hedges đã
trích dẫn như vậy. Nhưng bây giờ anh đã mất, và chắc chắn anh đã mất là tại
tôi, tựa như tôi đã mở tung cánh cửa phòng làm việc của mình, chính tay tung ra
một đòn chết người, sau đó la lên cầu cứu. Lẽ tất nhiên, tôi không làm việc đó.
Nếu đã đồng ý đọc đến đây, bạn sẽ không nghi ngờ gì lời nói của tôi.
Nhưng cuối cùng tôi đã nghi ngờ sức mạnh của chính mình, vài
tháng trước đây, tôi đã hành động như vậy vì những lý do có liên quan đến cái
kết cục kinh khủng và thật đáng phẫn nộ của Hedges. Tôi đã trốn chạy thẳng từ
rìa mộ của anh đến Hoa Kỳ - gần đúng theo nghĩa đen là vậy; tôi đã thực sự được
bổ nhiệm và vào cái ngày đến Dorset để thăm viếng nơi anh an nghỉ, tôi đang thu
xếp hành lý rồi. Sau khi lên đường sang Hoa Kỳ, làm thất vọng một vài người ở
Oxford và khiến song thân mình rất buồn lòng, e là thế, tôi chợt thấy mình
trong một thế giới mới sáng sủa hơn, nơi mà học kỳ bắt đầu sớm hơn (tôi đã được
phân công giảng dạy ba lớp và sẽ phấn đấu để có thêm giờ dạy), và các sinh viên
có quan điểm cởi mở và thực tế, một đặc tính còn xa lạ tại Oxford. Nhưng thậm chí
sau tất cả những chuyện này, tôi không thể rũ bỏ hoàn toàn mối liên hệ của mình
tới con ma cà rồng đó. Hậu quả là, dường như, hắn - Nó - không thể tự quên tôi.
Bạn hẳn còn nhớ vào đêm Hedges bị tấn công, tôi đã bất ngờ
khám phá ra ý nghĩa của hình vẽ khắc gỗ giữa cuốn sách báo điềm gở của mình, và
đã tự mình xác định được Hầm Mộ Tội Lỗi ghi trên các tấm bản đồ mà tôi phát
hiện tại Istanbul cũng chính là mộ của Vlad Dracula. Tôi đã hét to cái thắc mắc
còn lại này của mình - vậy thì, mộ của hắn ở đâu? - như đã thốt lên trong trung
tâm lưu trữ tư liệu ở Istanbul, và lần hét to thứ hai này đã triệu đến một sự
hiện diện khủng khiếp, cảnh cáo tôi bằng mạng sống của một người bạn thân. Có
lẽ chỉ một bản ngã không bình thường mới tự mình đối đầu với những sức mạnh tự
nhiên - trong trường hợp này lại là những sức mạnh phi tự nhiên - nhưng tôi thề
với bạn là sự trừng phạt này đã khiến tôi nổi giận, vượt khỏi nỗi sợ hãi, suốt
một thời gian, tôi đã thề phải tìm cho ra đến manh mối cuối cùng và, nếu còn đủ
sức, truy lùng kẻ truy lùng tôi đến tận hang ổ của hắn. Đối với tôi, ý tưởng lạ
lùng này trở nên bình thường như mong muốn được công bố bài viết kế tiếp của
mình, hay có một chỗ đứng thường xuyên tại trường đại học mới lạ và vui vẻ này,
nơi đang đòi hỏi trái tim mệt mỏi của tôi.
Sau khi đã thích nghi ổn định với lịch giảng dạy và nghiên
cứu, chuẩn bị một chuyến đi ngắn ngày về nước Anh vào cuối học kỳ để thăm cha
mẹ và chuyển luận án tiến sĩ của mình cho một tờ báo ở Luân Đôn, nơi đang ngày
một o bế tôi, một lần nữa tôi lại lần theo dấu vết của Vlad Dracula, dù hắn quả
thực có là bất cứ thứ gì đi nữa, một nhân vật có thực trong lịch sử hay một thế
lực siêu nhiên. Đối với tôi, có vẻ như nhiệm vụ kế tiếp là tìm hiểu nhiều hơn
về cuốn sách cổ kỳ lạ đó: nó từ đâu đến, ai là tác giả, ra đời đã bao lâu. Tôi
giao cuốn sách (một cách miễn cưỡng, phải thừa nhận như vậy) cho phòng thí
nghiệm Viện Smithsonian. Ở đó người ta đã lắc đầu với các câu hỏi đặc biệt của
tôi và gợi ý rằng việc tham khảo và tra cứu sử dụng đến những nguồn lực ngoài
phương tiện hiện có của họ có thể khiến tôi tốn kém nhiều hơn. Nhưng là kẻ cứng
đầu, tôi nghĩ không một đồng xu nào thừa hưởng từ ông tôi, hoặc số tiền dành
dụm ít ỏi từ thời gian làm việc ở Đại học Oxford nên bị ném vào việc may sắm áo
quần, hoặc ăn uống hoặc giải trí trong lúc Hedges, người bạn của tôi đang nằm
đó (nhưng, ơn Chúa, trong an bình) tại một nghĩa trang mà chưa được trả thù, và
có lẽ phải năm mươi năm nữa tôi mới nhìn thấy lại quan tài của anh. Tôi không
còn e sợ hậu quả nữa vì điều tệ hại nhất có thể tưởng tượng đã xảy ra với tôi
rồi; về mặt này, ít nhất, các thế lực hắc ám đã tính toán sai lầm.
Nhưng không phải tính tàn bạo của điều xảy ra sau đó đã làm
tôi nghĩ khác, đồng thời nhận thức được ý nghĩa trọn vẹn của sự sợ hãi. Mà
chính là vẻ khác thường của nó.
Cuốn sách của tôi được xử lý tại Viện Smithsonian, dưới tay
một anh chàng nhỏ thó tên Howard Martin, một con người tuy lầm lì nhưng đã tận
tình xem xét trường hợp của tôi tựa như đã biết toàn bộ câu chuyện. (Không -
khi nghĩ lại, nếu biết toàn bộ câu chuyện, có thể anh ta đã tống cổ tôi ra khỏi
cửa ngay từ lần gặp đầu tiên). Nhưng dường như anh ta nhận ra tôi chỉ là một
người đam mê lịch sử, nên anh ta thông cảm và cố sức giúp tôi. Anh làm rất tốt
và tận tình, so sánh những gì mà phòng thí nghiệm chuyển đến với sự cẩn trọng
có thể làm Oxford thấy vinh hạnh hơn là mấy văn phòng bảo tàng quan liêu ở
Washington đó. Tôi rất ấn tượng, càng ấn tượng hơn trước vốn hiểu biết của anh
về công nghệ làm sách tại Âu châu vào những thế kỷ trước và sau thời
Gutenberg(1).
Khi dường như đã làm mọi chuyện có thể, anh viết thư báo cho
tôi biết có thể nhận kết quả, và sẽ tận tay trả sách lại cho tôi, như trước đó
tôi đã tận tay trao nó cho anh, nếu tôi không muốn nó được chuyển theo đường
bưu điện lên miền Bắc. Sáng hôm sau, tôi đáp xe lửa xuống phía Nam, ngắm nhìn
phong cảnh trên đường đi, rồi xuất hiện ở cửa phòng làm việc của anh mười phút
trước giờ hẹn. Tim đập mạnh, miệng khô khốc, tôi nôn nóng muốn được cầm lại
cuốn sách ấy trên tay và tìm hiểu xem anh đã biết được gì về nguồn gốc của nó.
Martin ra mở cửa, khẽ mỉm cười chào và dẫn tôi vào phòng.
“Tôi mừng vì anh đã đến,” anh nói tiếng Mỹ bằng một giọng mũi đều đều, nhưng
với tôi đó là lời đón chào thân tình nhất thế giới.
Khi đã yên ổn trong phòng làm việc đầy ắp các bản chép tay
của anh, tôi nhận ra mình đang ngồi ngay trước mặt anh và lập tức cảm thấy sốc
vì sự thay đổi sắc diện của anh. Vài tháng trước tôi đã có một cuộc gặp gỡ ngắn
với anh và còn nhớ rõ gương mặt anh lúc ấy, trong những bức thư rõ ràng và
chuyên nghiệp gửi cho tôi không có dấu hiệu gì cho thấy bệnh tật hay đau yếu.
Hiện tại, trông anh buồn rầu và xanh xao, hốc hác, nước da bủng vàng, cặp môi
đỏ bầm một cách bất thường. Anh đã gầy đi rất nhiều, bộ veston cũ trông lụng
thụng, ôm hờ hững trên bờ vai gầy guộc. Anh ngồi hơi khom người tới trước, như
thể một cơn đau nào đó hoặc sự ốm yếu đã làm anh không ngồi thẳng được. Có vẻ
như anh đã cạn kiệt sức sống.

