Truy tìm Dracula - Chương 25 phần 1

Chương 25

Đối với tôi, ga tàu hỏa Amsterdam là một quang
cảnh quen thuộc - tôi đã đi ngang qua đây hàng chục lần, nhưng chưa bao giờ đến
đó một mình. Tôi chưa bao giờ một mình đi đến bất kỳ nơi chốn nào, và lúc ngồi
trên băng ghế chờ chuyến tàu sáng tốc hành đi Paris, tôi thấy tim mình đập dồn
dập không hẳn vì hồi hộp lo âu cho cha, mà vì trong tôi cuồn cuộn dâng lên
nguồn nhựa sống đến từ khoảnh khắc hoàn toàn tự do đầu tiên tôi biết tới trong
đời. Ở nhà, bà Clay hẳn đang rửa chén bát sau bữa điểm tâm và nghĩ rằng tôi
đang trên đường đến trường. Barley chắc chắn đã khăn gói ra bến cảng và cũng
nghĩ tôi đang đi học. Tôi ân hận vì đã lừa dối bà Clay tử tế nhưng cứng nhắc
kia, và cảm thấy khá nuối tiếc vì phải chia tay Barley, anh đã bất ngờ lịch
thiệp hôn lên tay tôi nơi ngưỡng cửa nhà và tặng tôi một thanh sô cô la dù tôi
đã bảo là có thể mua bánh kẹo xứ Hà Lan này bất kỳ lúc nào tôi thích. Tôi nghĩ
có lẽ mình sẽ viết thư cho anh, khi tất cả những rắc rối này chấm dứt - nhưng
đó là việc xa vời, tôi không thể đoán trước được.

Lúc này, bình minh Amsterdam đã lung linh lấp lánh
biến hóa quanh tôi. Thậm chí sáng hôm nay tôi còn mơ hồ nhận ra chút cảm giác
khuây khỏa trong khi đi bộ dọc theo con kênh đào từ nhà đến ga xe lửa, trong
mùi thơm của bánh mì nướng và mùi ẩm ướt của những dòng kênh, vẻ tất bật nhưng
tươm tất, dù không hoàn toàn thanh nhã, của mọi thứ. Ngồi trên một ghế dài
trong nhà ga, tôi kiểm tra lại hành lý của mình: quần áo để thay, những lá thư
của cha, bánh mì, pho mát, những hộp nước trái cây lấy ở nhà bếp. Tôi cũng chôm
được khá nhiều tiền đi chợ - nếu bất nhẫn hơn, tôi đã lấy cả hai mươi đồng - để
bổ sung cho số tiền trong ví. Việc này sẽ làm bà Clay nhanh chóng để ý cảnh
giác, nhưng chẳng còn cách nào khác - tôi không thể nấn ná chờ đến giờ nhà băng
mở cửa để rút tiền từ cái tài khoản tiết kiệm nhỏ nhoi trẻ con của mình. Tôi
mang theo một chiếc áo len ấm dài tay và áo mưa, hộ chiếu, một cuốn sách để đọc
trong những chuyến hành trình dài bằng xe lửa, và cuốn tự điển tiếng Pháp loại
bỏ túi.

Tôi còn lấy trộm một thứ khác nữa. Trong phòng khách tại
nhà, tôi lấy trộm một con dao găm bạc trong tủ chứa những vật kỷ niệm quý hiếm
có từ những chuyến đi công cán ngoại giao đầu tiên của cha ở những xứ sở xa
xôi, những chuyến đi mang theo những nỗ lực sơ khởi nhằm thiết lập quỹ tài trợ
của cha. Thời đó tôi còn quá nhỏ, không theo cha được, nên ông phải để tôi ở
lại Mỹ với những người bà con họ hàng khác. Con dao sắc bén kỳ lạ, cán dao có
khắc chạm trang trí. Vỏ dao cũng có rất nhiều hình chạm khắc tinh vi. Đây là
loại vũ khí duy nhất mà tôi thấy trong nhà - cha không thích súng, và sở thích
sưu tầm của ông không bao gồm các loại đao kiếm hoặc rìu chiến. Dù không biết
phải tự vệ như thế nào với con dao nhỏ này, nhưng tôi cảm thấy an tâm hơn khi
biết nó đang hiện diện trong xắc tay của mình.

Khi chuyến tàu tốc hành tới, ga tàu đông nghẹt người. Lúc đó
tôi thấy, và bây giờ vẫn vậy, rằng không có niềm vui nào giống như niềm vui lúc
tàu đến, dù tâm trạng của bạn có đang rối ren như thế nào - đặc biệt là một con
tàu châu Âu, và nhất là một chuyến tàu châu Âu đưa bạn về phương Nam. Quãng
thời gian này trong cuộc đời tôi, vào những năm cuối thập niên 70, tôi đã được
nghe tiếng còi của một số đầu máy hơi nước cuối cùng còn sót lại chạy qua rặng
Alps theo một hành trình đều đặn. Rồi tôi lên tàu, tay nắm chặt cặp sách, gần
như mỉm cười. Trước mắt tôi giờ là hàng giờ đồng hồ rảnh rỗi, và tôi sẽ cần đến
chúng, không phải để đọc sách, mà để nghiền ngẫm một lần nữa những lá thư quý
báu của cha. Tôi tin rằng mình đã chọn đúng hướng, nhưng cũng cần phải suy nghĩ
tại sao lại đúng.

Tìm được một cabin yên tĩnh, tôi kéo tấm màn ngăn lối đi bên
cạnh ghế ngồi của mình, hy vọng không có ai dõi theo mình đến nơi này. Một lát
sau, một phụ nữ trung niên, mặc áo khoác xanh, đầu đội mũ bước vào, mỉm cười
chào tôi và ngồi xuống ghế với một xấp tạp chí Hà Lan. Từ góc ngồi thoải mái
của mình, ngắm nhìn thành phố cổ kính rồi đến những khu ngoại ô nhỏ bé một màu
xanh ngát lùi dần về phía sau, tôi lại mở lá thư đầu tiên của cha. Lúc này tôi
đã thuộc nằm lòng những câu mở đầu, nét chữ gây xúc động, ngày tháng và nơi
chốn gây sửng sốt, những dòng chữ viết vội vàng mà cứng cáp của cha.

“Con gái thương yêu của cha:

“Nếu con đang đọc lá thư này, thì hãy tha thứ cho cha. Cha
đang đi tìm mẹ con. Nhiều năm qua cha tin rằng mẹ con đã chết, nhưng hiện tại
niềm tin đó không còn vững chắc nữa. Tình trạng mập mờ này thậm chí tồi tệ hơn
nỗi đau thương, một ngày nào đó con sẽ hiểu điều này; nó đã dằn vặt tâm can cha
cả ngày lẫn đêm. Cha chưa bao giờ nói cho con biết nhiều về mẹ con, cha biết
đây là do sự yếu đuối của cha, nhưng câu chuyện của cha và mẹ con đau lòng đến
độ cha không thể dễ dàng kể lại cho con nghe. Cha luôn có ý định sẽ kể với con
nhiều hơn khi con khôn lớn hơn và có thể hiểu tường tận hơn mà không kinh sợ -
mặc dù cho đến bây giờ, chuyện xảy ra đã khiến cha rất sợ hãi, nỗi sợ bất tận,
đến mức trở thành lý do tội nghiệp nhất trong các lý do mà cha có thể biện minh
cho bản thân mình trong chuyện này.

“Trong vài tháng gần đây, cha đã cố gắng bù đắp cho sự yếu
đuối của mình bằng cách kể con nghe từng chút một những gì có thể về quá khứ
của chính cha, cũng như đã có ý định dần dần đưa mẹ con vào câu chuyện, mặc dù
mẹ đã bước vào cuộc đời cha một cách khá bất ngờ. Bây giờ cha e rằng không còn
kịp thu xếp để kể với con hết những gì con phải biết về di sản của con, trước
khi cha bị buộc phải im lặng - theo đúng nghĩa đen, không còn khả năng đích
thân thông tin cho con biết được - hoặc một lần nữa trở thành con mồi cho chính
sự im lặng của mình.

“Cha đã mô tả sơ qua với con về cuộc sống của cha khi còn là
một nghiên cứu sinh, trước khi con ra đời, cũng như đã kể cho con biết chút ít
về trường hợp mất tích bí ẩn của vị giáo sư hướng dẫn cha, sau khi ông ấy tiết
lộ câu chuyện với cha. Cha cũng đã kể cho con nghe cuộc gặp gỡ của cha với một
phụ nữ trẻ tên Helen, người cũng quan tâm không kém gì cha, có thể còn quan tâm
nhiều hơn, đến việc tìm kiếm thầy Rossi. Cha đã cố gắng kể ra câu chuyện này
với con khi có bất kỳ cơ hội nào thuận tiện, nhưng bây giờ cha bắt đầu cảm thấy
phải viết ra phần còn lại, ghi lại chuyện này rạch ròi trên giấy trắng mực đen.
Nếu lúc này con phải đọc thay vì nghe cha kể lại nó trên một đỉnh núi đá hoặc
một quảng trường thanh vắng, ở một bến cảng kín đáo hay bên chiếc bàn ấm cúng
trong một quán cà phê nào đó, thì đó là do lỗi của cha trước đây đã chưa kịp kể
lại cho con nghe một cách trọn vẹn và sớm hơn.

“Khi viết lá thư này, cha đang nhìn ra ngoài trời, nhìn
những ngọn đèn trong một bến cảng cổ xưa - còn con đang vô tư yên ngủ trong căn
phòng kế bên. Cha mệt mỏi sau một ngày làm việc, và mệt mỏi khi nghĩ đến việc
phải bắt đầu kể ra câu chuyện dài dòng này - một bổn phận đau buồn, một sự
phòng ngừa bất hạnh. Cha cảm thấy mình chỉ có vài tuần, cùng lắm là vài tháng,
để đích thân kể tiếp câu chuyện, vì vậy cha sẽ không nhắc lại tất cả những gì
cha đã kể với con trong suốt những chuyến đi đến nhiều đất nước vừa qua. Sau
khoảng thời gian này - vài tuần hay vài tháng ấy - cha không còn nói chắc được
nữa. Những lá thư này là sự bảo đảm của cha để con khỏi đơn độc. Trong trường
hợp tồi tệ nhất, con sẽ thừa hưởng ngôi nhà, tiền bạc, đồ đạc và sách vở của
cha, nhưng cha có thể dễ dàng tin rằng con sẽ nâng niu gìn giữ những tài liệu
này, những tài liệu mà cha sở hữu hơn bất kỳ những gì khác, bởi chúng sẽ bao
gồm câu chuyện của riêng con, lịch sử cuộc đời con.

“Tại sao cha không kể cho con một lần cho hết tất cả sự thật
của câu chuyện để dứt khoát với nó, để con được biết đầy đủ? Câu trả lời, một
lần nữa, lại nằm ở sự yếu đuối của chính cha, và trên thực tế rằng tóm lược rồi
kể hết một lần sẽ là, chính xác là - một điều gây tác động quá mạnh. Cha không
đành lòng muốn con phải đau đớn như vậy, ngay cả khi nỗi đau đó chỉ bằng một
phần nhỏ của nỗi đau trong cha. Vả lại, có thể con sẽ không hoàn toàn tin nếu
cha kể hết ngay một lần, cũng như bản thân cha cũng đã hoài nghi phần nào câu
chuyện của thầy Rossi khi chưa đọc hết tập thư từ và tài liệu của thầy để lại.
Và, cuối cùng, trên thực tế có câu chuyện nào có thể được giản lược đến chỉ còn
các yếu tố có thực của nó cơ chứ? Do đó, cha sẽ dần kể câu chuyện của mình từng
bước một. Cha cũng phải thử phỏng chừng xem đến thời điểm khi những lá thư này
tới tay con thì cha đã kể những gì để không lặp lại chúng.”

Phỏng đoán của cha tôi không chính xác hoàn toàn, cha đã đi
trước một hai bước so với những gì tôi đã biết. Tôi u sầu nghĩ ngợi, có lẽ mình
sẽ không bao giờ được nghe kể về phản ứng của cha đối với quyết định bất ngờ
của Helen Rossi - cùng đi với cha trong cuộc tìm kiếm - hoặc các chi tiết thú
vị trong cuộc hành trình của họ từ New England đến Istanbul. Tôi thắc mắc không
biết họ đã xoay xở như thế nào để hoàn tất các thủ tục giấy tờ cần thiết, vượt
qua các rào cản do bất đồng về chính trị, thị thực nhập cảnh, hải quan? Liệu cha
có bịa ra chuyện này chuyện nọ với ông bà nội, hai cư dân Boston nhân hậu và
thông thái, về kế hoạch chuyến đi bất ngờ của mình? Cha và Helen có đến New
York ngay như đã hoạch định? Và họ có ngủ chung phòng ở khách sạn hay không?
Đầu óc tuổi thiếu niên của tôi không thể lý giải được chuyện bí ẩn này nhưng
cũng không thể thôi ưu tư thắc mắc về nó. Rốt cuộc, tôi đành bằng lòng với hình
ảnh hai người giống như các nhân vật trong những bộ phim được sản xuất vào thời
thanh xuân của họ: Helen kín đáo duỗi thẳng người dưới tấm chăn trên chiếc
giường đôi, cha thì khốn khổ gật gù trên chiếc ghế bành, chỉ cởi mỗi đôi giày
thôi - ngoài ra không còn gì khác, và ánh sáng của Quảng trường Thời Đại nhấp
nháy bên ngoài cửa sổ như mời mọc chuyện gió trăng.

“Sáu ngày sau khi thầy Rossi mất tích, cha và Helen bay đến
Istanbul từ phi trường Idlewild(1)_, vào một đêm đầy sương mù, đổi máy bay tại
Frankfurt. Chiếc máy bay thứ hai hạ cánh sáng hôm sau, chúng ta cùng các du
khách khác lũ lượt kéo nhau ra ngoài. Đến thời điểm đó cha đã đến Tây Âu được
hai lần, nhưng lần này, chuyến đi đối với cha dường như là cuộc du ngoạn từ
trái đất đến một hành tinh khác - Thổ Nhĩ Kỳ, vào năm 1954, là một thế giới
tách biệt hơn hiện nay nhiều. Chỉ một phút trước, cha còn co mình trên chiếc
ghế máy bay gò bó, lau mặt bằng khăn nóng, vậy mà giờ bọn ta đã đứng trên mặt
đường nhựa cũng nóng như vậy, với những mùi kỳ lạ phảng phất quanh mình, cùng
với gió bụi, và chiếc khăn quàng đang bay phần phật của một người Ả-rập đứng
xếp hàng phía trước - chiếc khăn cứ bay chọc vào miệng cha. Đứng bên cạnh cha,
Helen bật cười, quan sát vẻ ngạc nhiên của cha trước tất cả những thứ đó. Trên
máy bay, cô đã chải tóc, thoa lại son môi, và trông rất tươi tắn sau chuyến bay
đêm tù túng. Cô vấn quanh cổ một chiếc khăn quàng nhỏ; cha vẫn chưa thấy cái
dấu vết bên dưới chiếc khăn, nhưng cũng không dám yêu cầu cô gỡ khăn ra. “Chào
mừng đến thế giới vĩ đại, anh chàng người Mỹ,” cô nói, mỉm cười. Lần này là một
nụ cười thật sự, không phải nụ cười nhăn nhó thường thấy ở cô.

“Cha càng ngạc nhiên hơn trong suốt chuyến taxi trở về thành
phố. Cha không biết chính xác mình mong đợi gì ở Istanbul - có thể chẳng có gì
cả, vì cha không có nhiều thời gian để chuẩn bị cho chuyến đi - nhưng vẻ đẹp
của thành phố này đã chinh phục cha. Nó mang đậm chất huyền hoặc của Nghìn lẻ
một đêm mà dù bao nhiêu tiếng còi xe inh ỏi và hình ảnh của các doanh nhân
trong những bộ com lê Tây phương cũng không hề làm tan biến. Thành phố đầu tiên
của nơi đây, Constantinople, thủ phủ của đế chế Byzantine và thủ đô đầu tiên
của đế quốc La Mã Thiên Chúa giáo, thật sự nguy nga tráng lệ ngoài sức tưởng
tượng, cha nghĩ - một cuộc hôn phối giữa La Mã giàu có và chủ nghĩa thần bí
Thiên Chúa giáo thuở sơ khai. Cho đến lúc tìm thuê được phòng trong khu phố cổ
Sultanahmet, dù chỉ được nhìn thoáng qua, cha đã thấy hoa mắt trước hàng chục
ngôi thánh đường Hồi giáo cùng những ngọn tháp, những khu chợ treo đầy vải vóc
hảo hạng, thậm chí cả hình ảnh lướt qua của mái vòm đồ sộ và bốn ngọn tháp của
thánh đường Hagia Sophia sừng sững hiện ra bên trên bán đảo.

“Helen cũng chưa bao giờ đến đây, cô im lặng tập trung quan
sát mọi thứ, chỉ quay về phía cha một lần trong suốt chuyến taxi để nhận xét
rằng thật kỳ lạ làm sao khi được tận mắt thấy cội nguồn - cha chắc chắn cô đã
dùng từ này - của đế quốc Ottoman, cái cội nguồn đã để lại rất nhiều vết tích
trên xứ sở quê hương cô. Những nhận xét ngắn gọn, sắc sảo của Helen về đủ mọi
thứ đã trở thành âm hưởng chung của những ngày chúng ta sống ở đó: tên các địa
danh bằng tiếng Thổ, món xa lát dưa chuột ăn tại một nhà hàng ngoài trời, hình
dáng cong nhọn của một khung cửa sổ. Điều này cũng gây ra một tác động đặc biệt
với cha, một hình thức nhân đôi sự trải nghiệm của cha, vì vậy cùng một lúc
dường như cha được nhìn thấy cả Istanbul cả Rumani, và dần dần, khi câu hỏi
liệu chúng ta có nên đến chính Rumani hay không đặt ra giữa cha và Helen, cha
có cảm giác như đang được dẫn dắt đến xứ sở đó qua những món đồ tái tạo từ quá
khứ mà cha nhìn thấy trong đôi mắt của Helen. Nhưng cha đã lạc đề - đó là phần
sau của câu chuyện.

“Đằng sau ánh nắng chói chang và bụi bặm của đường phố là
gian tiền sảnh mát mẻ của nhà trọ. Cha khoan khoái thả người xuống một chiếc
ghế ở lối vào, mặc Helen đến liên hệ thuê hai phòng bằng thứ tiếng Pháp chuẩn
xác nhưng kỳ quặc của cô ấy. Bà chủ nhà trọ - một phụ nữ Armenia rất mến khách
và rõ ràng biết nhiều thứ tiếng - cũng không biết tên của khách sạn mà thầy
Rossi đã từng ở trước đây. Có lẽ nó đã biến mất từ nhiều năm trước.

“Helen thích điều hành mọi việc, cha thầm nghĩ, vậy tại sao
không để cô ấy được hài lòng? Một điều không được nói ra nhưng chắc chắn có sự
đồng ý dứt khoát giữa hai người là sau này cha sẽ thanh toán mọi khoản chi phí.
Cha đã rút hết tiền tiết kiệm tại ngân hàng ở quê nhà; thầy Rossi xứng đáng để
cha làm mọi điều có thể, thậm chí nếu có phải thất bại. Nếu trường hợp đó xảy
ra, cùng lắm cha cũng chỉ bị sạch túi khi về nhà. Cha biết Helen, một sinh viên
nước ngoài, chắc hẳn chẳng mấy dư dả. Cha nhận ra hình như cô chỉ có hai bộ
vest, chúng trông như được thay đổi bằng một loạt áo sơ mi được cắt may rất
khéo. ‘Vâng, chúng tôi muốn thuê hai phòng riêng nhưng ở sát bên nhau,’ cô nói
với người phụ nữ Armenia, một phụ nữ đứng tuổi nhưng trông vẫn rất có nét. ‘Anh
tôi - mon frère - ronfle kinh khủng.’

“ ‘Ronfle?’ cha hỏi với lên từ chỗ ngồi đợi.

“ ‘Ngáy,’ cô chanh chua đáp lại. ‘Anh biết đấy, đúng là anh
có ngáy mà. Ở New York tôi chẳng nháy mắt được chút nào.’

“ ‘Chợp mắt chứ,’ cha chỉnh lại.

“ ‘OK,’ cô nói. ‘Chỉ cần anh đóng cửa phòng thôi, s’il te
plaỵt - làm ơn.’

“Dù có ngáy hay không, cả Helen và cha đều ngủ vùi sau
chuyến hành trình mệt nhọc trước khi có thể làm bất cứ việc gì khác. Helen muốn
xuống trung tâm lưu trữ tư liệu ngay, nhưng cha khăng khăng muốn nghỉ ngơi thêm
và ăn uống trước đã. Vì vậy sau buổi trưa chúng ta mới bắt đầu thơ thẩn qua
những con đường chằng chịt đan xen nhau như những mê cung, thấp thoáng những
khu vườn và những mảnh sân nhỏ nhiều màu sắc.

“Thầy Rossi không nêu tên trung tâm lưu trữ này trong các lá
thư, và trong cuộc nói chuyện giữa cha và ông ấy, ông chỉ gọi nó là ‘kho tư
liệu ít người biết đến, do Quốc vương Mehmed II lập ra’. Lá thư nói về cuộc
nghiên cứu của ông tại Istanbul đã bổ sung thêm chi tiết là trung tâm đó nằm
sát bên một nhà thờ Hồi giáo thế kỷ mười bảy. Ngoài chi tiết này, chúng ta còn
biết ông ấy có thể nhìn thấy thánh đường Hagia Sophia từ một cửa sổ, và trung
tâm lưu trữ này có hơn một tầng lầu, ở tầng trệt có một cánh cửa mở trực tiếp
ra đường. Cha đã cẩn thận thử đi tìm thông tin về một trung tâm lưu trữ tư liệu
như vậy tại thư viện trường đại học ở quê nhà, ngay trước khi khởi hành, nhưng
không có kết quả. Cha thắc mắc không hiểu tại sao thầy Rossi không nêu tên
trung tâm lưu trữ tư liệu trong các lá thư; bỏ quên một chi tiết thế này thật
không giống ông chút nào, nhưng có lẽ vì ông không muốn nhớ đến nó. Cha có mang
theo tất cả giấy tờ tài liệu của ông trong cặp, kể cả bảng danh mục tài liệu mà
ông đã tìm được ở đó, cùng với một dòng ghi chú kỳ lạ chơi vơi ở cuối: ‘Thư
mục, Giáo đoàn Rồng.’ Lùng sục khắp cả thành phố, một mê cung đầy những mái vòm
và các ngọn tháp, để tìm nguồn gốc của dòng chữ viết tay khó hiểu của thầy
Rossi quả là một triển vọng không mấy phấn khởi, nói vậy đã là giảm đi rất
nhiều rồi.

“Việc duy nhất mà Helen và cha có thể thực hiện là quay về
một điểm mốc, thánh đường Hagia Sophia, nguyên thủy là nhà thờ Saint Sophia(2)_
vĩ đại thuộc giáo hội Byzantine. Và khi đến gần địa điểm đó, chúng ta không thể
không bước vào. Những cánh cổng đều rộng mở và điện thờ uy nghi đã lôi kéo
chúng ta hòa vào giữa các du khách khác, tựa như đang trôi theo con sóng vào
một hang động. Trong suốt một ngàn bốn trăm năm qua, cha thầm nghĩ, những người
hành hương vẫn luôn bị cuốn hút vào trong đó, như chúng ta hiện giờ. Bên trong,
cha đi chầm chậm đến khu vực chính giữa, ngửa đầu nhìn lên khoảng không gian
thiêng liêng và bao la với những mái vòm và khung vòm nổi tiếng khiến người ta
chóng mặt ấy, thứ ánh sáng từ thiên đàng tràn vào nó, những tấm khiên tròn đầy
những con chữ Ả-rập treo bên trên các góc, những đặc điểm của thánh đường Hồi
giáo phủ lên nhà thờ Thiên Chúa giáo, nhà thờ Thiên Chúa giáo phủ lên tàn tích
của thế giới cổ đại. Khoảng không gian đó uốn cong lên cao, cao vút phía trên
chúng ta, như muốn tái tạo vũ trụ của đế quốc Byzantine. Cha hầu như không tin
là mình đã có mặt ở đó. Nó khiến cha quá sững sờ.

“Từ khoảnh khắc đó nhìn ngược về quá khứ, cha hiểu rằng mình
đã sống quá lâu trong thế giới sách vở, trong khuôn viên chật hẹp của trường
đại học, đến mức cha đã dần bị cách sống đó ức chế từ bên trong. Đột nhiên, trong
ngôi nhà của đế chế Byzantine âm vang tiếng dội này - một trong các kỳ quan của
lịch sử - tinh thần của cha như được tháo cũi sổ lồng. Ngay giây phút đó, cha
đã biết dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra, cha cũng sẽ không bao giờ trở lại với
những điều kìm kẹp xưa cũ kia nữa. Cha muốn lên tầm cao cuộc sống, trải lòng ra
với nó, như cái cách mà khoảng không gian rộng lớn bên trong này cuộn dâng lên
cao và trải rộng ra bên ngoài. Lòng cha như cũng trào dâng cùng với nó, một cảm
giác chưa từng có trong suốt thời gian lang thang giữa các thương nhân trong đề
tài nền thương mại Hà Lan thế kỷ mười bảy.

“Cha liếc nhìn Helen và thấy cô cũng xúc động hệt như cha,
ngửa đầu lên mải mê nhìn ngắm, những lọn tóc đen buông lơi trên cổ áo sơ mi,
gương mặt cô bình thường vốn cảnh giác và châm chọc lúc này bừng lên trong sự
thấu ngộ. Cha bất chợt đưa tay ra, nắm lấy bàn tay cô. Helen cũng siết chặt tay
cha, cũng với bàn tay rắn chắc, xương xương mà cha vẫn biết qua những lần bắt
tay chào hỏi. Ở một người phụ nữ khác, đây có thể là một cử chỉ phục tùng hoặc
làm dáng, một sự ngầm bằng lòng có tính lãng mạn; ở Helen nó chỉ là một cử chỉ
đơn giản và mãnh liệt như cái nhìn chằm chằm hay thái độ tách biệt đã trở thành
đặc điểm của cô. Sau một lát, dường như chợt tỉnh, cô buông tay cha ra, nhưng
không hề lộ vẻ bối rối, và chúng ta lại cùng nhau rảo bước trong nhà thờ, ngắm
nhìn cái bục giảng xinh đẹp, làm bằng đá cẩm thạch byzantine sáng lấp lánh. Cha
phải cố gắng lắm để tự nhắc nhở rằng chúng ta có thể quay lại Hagia Sophia bất
cứ lúc nào trong thời gian còn ở lại Istanbul, và công việc trước hết của chúng
ta ở thành phố này là tìm cho ra cái trung tâm lưu trữ tư liệu kia. Rõ ràng
Helen cũng có cùng một suy nghĩ, vì khi cha rảo bước về hướng lối ra thì cô
cũng vậy, và chúng ta lại len lỏi qua những đám đông, bước ra đường phố.

“ ‘Kho lưu trữ ấy có thể ở khá xa nơi này,’ cô nhận xét.
‘Thánh đường Saint Sophia quá lớn, tôi cho rằng hầu như người ta có thể nhìn
thấy nó từ bất cứ tòa nhà nào trong khu vực này của thành phố, hoặc thậm chí
ngay cả từ phía bên kia kênh Bosphorus(3)._’

“ ‘Tôi biết. Chúng ta phải tìm vài manh mối khác. Những lá
thư cho biết là trung tâm lưu trữ này nằm gần sát một thánh đường Hồi giáo thế
kỷ mười bảy.’

“ ‘Thành phố này đầy nhóc các thánh đường Hồi giáo.’

“ ‘Phải.’ Cha lấy tay dò cuốn sách hướng dẫn vừa mới mua một
cách vội vàng. ‘Hãy bắt đầu với cái này - Đại Thánh đường của Quốc vương.
Mehmed II và triều đình ông ta có lẽ từng đến đó tế lễ đôi lần - thánh đường
này được xây dựng vào cuối thế kỷ mười lăm, và theo logic thì nơi đây rất có
thể là nơi lân cận với thư viện mà thầy Rossi đã đến, cô có nghĩ như vậy
không?’

Báo cáo nội dung xấu