Truy tìm Dracula - Chương 27 phần 1
Chương 27
Barley ngồi trầm ngâm trong cabin của chúng tôi, cằm tì lên
đôi bàn tay có những ngón tay thon dài, cố gắng nhớ lại chuyện gì đó về thầy
James - nhưng chỉ hoài công. Cuối cùng anh nhìn tôi, và tôi chợt sững sờ trước
vẻ đẹp gương mặt anh, một khuôn mặt xương xương, tươi tắn ngay cả khi đang
nghiêm nghị. Nếu không có vẻ vui nhộn khá lộ liễu kia, đó có thể là gương mặt
của một thiên thần, hay của một vị tu sĩ khắc kỷ trong một tu viện vùng
Northumberland. Lúc đó, tôi chỉ lờ mờ cảm nhận những so sánh này, phải đến sau
này chúng mới hiện ra rõ ràng với tôi.
“Được rồi,” cuối cùng anh thốt lên, “như anh nhận thấy, có hai
khả năng. Hoặc em đã bồng bột, trong trường hợp này anh sẽ phải theo sát và đưa
em trở về nhà an toàn, ngược lại nếu không phải thế, trong trường hợp này em sẽ
phải đối đầu với rất nhiều rắc rối, và như vậy, kiểu gì anh cũng vẫn phải sát
cánh với em. Mai anh phải dự một bài giảng, nhưng anh sẽ tìm cách đối phó.” Anh
thở dài liếc nhìn tôi, ngả người tựa vào thành ghế. “Anh
nghĩ Paris không phải là điểm đến cuối cùng của em. Em có thể cho anh
biết sau đó em sẽ đi đâu chứ?”
“Nếu tại cái bàn dễ chịu trong quán ăn
ở Istanbul này, giáo sư Bora tát vào mặt cha và Helen mỗi người một
cái, có lẽ chúng ta cũng không kinh ngạc bằng khi nghe ông ta tiết lộ cái ‘sở
thích quái gở’ của mình. Tuy nhiên đây là một cái tát có tác dụng tốt; lúc này
chúng ta đã hoàn toàn tỉnh táo. Trạng thái lừ đừ sau chuyến bay dài không còn
nữa, và cùng với sự tỉnh táo này là cảm giác muốn tìm kiếm thêm thông tin về
ngôi mộ của Dracula đến tuyệt vọng. Bọn ta đã đến đúng nơi. Có lẽ - tim cha đập
rộn lên, không chỉ vì hy vọng - có lẽ mộ của Dracula nằm ngay tại Thổ Nhĩ Kỳ.
“Cha chưa từng nghĩ thế bao giờ, nhưng giờ cha nghĩ có thể
điều đó có lý. Xét cho cùng, ở đây thầy Rossi đã từng bị một trong những tên
tay sai của Dracula gay gắt cảnh cáo. Có thể nào lũ ma cà rồng không chỉ canh
giữ trung tâm lưu trữ mà còn cả ngôi mộ? Sự hiện diện rõ ràng của lũ ma cà rồng
mà Turgut đang đề cập phải chăng chỉ là một hệ lụy của việc bọn đệ tử của
Dracula vẫn liên tục chiếm cứ thành phố này? Cha rà soát một lượt những gì đã
biết về sự nghiệp và huyền thoại về Vlad Kẻ Xiên Người. Nếu đã từng bị giam giữ
ở nơi này trong thời trai trẻ, liệu có thể sau khi chết hắn quay trở lại nơi đã
học những bài học vỡ lòng về nghệ thuật hành hạ con người? Có thể hắn đã có một
tâm trạng kiểu như hoài cổ về nơi này, giống như người ta thường lui về nghỉ
hưu ngay tại nơi họ đã lớn lên. Và nếu có thể tin được các ghi chép về thói
quen của ma cà rồng trong tiểu thuyết của Stoker, thì tên quỷ dữ này chắc chắn
đã có thể rời bỏ nơi chốn nào đó để đến một nơi khác, xây mộ cho mình ở bất cứ
nơi nào hắn thích; trong cuốn tiểu thuyết đó, hắn đã nằm trong quan tài được di
chuyển đến nước Anh. Vậy tại sao hắn lại không thể di chuyển đến Istanbul cơ
chứ, vào ban đêm, sau khi chết như một con người, di chuyển vào ngay trung tâm
của chính đế quốc của đoàn quân đưa hắn tới chỗ chết? Xét cho cùng, đây cũng là
một sự trả thù thích đáng đối với đế chế Ottoman.
“Nhưng cha chưa thể nêu ra với giáo sư Turgut bất kỳ câu hỏi
nào. Helen và cha chỉ vừa mới gặp người đàn ông này, và cha vẫn còn băn khoăn
tự hỏi liệu có thể tin được ông ta hay không. Ông ta có vẻ thành thật, nhưng
việc ông ta chuyển sang ngồi cùng bàn chúng ta rồi tiết lộ cái ‘sở thích’ ấy
vẫn quá kỳ quặc để có thể chấp nhận ngay. Bây giờ Turgut đang trò chuyện với
Helen, cuối cùng cô cũng đã chịu nói chuyện với ông ta. ‘Không, thưa cô, thực
ra tôi không biết “mọi thứ” về chuyện Dracula đâu. Thú thật, kiến thức của tôi
còn lâu mới đủ sức thuyết phục. Nhưng tôi ngờ là hắn đã có một ảnh hưởng quan
trọng đối với thành phố chúng tôi, ở khía cạnh độc ác xấu xa, và chính vì vậy
tôi vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề. Còn các bạn, những người bạn của
tôi?’ Ông ta đưa ánh mắt sắc sảo, liếc nhìn từ Helen qua cha. ‘Dường như các
bạn có phần quan tâm đến chủ đề của tôi. Chính xác thì luận văn của anh bạn là
về chủ đề gì, anh bạn trẻ?’
“ ‘Chủ nghĩa trọng thương của Hà Lan vào thế kỷ mười bảy,’
cha ấp úng trả lời. Dù sao chăng nữa nghe chẳng tự nhiên chút nào, rồi cha bắt
đầu băn khoăn tự hỏi liệu đây có phải là một cố gắng khá nhạt nhẽo. Xét cho
cùng, các thương nhân Hà Lan, hàng thế kỷ qua cũng đâu có rình mò tấn công và
đánh cắp linh hồn bất tử của con người.
“ ‘À.’ Cha nghĩ Turgut có vẻ bối rối. ‘Chà,’ cuối cùng ông
ta thốt lên, ‘nếu các bạn cũng quan tâm đến lịch sử Istanbul, thì sáng mai các
bạn có thể đến cùng tôi đi chiêm ngưỡng bộ sưu tập của Quốc vương Mehmed. Ông
ta là một bạo chúa tuyệt vời - đã sưu tập nhiều thứ rất thú vị, ngoài ra còn có
các tài liệu ưa thích của tôi. Trễ quá rồi, bây giờ tôi phải về nhà với vợ đây,
nếu không bà ấy sẽ lo lắng muốn chết mất.’ Ông ta mỉm cười, tựa như chờ mong
được thấy tâm trạng của bà vợ vui vẻ chứ không phải ngược lại. ‘Cũng như tôi,
chắc chắn bà ấy sẽ mong các bạn đến dùng bữa tối cùng chúng tôi vào ngày mai.’
Cha ngẫm nghĩ về lời mời này một lúc lâu; chắc hẳn các bà vợ người Thổ vẫn còn
ngoan ngoãn dễ bảo như các cung nữ hậu cung trong huyền thoại. Hay ông ta chỉ
hàm ý vợ ông ta cũng hiếu khách như ông? Cha chờ tiếng khịt mũi của Helen,
nhưng cô vẫn ngồi im, giương mắt nhìn hai người bọn ta. ‘Thế nhé, các bạn…’
giáo sư Turgut vừa nói vừa thu xếp đứng lên ra về. Cha không biết từ đâu đó ông
ta đã rút ra và nhét một ít tiền dưới đĩa thức ăn của mình. Sau đó, nâng ly
chúc mừng bọn ta lần cuối và uống cạn phần trà còn lại. ‘Tạm biệt và hẹn gặp
lại ngày mai.’
“ ‘Chúng tôi sẽ gặp lại ông ở đâu?’ cha hỏi.
“ ‘Ồ, tôi sẽ quay trở lại đây để đón các bạn. Chính xác vào
lúc mười giờ sáng ở đây, được chứ? Tốt lắm. Chúc các bạn một buổi tối vui vẻ.’
Ông ta cúi chào rồi bước ra. Một phút sau, cha mới nhận ra ông ta hầu như chưa
hề ăn bữa tối, đã trả tiền ăn cho mình và cho cả chúng ta, và đã để lại cho bọn
ta một cái bùa chống lại Con Mắt Quỷ, đang ngời sáng giữa tấm khăn trải bàn
trắng toát.
“Tối hôm đó cha ngủ như chết, như người ta thường nói, sau
chuyến du hành và cuộc tham quan mệt bã người. Đã sáu giờ ba mươi khi những âm
thanh của thành phố đánh thức cha dậy. Căn phòng nhỏ lờ mờ sáng. Ngay khi vừa
tỉnh ngủ, cha nhìn quanh những bức tường quét vôi trắng, đồ đạc trong phòng
trông đơn giản và có gì đó xa lạ, ánh sáng phản chiếu yếu ớt trên tấm gương
treo phía trên giá rửa mặt, cha cảm thấy đầu óc lẫn lộn lung tung. Cha nghĩ đến
việc lưu trú của thầy Rossi ở đây - tại Istanbul, thời gian ông cư ngụ tại một
khách sạn nhỏ nào đó - nó nằm ở đâu nhỉ? - nơi hành lý của ông bị lục soát và
các tấm bản đồ phác thảo quý giá bị lấy mất, cha hồi tưởng lại việc đó cứ như
chính mình đã hiện diện ở đó, hoặc đang tự trải qua cảnh ấy ngay lúc này. Một
lát sau cha mới nhận ra tất cả mọi thứ trong phòng đều bình thường, ngăn nắp;
chiếc va li vẫn để trên bàn, không bị xáo trộn, và - quan trọng hơn - cái cặp
xách với các tài liệu quý giá bên trong vẫn nằm nguyên bên giường ngủ, nơi cha
có thể với tay đến, chạm vào nó. Ngay cả trong giấc ngủ, không hiểu vì sao cha
vẫn cảm nhận được cuốn sách cổ xưa kia, im lặng nằm trong đó.
“Hiện tại, cha có thể nghe tiếng động của Helen trong phòng
tắm, tiếng nước chảy và tiếng đi tới lui. Sau một lát, cha cảm thấy xấu hổ vì
nhận ra việc này có thể bị đánh giá là một sự rình mò đối với cô. Để khỏa lấp
cảm giác này, cha vội ngồi dậy, đổ nước vào chậu rửa mặt và bắt đầu tạt nước
lên mặt và cánh tay. Nhìn trong gương, khuôn mặt cha - trẻ trung biết bao vào
những ngày ấy, chính cha cũng nhận thấy điều đó, con gái thân yêu của cha, có
lẽ cha không biết phải mô tả với con thế nào - vẫn như thường lệ. Đôi mắt cha
tuy hơi lờ đờ sau chuyến hành trình, nhưng vẫn lanh lợi. Cha làm bóng tóc với
một chút dầu thông dụng của thời kỳ đó, chải hất ra phía sau sao cho thật ẹp
xuống và thật láng mướt, và mặc quần áo vào - quần và áo khoác nhăn nhúm, áo sơ
mi và cà vạt khá sạch, dù cũng hơi nhăn. Lúc đang soi gương để vuốt thẳng cà
vạt, cha không còn nghe tiếng động trong phòng tắm, và một lát sau cha lấy ra
bộ đồ cạo râu rồi khẽ gõ nhẹ vào cánh cửa. Cha mở cửa bước vào khi không nghe
có tiếng trả lời. Mùi thơm của Helen, một loại nước hoa Cologne rẻ tiền, mùi
khá gắt, có lẽ được cô mang theo từ nhà, còn phảng phất trong gian phòng nhỏ
bé. Cha gần như bắt đầu thấy thích mùi hương đó.
“Bữa ăn sáng ở nhà hàng là cà phê đậm - rất đậm - được pha
sẵn trong một bình bằng đồng có cán dài, dùng với bánh mì, pho mát mặn và quả ô
liu, kèm theo một tờ báo mà chúng ta không thể đọc được. Helen im lặng ăn uống,
cha ngồi trầm ngâm, hít hà hương thuốc lá bay đến từ khu dành cho nhân viên
phục vụ. Sáng hôm đó, nhà hàng vắng tanh, chỉ có một vài tia nắng rọi qua các
khung cửa sổ cong cong, nhưng cảnh người xe hối hả bên ngoài đã đổ đầy không
gian trong này những âm thanh vui tai và hình ảnh vụt qua của những người hoặc
ăn vận đồ công sở hoặc xách hàng giỏ đồ mua ở chợ. Theo bản năng, chúng ta đã
chọn một bàn xa cửa sổ nhất.
“ ‘Phải hai tiếng nữa ông giáo sư mới đến,’ Helen nhận xét,
cho thêm đường vào ly cà phê thứ hai và khuấy mạnh. ‘Chúng ta làm gì bây giờ
nhỉ?’
“ ‘Tôi nghĩ chúng ta có thể tản bộ trở lại thánh đường Hagia
Sophia,’ cha nói. ‘Tôi muốn thăm lại nơi ấy một lần nữa.’
“ ‘Tại sao lại không nhỉ?’ cô thì thầm. ‘Trong lúc chúng ta
còn ở đây thì làm du khách cũng đâu có sao.’ Cô trông có vẻ thanh thản, và cha
để ý cô mặc chiếc áo sơ mi sạch sẽ màu xanh nhạt cùng chiếc áo vest đen, màu
sắc đầu tiên mà cha nhìn thấy, một ngoại lệ so với loại quần áo chỉ có hai màu
trắng đen thường thấy ở cô. Như thường lệ, cô quấn một khăn quàng nhỏ quanh cổ,
chỗ vết cắn của gã thủ thư. Gương mặt cô đượm vẻ mỉa mai và cảnh giác, nhưng
cha có cảm giác - dù không có bằng chứng rõ rệt - cô đã quen với sự hiện diện
của cha ở đối diện bên kia bàn, gần như đến mức giảm bớt phần nào tính khí dữ
tợn của cô.
“Lúc chúng ta ra khỏi quán, đường sá đầy người và xe cộ,
Helen và cha thơ thẩn giữa đám người đó qua trung tâm thành phố cổ, bước vào
một khu chợ. Lối đi giữa các sạp hàng đầy ắp người đi mua sắm - những phụ nữ
lớn tuổi mặc đồ đen, đứng mân mê những tấm vải đẹp đủ màu; đám phụ nữ trẻ mặc
áo quần sặc sỡ, trùm kín đầu, đang cò kè mặc cả để mua những thứ trái cây mà
cha chưa bao giờ trông thấy, hoặc đang săm soi những khay trang sức bằng vàng;
đám đàn ông lớn tuổi với những chiếc mũ đan trên đỉnh đầu hói nhẵn hoặc bạc
trắng đang đọc báo hoặc khom người xem xét những chiếc tẩu gỗ có hình khắc
chạm. Một số cầm chuỗi tràng hạt trong tay. Nhìn đâu cha cũng thấy những gương
mặt da màu ô liu đẹp đẽ, sắc sảo, rắn rỏi, những đôi tay ra hiệu, ngón tay chỉ
trỏ, những nụ cười sáng lóa đôi lúc lại lộ ra một chiếc răng vàng sáng chói.
Xung quanh, cha nghe ầm ĩ đủ thứ giọng tranh cãi dứt khoát, hùng hồn, đôi lúc
xen vào tiếng cười.
“Helen bối rối, miệng trễ xuống thành một nụ cười ngược,
nhìn những kẻ xa lạ quanh mình kia, tựa như họ đã làm cô hài lòng, nhưng cũng
tựa như cô nghĩ là cô hiểu bọn họ rất rõ. Đối với cha, đây là một quang cảnh
thú vị, nhưng đồng thời cha cũng cảm thấy cần phải cảnh giác, một cảm giác mà
cha đã có từ gần một tuần nay, một cảm giác mà trong những ngày này ở bất kỳ
nơi công cộng nào cha cũng cảm thấy. Đó là một cảm giác săm soi tìm hiểu đám
đông, liếc mắt ngang qua vai, dò xét những gương mặt để đánh giá chúng có ý
định tốt hay xấu - và có lẽ cũng là cảm giác đang bị theo dõi. Đó là một cảm
giác khó chịu, một nốt chói tai trong bản hòa âm những cuộc chuyện trò sống động
xung quanh, và không phải là lần đầu tiên cha băn khoăn tự hỏi phải chăng Helen
đã lây sang cha một phần nào đó thái độ hoài nghi đối với con người? Cha cũng
thắc mắc liệu thái độ đó trong cô là bản chất hoặc đơn giản chỉ là hậu quả tất
nhiên của cuộc sống cô trong chế độ cảnh sát trị.
“Dù nguồn gốc của thái độ ấy là gì chăng nữa, cha cũng cảm
nhận tính đa nghi hiện nay như một sự sỉ nhục đối với bản ngã trước đây của
mình. Một tuần trước cha còn là một nghiên cứu sinh Mỹ bình thường, bằng lòng
với công việc dù chưa được như ý của mình, tận hưởng cảm giác về sự phồn vinh
và tính ưu việt của nền văn hóa của mình ngay cả trong lúc làm ra vẻ nghi ngờ
nó và mọi thứ khác. Hiện tại, Chiến tranh Lạnh là có thực đối với cha, hiện
diện trong con người của Helen và thái độ vỡ mộng của cô, và cha chợt cảm thấy
một cuộc chiến tranh lạnh xa xưa hơn trong chính huyết quản của cha. Cha nghĩ
đến thầy Rossi, hẳn thầy đã đi qua những đường phố này vào mùa hè năm 1930
trước cái lần mạo hiểm trong trung tâm lưu trữ đã buộc thầy phải nháo nhào chạy
khỏi Istanbul, và thầy cũng là người có thực đối với cha - không chỉ là giáo sư
Rossi như cha biết mà cũng còn là chàng trai trẻ Rossi trong những lá thư thầy
viết vào thời ấy.
“Helen vỗ lên tay cha khi chúng ta bước đi và hất đầu chỉ về
hướng hai ông già đang ngồi tại một bàn gỗ nhỏ khuất sau một ki ốt gần đó.
‘Nhìn kìa - lý thuyết về sự nhàn rỗi của anh thực sự hiện diện bằng xương bằng
thịt kia kìa,’ cô nói. ‘Mới chín giờ sáng mà họ đã chơi cờ rồi. Điều kỳ lạ là
không phải họ đang chơi tabla(1)_ - trò được ưa thích ở khu vực này của thế
giới. Thay vì tabla, họ chơi cờ vua.’ Đúng là hai người đàn ông sắp các quân cờ
lên bàn cờ gỗ cũ. Quân đen đấu với quân trắng, mã và xe bảo vệ vua của mình,
tốt được dàn đối diện nhau sẵn sàng chiến đấu - cùng một cách dàn trận trong
chiến tranh trên khắp thế giới, cha ngẫm nghĩ, thôi không nhìn nữa. ‘Anh biết
chơi cờ chứ?’ Helen hỏi.
“ ‘Lẽ dĩ nhiên,’ cha nói, hơi gắt giọng. ‘Tôi thường chơi cờ
với cha tôi.’
“ ‘Vậy à.’ Âm thanh nghe chua chát, cha chợt nhớ ra nhưng đã
quá muộn rằng cô không có được những bài học thời thơ ấu như vậy, và rằng cô
đang chơi ván cờ của chính mình với cha cô - đúng hơn là với hình ảnh cô hình
dung về ông. Nhưng dường như giờ cô lại đang mải mê với những hồi tưởng về lịch
sử. ‘Anh biết không, đây không phải là trò chơi phương Tây - nó là một trò chơi
xa xưa có nguồn gốc từ Ấn Độ - ở Ba Tư còn gọi là shahmat. Phát âm gần giống
như checkmate - chiếu tướng trong tiếng Anh, tôi đoán vậy. Shah nghĩa là vua.
Một cuộc chiến giữa các vị vua.’
“Cha nhìn hai người đàn ông đang bắt đầu cuộc chơi, những
ngón tay xương xẩu lựa chọn các chiến binh đầu tiên. Những lời nói đùa trao đổi
qua lại - có lẽ họ là những người bạn vong niên. Cha có thể đứng đó suốt cả
ngày, quan sát ván cờ, nhưng Helen đã nôn nóng bỏ đi nên cha bước theo. Khi
Helen và cha đi ngang qua, có vẻ như hai người đàn ông này lần đầu tiên để ý
đến bọn ta, thoáng nhìn lên với ánh mắt dò hỏi. Cha chợt nhận ra, chắc hẳn
chúng ta trông giống những người ngoại quốc lắm, dù gương mặt Helen trông chẳng
khác gì những khuôn mặt xung quanh. Cha băn khoăn tự hỏi không biết ván cờ của
họ kéo dài bao lâu - có thể suốt cả buổi sáng - và lần này ai trong số họ sẽ là
người thắng cuộc.
“Ki ốt gần chỗ họ ngồi vừa mở cửa. Thực ra đó là một nhà
kho, khuất dưới một cây sung cổ kính, ở ngoài rìa khu chợ. Một thanh niên mặc
áo trắng, quần màu sậm đang ra sức kéo các cánh cửa và màn che ki ốt, kê những
chiếc bàn ra bên ngoài để bày hàng hóa - sách - của anh ta ra. Sách chất đống
trên các quầy gỗ, nhô ra khỏi những thùng thưa dưới sàn, xếp thành hàng kín các
kệ bên trong.
“Cha hăm hở bước tới, chàng thanh niên mỉm cười gật đầu
chào, tựa như anh ta nhận ra một người ham mê sách, dù cho đó là người quốc
tịch gì. Helen đi chậm lại phía sau, chúng ta đứng lật xem các quyển sách, viết
bằng hàng chục thứ tiếng khác nhau. Phần lớn là chữ Ả-rập, hoặc tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ hiện đại; một số thì bằng chữ Hy Lạp hoặc Kirin, một số khác viết bằng tiếng
Anh, Pháp, Đức, Ý. Cha tìm được một quyển tiếng Do Thái và nguyên một kệ toàn
là sách tiếng Latin kinh điển. Phần lớn là sách in rẻ tiền và đóng bìa tồi,
phần vải bọc bìa của chúng cũng sờn rách trong quá trình sử dụng. Cũng có những
cuốn sách bìa mềm mới với bìa in những cảnh ghê rợn, và vài quyển sách trông
rất xưa, đặc biệt một số cuốn viết bằng tiếng Ả-rập. ‘Người Byzantine cũng yêu
thích sách,’ Helen thì thầm trong lúc lật xem cái gì đó giống như một tập thơ
Đức. ‘Có lẽ họ đã mua sách ngay chỗ này.’
“Chàng thanh niên đã dọn hàng xong, và anh ta đến chào hỏi
chúng ta. ‘Tiếng Đức hay tiếng Anh?’
“ ‘Tiếng Anh,’ cha nhanh chóng đáp lại, vì Helen không mở
miệng.

